Đăng bởi: congluat | Tháng Tư 30, 2012

Vạn pháp kinh bất đoạn hệ thống tổng thể

09/11/2011
Vạn pháp kinh bất đoạn hệ thống tổng thể
Chúng ta đã học Duy ngã vạn pháp kinh biết rằng: Duy ngã vạn pháp kinh là thống nhất chỗ tính thể hợp chiếu, tâm vật hội tụ. Và luôn luôn không tách rời tổng thể hàm hoa để hóa. Nên định nghĩa Duy ngã vạn pháp kinh là kinh quỹ tổng thể của hệ thống vũ trụ là bản chất của hệ thống tổng thể hàm hoa, từ siêu vi đến cực vi, từ siêu đại đến cực đại đều không có thể tách hệ thống tổng thể của vũ trụ. Vì sao nó có được điều đó? Thứ nhất vì bản chất của giá trị bất đoạn nó nằm ở giá trị tổng thể từ tính và thể, tâm và vật và tổng hàm hoa siêu sắc năng hóa sắc năng không bao giờ tách rời ra. Thứ hai: Vì Duy ngã vạn pháp kinh bất đoạn chân tính vạn năng. Như vậy ta thấy rằng duy ngã vạn pháp hoàn toàn đứng trên giá trị bất biến. Nghĩa là lập thể biến đổi là biến đổi về mặt chuyển động và hình thành quỹ đạo. Chứ không biến đổi về giá trị tổng thể tinh hoa và không làm suy giảm giá trị tinh hoa ấy. Chính vì đó mà nói về mặt biện chứng cũng như siêu chứng chúng ta có quyền nói: duy ngã vạn pháp bất đoạn chân tính vạn năng, duy ngã vạn pháp bất ly âm dương vạn tỏa . Chính từ chỗ bất đoạn bất ly ấy mà ta thấy duy ngã vạn pháp hay duy ngã đại thể là có bản chất vạn hóa chân tính quanh minh.
Nghĩa của vạn hóa ở đây là thể hiện về giá trị tiết tấu và minh định của kho tàng vạn năng, cũng như về vạn hạnh. Tức là đối xứng giữa vạn hạnh với vạn năng, hay đối xứng giữa vạn hạnh với vạn pháp. Nên mới nói rằng: Duy ngã vạn hóa chân tính quanh minh, hay duy ngã tịch chiếu hội tụ tâm vật.
Vì một khi duy ngã hóa đạt chỗ tịch chiếu thì nó làm cho tâm vật tụ về một gốc. Khi chúng ta có được cái đó rồi thì duy ngã viên chân pháp thân bất hoại. Đó là sự viên mãn của hệ thống duy ngã.
Nghĩa của viên chân ở đây là mọi giá trị tinh hoa chân chính nhất, tột đỉnh nhất đều được trọn vẹn trong một thể tính của hình tròn. Nghĩa của viên còn là viên giác, viên mãn, là tròn đủ một cách triệt để mang tính tuyệt đối. Chính từ đạt chỗ viên chân mà có pháp thân bất hoại. Ví như viên kim cương nó tròn đủ tổng thể tinh hoa hóa. Tức nó đã hóa từ sữa tinh hoa kim cương chuyển qua thể rắn kim cương rồi thì không còn hoại nữa.
Như vậy, từ đâu mà có được duy ngã viên chân pháp thân bất hoại là từ chỗ duy ngã bất đoạn hệ thống mà có được.
Nghĩa của đoạn, thí dụ như: Thứ nhất, Thiên Chúa giáo người ta áp đặc tổng trình của Thánh kinh lên hệ thống 3 ngôi (Chúa Cha, Chúa con, Chúa Thánh thần) và đối với nhân loại thì không được ở trong 3 ngôi đó. Thì đó là đoạn hệ thống, vì nó tách đoạn ra giữa hệ thống 3 ngôi ấy là không có liên quan đến chúng sinh. Thứ hai, như duy vật biện chứng là họ chỉ đứng trên tinh thần thống nhất về vật chất. Cho rằng vật chất quyết định ý thức, khi vật chất tan biến thì ý thức cũng mất đi, như thế là đoạn. Thứ ba, như duy tâm trừu tượng, mê tín không xác định được hệ thống ngồn gốc trung tâm. Dẫn đến đánh đổ hệ thống khoa học và làm mất đi tính cơ cấu thống nhất của hệ thống vũ trụ thì đó cũng bị đoạn. Còn duy ngã là bất đoạn vì sao? Vì hệ thống tổng thể của Duy ngã vạn pháp kinh là tròn đủ tính và thể, tâm và vật, cùng thống nhất với vũ trụ không hai, nên lấy đó làm đại diện cho độc tôn. Và Như Lai nhân độc tôn đó mà thành Phật.
Như vậy, Như Lai thành Phật là do độc tôn của hệ thống tổng thể duy ngã đại thể và Duy ngã vạn pháp kinh. Độc tôn ấy là một hệ thống liên tịch từ thống thức chân quang, trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa, vật luật tuần hoàn, duy ngã vạn pháp, tâm vật hội tụ. Tất cả những kho tàng ấy nó trở thành độc tôn của muôn loài.
Thế thì chỉ có vũ trụ Thống hóa là độc tôn, nhưng phải có cơ cấu hệ thống duy ngã vạn pháp, phải có kho tàng cửu kinh minh triết và có đầy đủ tất cả tổng hàm hoa mới có thể độc tôn.
Ta thấy Duy ngã vạn pháp kinh bất đoạn thì duy ngã đại thể là thừa hưởng khi tàng của Duy ngã vạn pháp kinh đó thì bản chất duy ngã đại thể cũng là bất đoạn. Duy ngã đại thể bất đoạn là do chủ tính ánh sáng vô biên và quyền nằng của hệ thống vạn năng không giới hạn và sức mạnh của oai âm dương vạn tỏa cũng không có biên giới hằng đến với muôn loài, như âm dương phối hợp cả vạn loại. Đó là tính bất đoạn thống nhất của giá trị hệ thống tổng thể hóa vũ trụ. Như vậy giữa tương đối và tuyệt đối được sống trong một quỹ đạo bất đoạn. Giá trị ấy đã trở thành một bảo tàng trong sự nghiệp hóa để giúp cho chúng ta từ tương đối đi đến tuyệt đối. Thế thì Duy ngã vạn pháp kinh là một hệ thống thống nhất, bất đoạn mang tính tất yếu của hệ thống Thống hóa mà giá trị vô cùng của vũ trụ ấy đã hình thành duy ngã đại thể, thì trong định luật ấy là bất đoạn của kho tàng Duy ngã vạn pháp kinh.
Ngài bảo ông Chơn Khải Nhất Linh phát biểu.
Ông Chơn Khải Nhất Linh: Duy ngã vạn pháp kinh bất đoạn hệ thống tổng thể vì trong vạn pháp từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều có âm và dương. Đối với duy ngã chúng ta gồm có lục căn, lục thức, lục trần để hóa và hóa trong vận luật tuần hoàn cũng mang tính bất đoạn và nhân luật tuần hoàn đó m à chúng ta quay về được chân tính.
Ngài dạy: Nói về mặt lập thể của hệ thống thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử là tương tục không bao giờ chấm dứt thì đó cũng là một hệ thống chuyển động bất đoạn. Vật lý bất đoạn thì ánh sáng là chủ thể của vật lý cũng trở thành bất đoạn.
Ngài bảo ông Chơn Hải Vạn Tường nói về diệu lý bất đoạn.
Ông Chơn Hải Vạn Tường: Chưa Cha, như thể hoành tác sinh diệt tương tục vô tận và không tách rời tính ánh sáng tự chiếu vô biên đó là biến đổi. Như hạt tâm duy ngã bất đoạn trung tâm vạn năng để hóa và hóa trong tổng hàm hoa Duy ngã vạn pháp kinh. Nên Duy ngã vạn pháp kinh là bất đoạn chân tính vạn năng.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống phát biểu.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, Duy ngã vạn pháp kinh đương nhiên là bất đoạn, vì tự tính chuyển động của duy ngã vạn pháp được bảo trù bởi tính âm và dương. Cụ thể như sự sống trong cơ thể con người chúng ta là hoàn toàn bất đoạn trong chu trình chuyển động thì mới có sự sống. Và tính bất đoạn ấy được bảo trù bởi tính oai âm dương vạn tỏa. Như vậy sở dĩ có tướng biến đổi là do có chủ tính bất đoạn.
Chúng con thấy rằng vạn pháp luôn luôn bất đoạn trong hệ thống của vũ trụ để mà hóa. Thì bất đoạn là mục đích để kết tinh kim cương chân tâm, để trở về với bản lai diện mục mà vạn pháp từ nơi ấy sinh ra.
Còn đoạn là do ý thức biến đổi của con người chúng ta. Nhưng dù có biến đổi và chia cắt như thế nào thì quy trình cân bằng tuyệt đối của thống thức chân quang cũng sẽ lập lại tính bất đoạn ấy để trở về vị trí cân bằng của nguyên và nhất nguyên. Tóm lại, đoạn là do ý thức lầm lẫn của duy ngã chúng ta. Chứ Duy ngã vạn pháp kinh hoàn toàn là bất đoạn.
Ngài dạy: Bất đoạn vì nguồn gốc của chân tính không biến đổi, mà vạn pháp sinh từ chân tính ấy ra. Nên vạn pháp nhân chỗ không biến đổi đó mà bất đoạn.
Như ta thấy ánh sáng mặt trời là bất đoạn đối với hành tinh và bản chất của hành tinh cũng không bao giờ đoạn quỹ đạo của ánh sáng mặt trời.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân phát biểu.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, tổng tinh hoa của vũ trụ là gốc hình thành hạt và siêu hạt, thì hạt và siêu hạt này không bao giờ mất đi vì khi có lập thể thì tồn tại thân ngũ ấm và khi mất lập thể thì tồn tại thân trung ấm. Về hạt tâm lý tính duy ngã đại thể là bất đoạn vì nó không bao giờ chấm dứt tổng thể hóa của vũ trụ. Nd có thể hóa thành Thánh nhân, Phật nhân và duy ngã có thể hóa thành quỷ dữ thì bản chất này trở thành bất đoạn. Thế thì đoạn không phải là thực tướng. Vì đoạn là do ý thức bân biệt và nhìn nhận về vũ trụ một cách sai biệt nên nó bị đoạn.
Ngài dạy: Đoạn đó là thuộc về ảo tưởng, của ý thức phân biệt trong hệ thống duy ngã chưa trở về, đoạn đó là không thực tướng. Mà thực tướng là duy ngã vạn pháp kinh bất đoạn hệ thống tổng thể vũ trụ.
Hôm nay chúng ta phải giác ngộ về hệ thống bất đoạn này để chân hành hóa trong sự nghiệp kết tinh thì chúng ta sẽ được hết tất cả kho tàng của vũ trụ.
Như sinh tử và niết bàn cùng một thể tính, cùng một tổng thể tinh hoa. Thì cũng thuộc về bản chất bất đoạn. Vì nếu sinh tử và niết bàn là 2 thể tính và2 tổng thể tinh hoa thì sinh tử là đời đời sinh tử và không bao giờ có được niết bàn.
Như trong kinh Hoàng Kim chúng ta đã học: Sinh tử là kim cương thể lỏng, mà thể lỏng là còn nhiều biến đổi. Nhưng khi nó kết cứng rồi thì nó không còn biến đổi nữa. Như vậy kim cương thể lỏng gọi là sinh tử, mà kim cương thể rắn gọi là niết bàn. Nhưng thể lòng và thể rắn thì bản chất nó đều là tổng thể tinh hoa cả. Nhưng kết tinh được từ thể lỏng qua thể rắn không thể đơn giãn, mà phải chịu một lực ly tâm cực mạnh để chuyển tải tất cả những thứ không thuộc về tinh hoa ra khỏi đời sống của kinh tính. Để còn lại hoàn toàn là thuần khiết sữa tinh hoa kim cương. Và đến khi kim cương được kết cứng rồi thì được gọi là niết bàn. Nên thành tựu niết bàn của Như Lai là không thuộc về cảnh giới. Mà thuộc về ánh sáng pháp thân bất diệt. Vì thế mà Như Lai đến với tất cả mọi cảnh giới. Cảnh giới có thay đổi, nhưng trong niết bàn chân tâm kim cương của Ngài là hoàn toàn không có thay đổi.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ phát biểu.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, đây là một đề kinh rất quan trọng đối với duy ngã đại thể. Trong tính tịch chiếu thống nhất. Tức là không thể duy tâm, duy vật, duy linh gì cả. Mà trở về lại với bản thể duy nhất của mình đó là duy ngã. Và đề kinh này đã làm sáng tỏ lời của đức Từ phụ Thích Ca đã tuyên ngôn trước đây là duy ngã độc tôn.
Duy ngã vạn pháp kinh bất đoạn hệ thống trung tâm hoàn toàn đúng. Vì sao? Vì nếu duy ngã vạn pháp mà đoạn hệ thống tổng thể thượng tầng thì làm gì có được duy ngã. Nên duy ngã hoàn toàn là bất đoạn đối với trung tâm, duy ngã bất đoạn đối với vật luật tuần hoàn chu kinh, nên chúng con rất vui mừng vì tất cả những việc gì làm ra thì vật luật tuần hoàn không bao giờ để mất đi giá trị đó. Vì thế muốn có tịch chiếu chân tâm thì chúng con phải giác ngộ và tuyệt đối là làm tất cả những việc tốt, hoàn toàn lánh xa tất cả những việc xấu và đi trong định luật quy luật. Vì tất cả những định luật luôn luôn chuyển động và bất đoạn trung tâm giống như hành tinh bất ly ánh quang mặt trời để được tồn tại.
Vì tính duy ngã bất đoạn con thí dụ: Bất kỳ một hành động nào ta làm ra, thì hành động đó cũng bất đoạn ánh sáng hạt tâm tri thức của chúng ta. Mà hạt tâm tri thức ánh sáng thì lại bất đoạn đối với trung tâm. Nên đây là một hệ thống thống nhất và bất đoạn từ trên xuống dưới.
Như vậy, trên là bất đoạn chiếu xuống và dưới cũng bất đoạn hướng về trên thì đó là tịch chiếu thống nhất.
Ngài dạy: Nd bất đoạn hệ thống tổng thể vũ trụ quan hóa từ siêu vi đến cực vi, từ siêu đại đến cực đại. Như vậy, ta nói tính bất đoạn là để khai minh cho duy ngã vạn pháp và duy ngã đại thể. Vì sao? Vì duy ngã đại thể nó có một tỉ suất vô minh, bởi những lực hấp dẫn đã làm che chắn tính ánh sáng hạt tâm của nó. Thế thì đoạn hệ thống là do thế giới duy ngã đại thể vô minh. Thí dụ như ông Các Mác đưa ra học thuyết duy vật biện chứng thì chính ông đã bị đoạn rồi và rất nhiều những hàng lớp trí thức trong xã hội cũng bị đoạn vì họ chỉ nhìn nhận vũ trụ ở một chiều nào đó. Không thuộc về tổng thể, mất hệ thống cửu kinh, thì tất cả đều bị đoạn. Vì thế giới duy ngã đại thể là sống trong ý thức phân biệt đối đãi, thừa nhận và không thừa nhận giữa các duy một chiều. Một khi cho duy này là đúng thì lại cho duy khác là sai. Chính tính bảo thủ một chiều đó mà bị đoạn.
Về ngôn ngữ thì duy ngã là ngôn ngữ của hệ thống tổng thể. Còn duy vật, duy tâm, duy linh là ngôn ngữ của hệ thống phân thể. Thế thì từ ngôn ngữ của hệ thống phân thể phải trở về ngôn ngữ tổng thể thì mới thấy được giá trị chung của nó.
Bây giờ nếu ta đem ngôn ngữ thuộc về lĩnh vực quân sự thì sẽ không giải quyết được cửu kinh. Hoặc ta đem ngôn ngữ thuộc về lĩnh vực kinh tế thì cũng chỉ nói về kinh doanh, tiếp thị, buôn bán lời lỗ và tranh chấp thị trường… thì cũng không thể đem nói cho cửu kinh được. Như vậy, tất cả những ngôn ngữ của một chiều đều không giải quyết được hệ thống cửu kinh. Mà phải lấy ngôn ngữ của cửu kinh thì sẽ giải quyết được tất cả mọi thứ khác. Thế thì tất cả ngôn ngữ một chiều đó phải tập hợp về ngôn ngữ tổng thể này thì mới giải quyết được xã hội.
Như vậy, duy ngã vạn pháp kinh là một hệ thống thống nhất của hệ thống hóa đối với tổng thể và giải quyết tất cả mọi chi thể trong đời sống của thế giới nhân loại. Nếu đem chi thể mà giải quyết cho tổng thể là không được. Mà phải theo về với hệ thống duy ngã tổng thể đó để giải quyết cho tất cả mọi giá trị về triết thuyết, thì minh triết sẽ được hiện hữu trong kho tàng hệ thống cửu kinh này.
Như vậy duy ngã vạn pháp tuyệt đối bất đoạn chân tính vạn năng bất đoạn âm dương vạn tỏa. Duy ngã vạn hóa chân tính quang minh nhất định như vậy. Và duy ngã tịch chiếu thì tâm vật sẽ hội tụ nhất định như vậy.
Duy ngã đại thể phải có trách nhiệm thiêng liêng là duy ngã vạn hóa chân tính quanh minh. Tức là trở về chỗ thống nhất tịch chiếu thì mới có được giá trị tính tướng dung thông, tâm vật hội tụ. Đó là con đường trung đạo thống nhất giữa ánh sáng cùng vật chất và quyền biến vô song với sức mạnh chân tính ấy. Và đạt được tính cứu cánh cao nhất của vũ trụ này. Thì duy ngã viên chân pháp thân bất hoại là cái quả thành tựu của hệ thống bất đoạn duy ngã. Thế thì Như Lai là đấng đã thành tựu bất đoạn duy ngã.

16/11/2011
Trung tâm nhật quang chiếu hành tinh. Hành tinh bất đoạn hoành tác hóa. Âm dương vạn năng thống nhất chiếu. Tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành
Trước đây ta đã học về “Trung tâm vạn năng chiếu phật quang, phật quang bất đoạn chân tính trung tâm quyền năng hóa”, thì đây là thuộc về tối thượng tầng. Chỉ dành cho những người đã thành đắc và chứng nghiệp thì mới thấy được, vì nó thuộc về phần lý tính. Còn bài học hôm nay là mang tính biện chứng và có tính thống nhất giữa lý và sự. Đó là: Trung tâm nhật quang chiếu hành tinh, hành tinh bất đoạn hoành tác hóa.
Đứng trên Trung tâm nhật quang thì không thể nói một mặt trời mà nói chung cho hàng triệu mặt trời trên vũ trụ đều là bản chất thống, dù ở các cấp độ cao nhất thì tính tất yếu của định luật này vẫn không thay đổi.
Nếu có hành tinh hũy diệt thì sẽ có hành tinh khác hình thành trong quy luật chuyển hóa của thành trụ hoại không và sinh trụ dị diệt. Nhưng điều tuyệt đối là khi hình thành hành tinh thì hành tinh bất đoạn ánh sáng mặt trời để tồn tại. Điều đó thuộc về định luật.
Định luật ấy từ đâu có? Từ âm dương vạn năng thống nhất chiếu, vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành. Như vậy giữa mặt trời và trái đất là nói lên tính đại diện giữa âm và dương. Và hoàn toàn nó là hệ thống của âm và dương. Ta thấy rằng trong hệ quy chiếu của âm và dương là hoàn toàn có tổng thể tinh hoa, mà mặt bằng của nó là tổng thể vạn pháp. Thì đây là một hệ thống thống nhất giữa âm dương và tinh hoa vạn pháp. Là nói lên sự thống nhất giữa âm và dương cùng tính đại diện của mặt trời và trái đất đã thể hiện bản chất của tổng thể năng lượng tinh hoa vạn pháp.
Nên ta thấy tinh hoa vạn pháp không bao giờ tách rời âm và dương, thì ta có thể nói âm và dương là tính kỳ diệu nhất của vũ trụ. Và có được tính kỳ diệu ấy là nhờ vạn năng mà ra.
Qua đề kinh này đã nói lên tính thống nhất giữa lý và sự, hoặc giữa chiếu và hành. Thí dụ: Lửa của hồng cầu là biểu tượng cho âm, lửa của mặt trời là biểu tượng cho dương, thì hai cáy này đã thống nhất chiếu và trở thành trục quĩ. Nên câu đầu tiên đã nói: trung tâm nhật quang chiếu hành tinh, hành tinh bất đoạn hoành tác hóa. Để thể hiện giá trị nguồn gốc và chủ thể của nó nên câu hai nói Âm dương vạn năng thống nhất chiếu, vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành. Như vậy sức mạnh âm dương và vạn năng đã thống nhất, đồng thời bản chất ấy đã có trong đời sống của hành tinh, của mặt trời và có trong đời sống của vạn pháp.
Về tính biện chứng của tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành. Như đức Lão tử đã đưa ra luật ngũ hành (Kim mộc thủy hỏa thổ). Vậy ngũ hành nhân đâu mà hành? Nhân ở sức mạnh vạn năng và thống nhất giữa âm và dương mà được hành. THì ta thấy rằng: Cái hành về mặt lập thô, là chứng tích, là biện chứng pháp của mặt siêu hành. Như vậy đất nước gió lửa là hành và tất cả những hệ thống cơ cấu về mặt lập thể đều là hành cả. Thì hành đó là nhân ở âm dương vạn tỏa thống nhất chiếu. Như vậy âm dương vạn năng thống nhất chiếu là thuộc về phần tính, là bất ly đối với hệ thống tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành là thuộc về phần thể, thì tính và thể đã được dung thông chỗ này.
Như vậy âm dương không tách rời vạn năng và vạn năng không tách rời hệ thống tinh hoa vạn pháp, nó đã trở thành hệ thống liên tịch chiếu. Và liên tịch chiếu để đi đến tinh đổm thì tinh đổm là giá trị cao nhất của hệ thống thống nhất đối với liên tịch chiếu.
Đề kinh này mang tính biện chứng pháp là nhằm để khai thác sự thực về sự thống nhất của vạn năng và âm dương trong sự nghiệp hóa. Và sự nghiệp hóa của tổng thể tinh hoa vạn pháp hoàn toàn không tắt đoạn trong giá trị thống nhất của âm và dương.
Tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành. Thì hành là để hóa và hóa là để kết tinh và quy trình kết tinh luôn đi về trục của trung tâm đó là luôn luôn đi về con đường tiến hóa thăng hoa. Như vậy hóa để tiến và hóa để kết tinh, để thành tựu và thống nhất được giá trị tổng thể của tổng năng lượng mà vũ trụ đã có.
Ta thấy câu một là trung tâm nhật quang chiếu hành tinh, hành tinh bất đoạn hoành tác hóa. Thì hoành tác ở đây là đi theo qui trình tròn. Và hoành tác là mang tổng thể tinh hoa trong đời sống của âm dương cùng vạn năng. Đời sống tổng tinh hoa âm dương vạn năng đó là đời sống vĩnh cửu nhất, cao nhất của hệ thống thống nhất đối với hạt tâm lý tính tính ánh sáng và chúng ta sẽ thành tựu chính vị chỗ này.
Như vậy 4 câu kinh khẩu quyết này theo các con nghiệm về hệ thống cửu kinh liên tịch chiếu thì đề kinh này như thế nào? Ngài bào ông Chơn Quốc Chính Thống trả lời.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, qua đề kinh này chúng con đối chiếu lại thực tướng của vạn pháp kinh và của duy ngã đại thể thì hoàn toàn mang tính triệt để đó là chủ tính và chủ thể. Nếu nói về phần vĩ mô, trung tâm nhật quang chiếu hành tinh thì mặt trời đại diện cho trung tâm nhật quang và cũng là đại diện cho trung tâm vạn năng, thì luôn luôn công năng thực tướng của mặt trời là phủ chiếu hành tinh. Và hành tinh luôn luôn là hướng về mặt trời để được sống và kết tụ tinh hoa, đó là sự thống nhất giữa 2 thể âm và dương. nhưng tự tính của nhật quang cũng đã thống nhất âm dương và hành tinh cũng đã thống nhất âm dương. Đó là tính chất đặt thù và viên dung cùng chân tính vạn năng.
Cũng giống như người nam là đại diện cho dương, người nữ là đại diện cho âm nhưng chính người nam và nữ đó đều đã thống nhất được âm và dương.
Ngài dạy: Chân lý cửu kinh không bị phá vỡ là vì sao? Vì tính thống nhất của thượng tầng, trung tầng, hạ tầng và thống nhất từ giới hạn đến vô cùng. Vì âm dương vạn năng thống nhất chiếu thì bất kỳ ở không gian thời gian nào thì giá trị đó vẫn không bao giờ thay đổi. Tuy nhiên ở thượng tầng khi càng lên cao thì sự kết tinh tinh hoa càng rực rỡ hơn như những ngôi sao kinh điển chẳng hạn. Còn hạ tầng thì sự kết tinh tinh hoa thấp hơn. Như vậy từ cực đại cho đến cự vi thì âm dương vạn năng đều thống nhất chiếu, thì vạn pháp tinh hoa từ cực đại đến cực vi cũng đều nhất thiết hành.
Còn nếu nó không thống nhất như vậy thì tổng tinh hoa vạn pháp sẽ bị biến đổi. Mà biến đổi thì sẽ phá vỡ, không thành lập được một thứ gì cả trên vũ trụ này. Nên ở đây âm dương vạn năng thống nhất chiếu thì vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành và không bao giờ thay đổi nó.
Hành ở đây, nếu đứng trên chính vị của tối thượng thì nó là siêu hành, là mật hành hoặc là tổng trục của giá trị hành. Còn đứng trên vị trí thấp thì nó là thô hành, là hiển hành, là chi quan hành. Thì hành đó đều có chung một hệ thống thống nhất chỗ này. Như vậy các hành của giới hạn dám phá vỡ cái hành vô hạn hay không? Chắc là không! Thì giá trị của cửu kinh đã có tính vĩnh hằng ở đây.
Về thống nhất thì cực vi cũng được thống nhất và cực đại cũng được thống nhất. Nếu ta đánh loại một tri trần ra khỏi đời sống của âm dương và bảo rằng no sko thuộc về hạt của tinh hoa thì ta đã bị một sai lầm lớn đối với hệ thống tổng thể vũ trụ. Vì thế mà đức Như Lai nói: Một hạt bụi cũng có thể là đại diện vũ trụ. Tức là từ những nguyên tử nhỏ nhất cho đến vô cùng của tham thiên đại thiên thế giới đã trở thành một hệ thống thống nhất một cách trọn vẹn mà chưa bao giờ tách ra.
Ngài bảo ông Chơn Khải Nhất Linh phát biểu.
Ông Chơn Khải Nhất Linh: Từ cực vi cho đến cực đại đều mang tính chất âm dương và rất thống nhất. Khi mà trung tâm nhật quang chiếu hành tinh. Từ đó mà hành tinh liên tục hóa và hóa trong hệ thống thống nhất ấy. Thí dụ như một cái cây thì cây ấy phải luôn luôn hút ánh sáng mặt trời để phát triển, nếu cây ấy mà đoạn sẽ bị hủy diệt ngay.
Ngài dạy: Hành tinh bất đoạn hoành tác hóa, thì bất đoạn ở đây là hành tinh không có một sát na ngưng trệ của giá trị hoành tác, đối với âm và dương, đối với mặt trời và hành tinh. Và nhỏ nhất là nguyên tử tế toái, thì cực nhỏ đó nó cũng đã thống nhất trong sức mạnh tổng thể của âm và dương. Vì thế mà tổng thể tinh hoa vạn pháp đời đời không bao giờ tách ra khỏi âm dương vạn năng để có được tổng thể hàm hoa ấy.
Nghĩa thống nhất ở đây là dù trăm trriệu hạt hóa trong vũ trụ ở mức độ giới hạn và vô hạn, đều phải mang bản chất thống nhất để có thể trở thành những tác phẩm tốt nhất của giá trị vũ trụ.
Âm dương vạn năng thống nhất chiếu, thì thống nhất chiếu ấy là siêu hành. Và vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành. Đó là mọi giá trị tổng thể của tinh hoa về mặt tính và mặt thể. Đó là sự hoạt động của tứ đại (đất nước gió lửa) và ngũ hành (kim mộc thủy hỏa thổ) và hoạt động của tất cả những đơn vị hóa học từ cực vi đến cực đại.
Ngài bảo ông Chơn Hải Vạn Tường phát biểu.
Ông Chơn Hải Vạn Tường: Thưa Cha, âm dương vạn năng thống nhất chiếu – đã mang tính tuyệt đối. Từ thượng tầng đến hạ tầng, từ cực đại đến cực vi. Vì thế mà vạn pháp tinh hoa chuyển động để thành lập và kết tinh thành những sản phẩm quý nhất của vũ trụ. Như con người chúng ta có hạt tâm lý tính một khi đã kết tinh được giá trị ánh sáng cao nhất để trở về hoàn nguyên phật tính, thì giá trị âm dương vạn năng thống nhất chiếu đã hội tụ được ở đây.
Ngài dạy: Vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành là không bao giờ tách âm dương vạn năng thống nhất chiếu. Thì đây là 2 câu đối xứng giữa giá trị thống nhất và sức mạnh không biên giới và khắp biên giới. Thì những câu kinh này là chìa khóa để mở vào kho tàng vũ trụ.
Như vậy, 4 câu khẩu quyết của hệ thống thống nhất tinh đổm: Câu đầu tiên là biện chứng pháp về trung tâm nhật quang chiếu hành tinh. Hành tinh bất đoạn hoành tác hóa. Câu tiếp theo: Âm dương vạn năng thống nhất chiếu, thì câu này là cha đẻ, mẹ đẻ của mặt trời và trái đất. Và tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành, là nói cho cả cực đại đến cực vi. Về đại thể là nói cho cả tứ đại ngân hà thiên hà thái dương hệ đều có những giá trị của thất đại hội hóa. Mà thất đại hội hóa của tổng thể tinh hoa âm dương vạn năng.
Như vậy 4 câu kinh quyết này đã làm sáng tỏ cả 2 mặt tính và thể. Và làm sáng tỏ về giá trị cơ cấu và hệ thống thống nhất. Để đưa chúng ta đi vào trong những định luật, qui luật và công luật tất yếu mà không còn bị lầm lạc vào những con đường quyền năng phép lạ khác.
Ngài bảo Chơn Hoàng Quang Quân phát biểu.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, trung tâm nhật quang chiếu hành tinh, hành tinh bất đoạn hoành tác hóa. Thì bất đoạn ở đây là khi hành tinh vận hành theo quỹ đạo của nó thì hoàn toàn phải dựa trên ánh sáng mặt trời mới quay được, đó là chứng minh cho tính bất đoạn. Âm dương vạn năng thống nhất chiếu và tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành. Thì 2 câu này đã trở thành thống nhất vì biện chứng cho ta thấy là tất cả vạn pháp luôn luôn có âm dương vạn năng. Thí dụ như nguyên tử là nhỏ nhất, nhưng cơ cấu của nó chính là nhờ vào những hạt điện năng âm dương. Cho đến những vật chất lớn hơn như mặt trời hoặc trung tâm lỗ đen là đại diện cho siêu hành thì bản chất của nó đều có tính âm dương vạn năng trong đó. Như vậy từ biện chứng đó để chúng ta thấy được tính siêu hành của âm dương vạn năng vũ trụ là cha mẹ nó còn vượt hơn nó gấp triệu lần.
Ngài dạy: Nếu không có âm dương vạn năng thống nhất chiếu thì sẽ không có một lỗ đen nào xảy ra trên ngân hà thiên hà và thái dương hệ này. Như vậy chính tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành đó là nền tảng của hệ thống duy ngã, là cha mẹ thống nhất của hệ thống duy ngã. Nếu không có tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành thì duy ngã cũng sẽ không bao giờ có mặt trên hành tinh này.
Như vậy 2 câu kinh quyết này là quyết định của hệ thống duy ngã vạn pháp kinh và duy ngã đại thể phải trở về chỗ này để thành Phật.
Ta thấy âm dương sức mạnh của vạn năng và kinh quỹ của tuần hoàn có rồi thì hệ thống duy ngã mới bắt đầu và hoàn chiếu một cách hiển vinh trong sự nghiệp hóa của loài người cùng với tất cả muôn loài.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân nói tiếp: Thưa Cha, con thấy tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành này rất khách quan, là luôn luôn hành để trở về trung tâm. Thí dụ như một vật chất nào đó khi mà bị phá vỡ sự cân bằng thì nó luôn luôn tìm về sự cân bằng.
Ngày dạy: Ở đây là đứng trên cả 2 mặt chủ quan và khách quan để trở về trung tâm. Nhưng nếu chúng ta dùng ý thức của duy ngã mà phân biệt một cách lầm lẫn làm phân tán tinh hoa vạn pháp thì phải chịu luân hồi sinh tử trong 6 đường. Nghĩa của luân hồi là đi ở vòng ngoài và đi mãi mà không bao giờ vào được vòng trong. Còn vãng hồi là đi từ vòng ngoài đi vào vòng trong. Tức là trở về nguồn gốc của mình đã sinh ra. Đó là vãng hồi chính vị, hoặc vãng hồi tứ quả thánh.
Như vậy luân hồi là đi mãi mà không trở về được với nguồn gốc của chính mình đã sinh ra. Vì thế mà người cha muốn cho người con được vãng hồi thì phải đi đến chỗ luân hồi đó tìm nói và chỉ cho nó con đường trở về với vãng hồi. Như vậy người cha đi tìm con trong hệ thống pháp hoa. Của giá trị kết tinh tinh hoa vạn pháp trong sức mạnh của âm dương vạn năng thống nhất chiếu và vạn pháp tinh hoa nhất thiết hành.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ phát biểu.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha. 2 câu kinh quyết đầu là trung tâm nhật quang chiếu hành tinh, hành tinh bất đoạn hoành tác hóa là biện chứng pháp cho giá trị hợp chiếu thống nhất giữa âm và dương, cũng như giữa thượng tầng siêu hữu và hạ tầng vạn hữu, cũng luôn hợp chiếu thống nhất trong hệ thống siêu hành và hành. Vì thế mà 2 câu kinh quyết tiếp theo là: âm dương vạn năng thống nhất chiếu, tinh hoa vạn pháp nhất thiết hành. Đó là nói lên giá trị siêu hành của âm dương vạn năng. Chính vì đó mà tinh hoa vạn pháp luôn luôn chuyển động để hóa và trở về nguồn gốc trung tâm. Như vậy nói về tính khách quan thì hoàn toàn là tính thể hợp chiếu thống nhất và tâm vật hội tụ. Thì chúng con là duy ngã đại thể thì điều quan trọng là phải giác ngộ nhận chân được nguồn gốc ấy để trở về vãng hồi chính vị. Thì mới thống nhất giữa chủ quan và khách quan. Còn ngược lại thì duy ngã lầm lẫn bởi chủ quan bản ngã sẽ phải chịu luân hồi mãi mãi trong sinh tử khổ đau.
Ngài dạy: Chúng ta xác định 4 câu này là thể hiện tính nguồn gốc của vạn hữu. Mà duy ngã đại thể có được một mặt bằng vững chắc, đó là vạn pháp kinh, tổng thể tinh hoa, tính thể hợp chiếu và tâm vật hội tụ. Đã trở thành tất yếu trong vạn pháp từ cực vi đến cực đại thì qui trình này không bao giờ thay đổi. Vì nếu thay đổi thì cục diện của hệ thống vũ trụ trở thành mất tính bình đẳng và đồng thời cũng mất tính định luật và qui luật đi. Vì phàm là Công luật thì rất công bằng, mà phàm mà qui luật là rất tất yếu. Nên vũ trụ đã trở thành kho tàng và đời đời vũ trụ cũng như thế. Nên Như Lai nói rằng: Dù cho nhân loại có mờ mịt vì u uẩn, che khuất và có thể kéo dài hàng tỉ năm ánh sáng thì chúng nó cũng sẽ lần lượt tỉnh ngộ để quay về nguồn gốc chính nó. Nhưng một khi mà nó chưa trở về thì sự thống khổ bao la của luân hồi ấy nó cũng rất đau đớn cho những đấng đã giải thoát. Vì những đấng đã giải thoát luôn luôn có con tim rung động về những sự thống khổ. Bởi Ngài đã chịu những thống khổ ấy từ những lúc chưa ra khỏi luân hồi nhân quả.
Đứng trên mặt bằng là nói vạn pháp bình đẳng, nhưng giá trị giải thoát vẫn được ghi nhận và kết tinh tinh hoa kim sắc cho những giá trị giải thoát ấy trong sự nghiệp của hệ thống Thống hóa. Thì bình đẳng tối thượng nhất là tất cả đều có thể thành tựu chân tính rực rỡ quang minh trên con đường giải thoát của thế giới nhị nguyên, để được hạnh phúc vĩnh viễn trong Công luật, định luật và qui luật này.
Một khi chúng ta đã giác ngộ được tính Công luật, định luật và qui luật thì sẽ không còn phải lo với những cái lo vô lý nữa. Là lo buông lung, lo hưởng thụ, mà ta sẽ quay về công trình công phu tu học của hệ thống cửu kinh để chứng đạt được những giá trị mà vũ trụ đã cho để ngài mai chúng ta trở thành những vĩ nhân, siêu nhân trong vũ trụ này.
Như vậy chúng ta không còn bận tâm lo lắng về những biến cố của còn và mất, của thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử nữa. Mà ta chỉ lo kết tinh tinh hoa vạn pháp để thành tựu kim tính. Một khi ta được kết tinh rồi thì thành trụ hoại không – sinh trụ dị diệt 0 sinh lão bệnh tử nó không còn lôi ta vào trong định luật đó nữa. Mà chúng ta lại hẳn nhiên tự tại trong chân tính vô cùng.
Ngài bảo ông Chơn Phát Đạo Quang phát biểu.
Ông Chơn Phát Đạo Quang: Thưa Cha, trung tâm nhật quang chiếu hành tinh thì nhật quang là đại diện cho phần tính, còn hành tinh là đại diện cho phần thể. Thì giữa tính và thể luôn hợp chiếu. Nếu nó tách rời ra thì sẽ bị hủy diệt. Âm dương vạn năng thống nhất chiếu là đại diện cho Thống hóa, là gốc của tinh hoa vạn pháp. Vì thế mà vạn pháp luôn luôn không bao giờ mất bản chất tinh hoa ánh sáng. Khi con người giác ngộ quay về thì sẽ được kết tinh và vãng hồi.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển phát biểu.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, đây là 4 câu kinh khẩn quyết của hệ thống từ thượng tầng cho đến hạ tầng của tổng tinh hoa vạn pháp đều mang tính thống nhất. Và tính thống nhất được biện chứng giữa mặt trời và hành tinh. Âm dương vạn năng thống nhất chiếu là gốc bảo trì cho hành tinh và mặt trời đã làm cho chúng con đều sáng tỏ công trình này. Và mang một hệ thống thống nhất từ trung tâm, tổng tinh hoa vũ trụ và tinh hoa vạn pháp nhất thiêt hành thì rõ ràng các pháp trong tất cả muôn loài, muôn vật cùng tứ đại đất nước gió lửa, cùng tất cả hệ thống vật lý hóa học trong đời sống luôn chuyển động đó là nhờ ở phần siêu hành hóa lập và bảo trì. Như vậy 4 câu kinh này là mang hệ thống tổng tinh hoa thống nhất từ siêu hành cho đến hành. Từ cực vi đến cực đại. Chính nhờ đó mà chúng con, duy ngã đại thể mới thấy được con đường trở về trung tâm.
Ngài dạy: Chư Phật 3 đời và mãi mãi trong A Tăng kỳ kiếp thì chư Phật không thể nói khác quỹ đạo này. Y cứ trên bát nhã và dấu chân của Phật đã điều ngự và thể nhập tinh hoa tính bát nhã, thống nhất tính bát nhã để có những quả vị cao nhất trong vũ trụ này. Nên đức Như Lai có nói rằng: Ngày mai chúng ta có chết không lo hoặc ngày kia chúng ta có chế không lo và mãi mãi đời sau chúng ta có chết không lo vì có kho tàng cửu kinh minh triết. Nhưng một khi chúng ta lìa cửu kinh minh triết thì ngày mai không chết cũng lo, ngày kia không chết cũng lo và mãi mãi trên đời này thì cái lo của sự trôi nỗi bềnh bồng trên biển khổ mênh mông mà chưa bao giờ được vào bờ.
Như Lai là đấng cứu tinh của nhân loại, là người cha yêu quý nhất của 4 loài đã đem kho tàng ánh sáng cửu kinh đến cho nhân loại. Vì vậy mà chúng ta sẽ không bao giờ thay đổi về ý chí, về tư tưởng và tâm huyết trên con đường thống nhất của sự nghiệp hóa vũ trụ quan và nhân sinh quan.

25/10/2011
Tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng hóa
Trước đây chúng ta đã học trung tâm vạn năng hóa duy ngã. Tức đây là nói về hệ thống thượng tầng. Nhưng để làm sáng tỏ và sâu thẳm về giá trị biện chứng. Nên đề kinh hôm nay là tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng. Nhằm để khẳng quyết về hệ thống tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu. Có nghĩa là không thay đổi, không thêm bớt, đối với chủ thể là chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng hóa. Thì chữ hóa ở đây nó đã kết tinh được lý hóa. Tức là hệ thống thượng tầng và hạ tầng đã trở nên một hệ thống thống nhất, chính đây là nguồn gốc cho cơ cấu hệ thống vật lý hóa hạ tầng.
Thí dụ: Ta nói về Thượng đế hóa là thuộc về đức tin. Hay nói về vô minh sinh ra hành. Nhưng nếu không giải thích được chỗ tột cùng của hóa thì vẫn còn bị mâu thuẩn. Nên bài học này là làm sáng tỏ về vật lý hóa.
Từ cái nhỏ nhất cho đến cái lớn nhất, từ cái phức tạp nhất cho đến cái đơn giản nhất trong thế giới nhị nguyên thì tất cả đều là vật lý.
Tổng thể tinh hoa là ta nói tất cả nhưng tinh hoa tổng thể kể cả thất đại hội hóa và hệ thống hóa học như kiềm, chì, sắc, ma giê, cacbon, canxi… Thì tất cả đều là vật lý, nhưng bản chất nó là tinh hoa. Như vậy cái gì mà hóa được thì đều là tinh hoa.
Chúng ta sẽ nghị luận bài này để khai thác về giá trị nguồn gốc của cả hệ thống vũ trụ. Đồng thời lột xác được cốt lõi của nó. Như vậy tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng. Tức ta đưa ra một mặt bằng biện chứng. Từ đó ta đi ngược về nguồn để xác định được giá trị trung tâm hóa.
Ngài bảo ông Ông Chơn Quốc Chính Thống phát biểu.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, chúng con thấy tất cả mọi học thuyết của ngoài xã hội luôn luôn có những mâu thuẩn vì chưa có hệ thống minh triết. Thì qua kho tàng Cửu kinh minh triết trong giai đoạn đầu thì Cha đã khai thị cho chúng con, thì đây là nền tảng tương đối rất vững chắc. Và hôm nay chúng con được học phần 2 về tinh đổm cửu kinh. Về đề kinh tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng hóa. Thì con hiểu rằng: Đây là sự tròn đủ về mặt tổng thể của hạ tầng và thượng tầng. Về tổng thể tinh hoa vật lý, đó là các nhà khoa học biện chứng người ta đã khám phá ra mà không thể nào đánh đổ được cái tổng thể tinh hoa vật lý ấy. Cho nên các nhà khoa học thực nghiệm về mặt nào đó họ đã quay lưng đối với các nhà đạo học. Nếu không rạch ròi được hệ thống của nguyên lý tột cùng, mà cho rằng: vạn pháp là không hoặc là thế này, thế khác… Thì hôm nay Cha khai thị cho chúng con thấy cái mệnh đề đầu tiên là tổng thể tinh hoa vật lý. Đó là hiện thực trong thế giới hữu hình, không bao giờ khác được. Nhân tổng thể tinh hoa vật lý ấy mà giữ lập và ổn định về thế giới hữu hình. Dù hành trạng có biến đổi như thế nào thì thế giới hữu hình nhị nguyên vẫn tồn tại và luôn luôn thăng hoa. Cho nên có những kỳ quan được hình thành từ quá khứ đến hôm nay.
Vậy tổng thể tinh hoa vật lý là cái thực hữu của thế giới hữu hình nhị nguyên. Thì đây là sự thống nhất đối với nhất nguyên và nhị nguyên.
Ngài dạy: Bài này đã nói sự chung hữu và triệt để của nhất nguyên và nhị nguyên là một. Vì sao là một? Là vì tổng thể tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng hóa. Như vậy là bản chất đại diện của vật lý là năng lực tự hữu và mang tính bất di bất dịch của hệ thống trung tâm vạn năng, mang tính đại diện về sức mạnh năng lực của âm dương vạn tỏa. Thế thì giá trị nhất nguyên đã có trong nhị nguyên. Còn việc phân lập giữa nhất nguyên và nhị nguyên đó là sự phân lập của hóa. Chứ thật ra bản chất nhất nguyên và nhị nguyên đã được thống nhất và chữ hóa và chữ lý đã được kết tinh và thống nhất ở đây. Kết tinh một cách tổng thể và hoàn toàn không có một giải định nào về các biến đổi của giá trị hóa ấy. Thì đây chính là tinh đổm.
Như vậy chính nhân bản duy ngã đại thể được đại diện giá trị nhất nguyên một cách triệt để trong hệ thống thống nhất của vạn năng và âm dương siêu sắc năng. Vậy thì các năng lực tự hữu của vật lý đã có năng lực của vạn năng và có giá trị sức mạnh siêu sắc năng của âm dương vạn tỏa. Nếu chúng ta rút tất cả những tinh hoa tổng thể của vật lý, thì không có một vật lý nào mà không có âm dương.
Như vậy vật lý nào cũng có âm dương thì tính thống nhất của giá trị nhất nguyên đã có trong đời sống của hệ thống lập thể. Đối với nhị thừ là còn ở cấp độ của tiểu học, trung học vì do chỗ có không còn mất, do chỗ sinh lão bệnh tử mà sinh ra phân biệt giữa nhất nguyên và nhị nguyên. Nhưng khi đạt đến chỗ tổng hòa hoa tinh đổm cửu kinh thì bấy giờ đã thống nhất không còn phân biệt nhị nguyên và nhất nguyên nữa. Thì tinh đổm chính là chỗ này.
Như vậy một khi phân biệt nhất nguyên và nhị nguyên là mất định lý ánh sáng của hệ thống thống nhất đối với tính tất yếu của hệ thống vật lý mà chân tính đã hình thành nó.
Như vậy bản chất của nhất nguyên và nhị nguyên là một hệ thống thống nhất của hệ thống lý hóa, mà không tách hệ thống lý hóa của hệ thống cửu kinh để có các lập trình trong hệ thống cơ cấu của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Ngài bảo Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, chúng con đã học tổng tinh hoa vật lý là từ trung tâm vạn năng và âm dương siêu sắc năng cho. Trong tính tuyệt đối đó, thì vật lý tột cùng của nó thì nó vẫn trường tồn. Chẳng qua là thế giới nhị nguyên vì lầm lẫn mà phân biệt thấy lúc có lúc không. Nhưng thực chất nó cũng trả về cái tinh hoa tột cùng của vật lý đó. Như vậy tổng tinh hoa vật lý đã thống nhất cùng chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng là một. Và tồn tại mãi mãi trong hệ thống của vũ trụ.
Ngày dạy: Đó là sự khai thác về tổng hàm hoa tinh đổm cửu kinh ở đây không còn trừu tượng một đức tin, hoặc không còn những ý niệm tưởng tượng gì khác biệt về hệ thống này. Mà ý niệm ấy được sáng lên bởi hệ thống thống nhất củ cửu kinh và đồng thời chúng ta lột xác được những hệ thống ảo trong thế giới nhị nguyên.
Ngài bảo ông Chơn Khải Nhất Linh trình bày.
Ông Chơn Khải Nhất Linh: Thưa cha, tinh hoa vật lý là tính tất yếu. Vì ta thấy tất cả các pháp trong vũ trụ thì không có một thứ gì vượt ra tính tất yếu của nó. Như tất cả mọi vật thể từ cây cối, chim chóc, trời trăng, mây gió là không tách rời tính tất yếu ấy. Như vậy tất cả vạn pháp từ gốc tất yếu của vũ trụ mà có. Vì vậy mà vạn pháp hằng hữu không bao giờ triệt tiêu và luôn luôn có một tính chất tinh hoa để đưa chúng ta trở về với chân tính.
Ngài dạy: Chúng ta muốn xác định được bản chất của vạn năng thì chúng ta phải chứng nghiệm trong vật lý nó có những năng lực phi thường và vĩ đại. Nếu đi ngược lại nó hoàn toàn không bao giờ thắng phục nó. Như vậy thì bản chất nó đã có tính vạn năng trong sức mạnh hóa và đồng thời nó có một sự biến động mà chúng ta không thể lường được. Đó là đại diện cho tính vạn năng. Hay là bản chất của vật lý có sức mạnh âm dương và có thể biến động không cùng tận trong đời sống của xã hội và nhiều khi con người không hiểu nổi được sức mạnh vô cùng ấy. Đó là đại diện cho tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng.
Thế thì bản chất vạn năng đã có tỏng đời sống hiện hữu của chúng ta và muôn loại. Vì chân tính ánh sáng vạn năng và sức mạnh của âm dương siêu sắc năng đã hình thành giá trị hóa trong hệ thống tổng tinh hoa vật lý.
Ngài bảo Ông Chơn Ngọc Biện Hộ phát biểu xác định.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, qua bài học hôm nay chúng con đã xác định được rằng chân tính vạn năng đã hằng hữu trong đời sống của mặt bằng duy ngã vạn pháp kinh. Vì trong tất cả muôn loài vạn vật luôn luôn tồn tại 2 thể âm và dương. Như vậy muôn vật trên đời này tất cả đều có tính ánh sáng của nó trong đó. Và bản chất tinh hoa thuộc phần lý cũng luôn luôn có trong vật chất đó. Vì thế nên các loài đều có tính đặc năng. Tức là năng lực đặc biệt. Hay còn gọi là tính duy nhất của các pháp, đó là đại diện cho tính vạn năng.
Ta thấy trung tâm vạn năng hóa các loài, thì các loài cũng phải hóa trong quy trình thống nhất cùng lý tính để trở về với trung tâm. Có nghĩa là phải hóa trong định luật, hóa trong quy luật và công luật vũ trụ. Như vậy chúng ta phải thuận theo vận luật tuần hoàn chu kinh để trở về và thăng hoa trong định luật cùng quy luật ấy. Đó là đi trong quy trình tụ để kết tinh tinh hoa và trở về với vạn năng.
Ngài dạy: Vật lý có lý là nhờ chân tính ánh sáng nên có lý, vật lý chuyển động hùng mạnh và phi thường thì bản chất nó vạn năng. Thế thì xác định vật lý đã có tính vạn năng và vật lý đã có tính đa năng, siêu năng. Những năng lực đặc biệt giá trị hóa mà chân tính vạn năng, cùng âm dương siêu sắc năng đã thành kết trong vật lý ấy.
Như vậy vật lý là đại diện cho vạn năng, thì chúng ta không thể xem thường nó hoặc bỏ nó. Nên ở đây đức Như Lai nói: “Ngươi hãy quên đi và bỏ đi những điều bất chính về giá trị hóa. Và ngươi được niết bàn là nhờ kết tập được tổng tinh hoa hóa kim mà có niết bàn thì ta không bao giờ bảo các ngươi bỏ nó”.
Tóm lại, vật lý có lý là nhờ chân tính ánh sáng mà có. Vật lý có sức mạnh tổng hợp về giá trị hóa là nhờ trung tâm vạn năng và vật lý có một quyền biến vô song là nhờ sức mạnh của oai âm dương vạn tỏa. Như vậy trong vật lý có âm dương, có ánh sáng và có chủ tính hóa chứ không thể là vô cơ sinh hữu cơ.
Như vậy tất cả vật lý nó không phải là một sự hư dối mà do chúng ta ảo tưởng và phân biệt làm khác đi giá trị sức mạnh của tổng thể tinh hoa nên mất đi giá trị hóa. Thế thì chúng ta hoàn toàn không chối bỏ về hệ thống vật lý, không chối bỏ về chân tính vạn năng và không chối bỏ về sức mạnh của âm dương vạn tỏa. Tức là ta không chối bỏ một thứ gì cả, mà ta thống nhất với tất cả tổng thể đó để chúng ta hóa thành kim tính.
Như vậy nền tảng để hóa kim tính và cao tầng về giá trị hóa vạn năng là hệ thống tinh hoa vật lý.
Tất cả những bài học tỏng chính trường của loài người, thì duy ngã là hiện hữu của vật lý, duy ngã là kho tàng của vật lý và duy ngã là đề bản thống nhất của hệ thống vật lý, để hóa vào giá trị siêu tầng. Thì đây là tinh đổm của tổng hàm hoa. Tinh đổm là gì? Tinh đổm là tính ròng của giá trị tinh hoa được chắc lọc và cô động những thứ quý báu nhất và loại trừ những thứ cặn bả ra khỏi đời sống của nó.
Tinh đổm cũng có thể giới thiệu như một viên ngọc đã được chuyển hóa và thành ngọc. Hay tinh đổm là cái lõi cuối cùng của giá trị tinh hoa.
Chúng ta học cửu kinh là nhằm để khai thác cái lõi tinh hoa đó, để lấy cái lõi đó làm vị sống và giá trị sức mạnh của sự giải thoát. Và đứng vững trên cái lõi đó để không còn bị biến đổi.
Ngài bảo ông Chơn Phát Đạo Quang phát biểu.
Ông Chơn Phát Đạo Quang: Thưa Cha, nguồn gốc của vật lý là từ trung tâm nên vật lý đều có tinh hoa của nó. Theo sự chuyển dịch của âm dương ví như chiều kim đồng hồ bắt đầu từ số một. Nếu đi theo chiều thuận của vận luật tuần hoàn chu kinh để tiến hóa thì cuối cùng nó cũng trở về con số một ấy. Còn ta thấy những con số khác là do sự phân biệt mà thấy, nhưng thật ra số một mới là đích thực của nó.
Ngày dạy: Sức mạnh của âm dương siêu sắc năng là sức mạnh mối chốt của tuần hoàn. Nếu ta bẻ gãy đôi tay của âm dương vũ trụ thì tuần hoàn cũng mất đi trong đời sống vũ trụ ấy. Nên âm dương siêu sắc năng là bản địa thực tướng của tuần hoàn.
Như vậy vật lý là đề tài sức mạnh của hóa và hóa trong tuần hoàn. Nếu hóa ngoài tuần hoàn thì vật lý ấy không có lò luyện kim để kết tinh. Và vật lý ấy hoàn toàn không có quỹ đạo chuyển động trong hệ thống Công luật vũ trụ.
Đề kinh hôm nay là không bẻ gãy về giá trị học thuyết, đó là tổng tinh hoa vật lý là tính tất yếu của chân tính vạn năng và âm dương siêu sắc năng hóa.
Nếu là hóa thì hóa trong nền khoa học và hóa trong minh triết kinh điển thì mới có thực tướng của tinh đổm cửu kinh. Nếu ngoài những điều đó mà hóa là óa tỏng ảo giác sẽ không có thực tướng và tinh đổm cửu kinh.
Hôm nay nhân loại khai thác hàng trăm công trình khoa học thì không có một thứ gì mà tách rời chân tính vạn năng để có kể cả kho tàng dầu lửa, kể cả than đá, vàng, ngọc và châu báu. Cùng tất cả những thứ gì có mặt trên muôn vàng hành tinh đều chịu sức mạnh của trung tâm vạn năng và âm dương vạn tỏa.
Như vậy tất cả đều hóa trong hệ thống cửu kinh và cửu kinh là một hệ thống thống nhất của tính thể dung thông, của tâm vật hội tụ. Thì bài học này là sức mạnh của thiền định trong giá trị tinh đổm cửu kinh và khai thông tất cả học lý để hóa. Thì chúng ta hoàn toàn không còn sợ vật lý nữa.
Nhưng tại sao lại có những người tụ mà lại sợ vật lý? Vì họ không phải là bác học cứu cánh. Vì học chỉ tin nhận kinh điển ở một chiều hướng mà không phải là kho tàng. Vì họ đương chấp về một pháp môn tu học nên họ sợ vật chất. Những kẻ đương chấp về một pháp môn tu học mà sợ vật chất, thì người ấy sẽ đắm chìm theo vật chất chứ không bao giờ có thể tránh nó. Còn người thông lý vật chất, là không đắm chìm nó, mà lại nắm giữ nó một cách gọn gàng trong tay. Và có thể điều khiển nó theo hệ thống đó, để vượt thời gian và không gian mà đến với trung tâm vạn năng.

Đăng bởi: congluat | Tháng Tư 30, 2012

Tính Duy Ngã

MỤC LỤC

KINH TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (TỪ BI HỈ XẢ) 3
KINH THẤT GIÁC ĐẠO CHI 7
TÍNH CHẤT VÀ GIÁ TRỊ THỰC HỮU TRONG THẤT GIÁC ĐẠO CHI 12
TÂM LÀM CHỦ 14
ĐỊNH LÝ TÂM VÀ PHÁP 19
CHƠN TÂM VÀ VỌNG TÂM 24
GIẢNG NGHĨA VỀ PHÁP TẠNG 26
18 GIỚI XỨ 28
TỊCH CHIẾU THỐNG NHẤT 32
THIỀN NA – CHUYỂN NHIỆM Ý THỨC VỀ CHÂN TÍNH 35
HỆ THỐNG PHÁP TRÍ LÀ BIỆN CHỨNG PHÁP VỀ TỤ VÀ ĐỊNH 37
Ý NIỆM, TƯ TƯỞNG, TÂM PHÁP LÀ NGUỒN ÁNH SÁNG VÔ TẬN 41
TÍNH THỐNG NHẤT VỀ Ý NIỆM 45
ĐỊNH LUẬT NHÂN DUYÊN KHỞI 47
LÝ NHÂN DUYÊN 50
TÌM LẠI CHÍNH MÌNH 53
TRIẾT GIẢNG VỀ THIỆN VÀ ÁC 59
GIẢNG VỀ NGHIỆP 61
NGHIỆP VÀ QUẢ 63
NGHIỆP CHUYỂN VÀ CHUYỂN NGHIỆP 66
XÁC ĐỊNH NGHIỆP DĨ 69
NGUỒN GỐC CỦA SỰ KHỔ ĐAU 71
TÍN HẠNH NGUYỆN 80
GIẢNG VỀ: 4 TƯỚNG CỦA CHÚNG SINH 81
BẢN NGÃ 83
NGŨ ĐỘN SỬ 88
LỤC ĐỘ (6 PHÁP) THƯỜNG NHẬT 93
KINH TÂM VẬT TƯƠNG TÁC NHÂN QUẢ BÁO ỨNG 96
TÍNH BIỆN CHỨNG VỀ GIÁ TRỊ HÌNH THÀNH ĐỊA NGỤC TÁNH VÀ ĐỊA NGỤC TƯỚNG, THIÊN ĐÀNG TÁNH VÀ THIÊN ĐÀNG TƯỚNG TRONG ĐỜI SỐNG CHÚNG TA 99
TÂM BẤT THƯỜNG TRONG HẠNH NGUYỆN HƯỚNG THƯỢNG, Ý BIẾN ĐỘNG TRONG NGHIỆP THỨC CƯU MANG 105
Ý THỨC KIẾN CHẤP TRONG HỆ THỐNG PHÁP VÀ PHÁP HÓA TRONG HỆ THỨC KIẾN CHẤP 108
CÁC PHÁP BẤT NGHĨA, CHÍNH NGHĨA BẤT LƯU NHẬP 109
GIẢNG NGHĨA PHẬT PHÁP TĂNG 112
CÔNG CUỘC CHUYỂN TRẠNG 115
ĐỘNG LỰC VÀ ĐỘNG NGHIỆP 120
CÁC HOẶC LẬU CHUYỂN ĐỘNG TRONG Ý THỨC VÀ TIỀM THỨC 124
ĐỜI SỐNG HIỆN THỂ VÀ SIÊU THỂ 130
SỰ SỐNG VÀ SỰ CHẾT 133
THỰC TẾ PHẢN THỰC TẾ VÀ THỰC TẾ SIÊU THỰC TẾ 137
ĐỨC TIN THỰC TƯỚNG 138
KHẢ ĐẮC VÀ BẤT KHẢ ĐẮC 141
PHÁP BẢO MỆNH AN SINH 144
TRIẾT GIẢNG MƯỜI HIỆU CỦA NHƯ LAI 147
NGŨ MINH 149
ĐIỀM TRIẾT VỀ TÍNH VÔ NHIỂM 153
GIẢ ĐỘ VÀ THỰC ĐỘ 154
TÍNH VÔ NGHI TRONG HỆ THỐNG CỬU KINH 158
HẠT TÂM LÝ TÍNH THUẬN VẬN LUẬT TUẦN HOÀN HÓA VẠN PHÁP 163
GIẢNG VỀ LỜI TUYÊN NGÔN CỦA ĐỨC THÍCH CA: “THIÊN THƯỢNG, THIÊN HẠ, DUY NGÃ ĐỘC TÔN” 165
NHÂN SINH QUAN MINH TRIẾT DUY NGÃ LÀ BẢN CHẤT CỦA VẠN PHÁP KINH 169
HẠT TÂM LÝ TÍNH TÍNH ÁNH SÁNG BẤT DIỆT 173
CÁC HỆ THỐNG LẬP THỂ CHE CHẮN HẠT TÂM LÝ TÍNH; HẠT TÂM LÝ TÍNH BẤT BIẾN THỂ, THỂ LẬP HỆ THỐNG THỐNG NHẤT 180
THIÊN VẠN THỂ CHUYỂN THỂ TỪ HẠT TÂM LÝ TÍNH 185
LUẬN VỀ CHỮ “NGÔ TRONG TÍNH KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN 191
LUẬN VỀ: BẢN NGÃ, NGÃ MẠN THUỘC Ý NIỆM TƯ TƯỞNG 195
TÌNH DUY NGÃ 201
HẠT TÂM LÝ TÍNH, TÍNH ÁNH SÁNG ĐIỀU NGỰ NÃO BỘ THẦN KINH QUỸ TÍCH HOẠT ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH 205
HẠT TÂM LÝ TÍNH ĐỊNH CHIẾU QUANG MINH ĐIỀU NGỰ NÃO BỘ THẦN KINH PHÁT MINH NHỮNG CÔNG TRÌNH CAO CẤP 211
HẠT TÂM LÝ TÍNH – ĐỊNH CHIẾU QUANG MINH, CHỨNG ĐẮC VÔ SINH – PHÁP THÂN THỰC TƯỚNG, HỘI NHẬP KINH THƯỢNG – TRUNG TÂM VẠN NĂNG, THOÁT LY NÃO BỘ – PHÁP TÍNH VĨNH HẰNG 215
Ý THỨC VẬT CHẤT HẠT TÂM LÝ TÍNH TỔNG HÀM HOA CỦA CHÂN TÍNH ÁNH SÁNG, TRUNG TÂM VẠN NĂNG, ÂM DƯƠNG VẠN TỎA 218
TỔNG THỂ TINH HOA, TÂM VẬT HỘI TỤ, CÁC PHÁP TRÒN ĐỦ LÀ CHÂN LÝ CỦA SỰ THỰC 223
BẢN CHẤT HỘI TỤ LÀ CHỦ THỂ CỦA CÁC PHÁP TĂNG TRƯỞNG CÙNG AN DƯỠNG 225
KINH HƯƠNG TÍCH HƯƠNG TÍCH TINH HOA HẠT TÂM ƯNG SINH TINH HOA CHẾ XUẤT TÂM HẠT HỢP HÓA 228
BIỆN CHỨNG PHÁP THÀNH PHẨM HOA NGHIÊM VÀ DUY NGÃ HÓA HOA NGHIÊM 234
LỤC NHẬP TRI QUANG PHÁP LỤC THỨC ĐỊNH TUỆ TÂM 245
LY THOÁT LẬP THỂ – TỊCH CHIẾU CHÂN TÂM THĂNG HOA CHÍNH VỊ 250
KINH BÁT NHÃ 256

KINH TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
(TỪ BI HỈ XẢ)
Trong thế giới nhân sinh luôn luôn có một tỷ lệ là nữa ác và nữa thiện, không thể có cái toàn thiện trong thế giới đó, nên đức Phật đưa ra từ bi hỷ xả đối với thế giới đó, chứ nếu là toàn thiện rồi thì Ngài đâu nói về từ bi hỷ xả đối với thế giới toàn thiện để làm gì.
Còn nói về nhân tính thì sao? Nhân tính là với tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch luôn luôn xuất hiện trong đời sống của nó, đó là sự mê lầm, sự tham trước, sự bỏn xẻn và chìm đắm cùng tất cả những sự tranh chấp trong đời sống con người một cách dữ dội và không đơn giản. Vì bản dục của con người rất lớn không thể phát huy được vô lượng tâm. Đức Phật Ngài biết rõ như vậy, nên Ngài bắt đầu từ chữ Từ. Ngài nói thế này: nếu ngươi chưa từ bỏ mọi ác nghiệp, nếu ngươi chưa từ bỏ mọi điều xấu xa, thì không bao giờ ngươi có được những viêc tốt lành; nếu ngươi chưa từ bỏ lòng hiếu dục và ác tính thì ngươi không bao giờ có được những điều tốt lành. Nói tóm lại, chữ Từ ở đây nó biến thể từ chữ từ bỏ để hoàn chỉnh giá trị của tình yêu thương và nhân ái. Vì nếu con người không từ bỏ những điều xấu xa đó thì làm sao trở thành người hiền lành, vậy sự hiền lành có được là nhờ chữ từ, vì đích thực của chữ từ là nó hoá ra lành. Nếu chúng ta từ bỏ được những điều xấu xa thì chúng ta không cần mời những việc lành thiện mà nó vẫn đến với chúng ta. Như vậy cái nhân của chữ từ nó rất quan trọng trong đời sống của tứ vô lượng tâm. Nếu chúng ta không từ bỏ điều xấu xa, tham lam, những sự ích kỷ, hẹp hòi thì chúng ta không làm sao mà bước qua chữ Bi. Tức là chúng ta muốn giúp người thì chúng ta phải là người không bỏn xẻn, không ích kỷ, không tham lam, không tật đố, không ngã mạn kiêu căng và không xâm thực mọi ngã mạn kiêu căng; không xâm thực tất cả mọi quyền lợi sống của người khác thì chúng ta mới có được chữ Bi.
Vậy, chữ Bi ở đây có được là do chúng ta đã từ bỏ được mọi điều xấu xa thì mới phát huy được chữ Bi, mới làm được sự giúp đỡ người khác. Còn chữ Đại Bi là dành cho Bồ Tát, còn chúng ta được chữ Bi là biết giúp đỡ người khác trong mọi hoàn cảnh khó khăn là quý rồi, còn chữ Đại Bi là dành cho Bồ Tát cứu giúp tam giới. Vậy riêng chữ Bi thì có thể dành cho tất cả mọi sự giác ngộ trong đời sống của con người khi đã trở về lòng thánh thiện, thì mới đủ yếu tố phát sinh lòng yêu thương và giúp đỡ người khác. Như vậy thì trên đời này tất cả những con người chưa từ bỏ được những điều xấu xa và tội lỗi thì những con người ấy không bao giờ có được lòng lành và cũng không bao giờ có được những tin lành gì đến với họ cả, kể cả ý niệm lành, và hành vi tốt lành cũng không bao giờ có đối với những người chưa từ bỏ ấy. Như vậy chúng ta từ bỏ những vị kỷ, ích kỷ và lợi kỷ để phát sinh được vô lượng tâm. Và khi chúng ta có được cái lành tốt đó trong người rồi thì chúng ta mới phát sinh cái lành tốt đó nhiều hơn nữa, đi đến sự giúp đỡ cho tha nhân, tức lúc đó mới có thể sống cho tha nhân. Đó là sự giúp đỡ và ban bố bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có ban bố về chính pháp hay ban bố về tài vật, ban bố về thuốc men…làm được như vậy thì chúng ta mới đạt được chữ Bi tức là sẽ đi vào vô lượng tâm. Như vậy thì nhờ sự từ bỏ và giúp đỡ đó nên chúng ta sinh được vui. Liền có chữ Hỷ sau khi chúng ta từ bỏ được những điều xấu xa và giúp đỡ được người khác. Cho nên tăng độ giá trị nhân lành và quả lành của chúng ta ngày càng cao lên, đời sống vận chuyển của ý thức và vật chất nó luôn luôn tốt lành, như vậy cho nên chúng ta gặp được những điều an vui, chúng ta đạt được chữ Hỷ. Thì cái Hỷ đó cũng không giới hạn; Có nghĩa là chúng ta từ bỏ được bao nhiêu, giúp đỡ được bao nhiêu thì chữ hỷ đó cũng được tăng độ lên càng cao. Vì vậy, trong đời sống của người thiện lành lúc nào niềm vui cũng có ở trong tâm thức của họ.
Còn chữ Xả thì sao? Đức Phật nói thế này: khi ông chưa thành tựu chính vị mà ông huân tập ba pháp từ bỏ và giúp đỡ để được vui thì ông sẽ bị những thách thức trong đời sống ấy, vì tâm ông còn trong vô thường. Như vậy, những thách thức sẽ đến với chúng ta, những pháp nghịch mà chúng ta không thể ngờ được thì chúng ta sẽ dùng cả chữ Xả đó, là xả bỏ tất cả những điều không thuộc về chính pháp, mỗi khi có pháp nghịch là ta xả, ta bỏ, tức là không còn dính mắc. Chữ xả đó nó dành cho cái hậu khi có biến cố giữa sự từ bỏ, giữa sự giúp đỡ và giữa sự vui sướng mà có thể xảy ra những điều thách thức thì ta liền xả không giữ nó. Vì đức Phật muốn cho tất cả chúng ta thực hiện cái Xả đó để không còn bị rối ren, không bị dính mắc ở trong đời ta. Chứ chúng ta làm mà không xả thì chẳng khác nào chúng ta tự buộc chính ta. Đức Phật nói rằng: ngươi giúp người khác nhưng ngươi luôn nhớ, nghĩ đến cái giúp người khác đó. Nếu ngươi không xả thì cái giúp đó sẽ bị giảm khuyết chỉ còn được một nữa mà thôi, hoặc là những gì mà ngươi đã từ bỏ rồi, thì cũng không nên nhớ cái từ bỏ ấy thì mới thực sự từ bỏ
Chúng ta có lỗi thì phải biết sám hối và không lập lại lỗi ấy. Khi chúng ta nhớ lại lỗi của mình thì chẳng khác nào chúng ta lập lại lỗi ấy. Nên Đức Phật dạy chúng ta hãy xả đi để tâm được nhẹ nhàng không bị nhiệt não và không bị sức nén về tâm lý ấy. Vậy, quên cũng là cởi trói, còn nhớ thì trói thức vào đó và làm cho chúng ta u uất khổ đau. Nếu có nhớ là nhớ những điều tốt lành chánh thiện, còn nếu nhớ những điều xấu thì chẳng khác nào ta đem mực bôi vào trang giấy, tức là ghi thêm những điều đau khổ vào đó mà thôi.
Như vậy, cội gốc của chúng ta trở về vô lượng tâm thì chữ đầu tiên mà nhà Phật lập tức là chữ Từ, là từ bỏ mọi điều xấu xa mới có mọi điều tốt lành. Như vậy, bản chất của sự từ bỏ là bản chất của sự tốt lành, có tốt lành thì chúng ta mới có sự giúp đỡ người khác và giúp đỡ cho ta. Giúp đỡ nhiều như vậy thì chúng ta mới có được nguồn sống vui và ta rất an lạc trong đời sống vui đó giữa tinh thần và vật chất một cách phong phú và sung mãn. Chúng ta làm nhưng không nên cố chấp nó để nó khỏi dính mắc những việc chấp trước mà sinh ra khuyết hãm cái phần công đức của chúng ta đi. Nên Đức Phật mới đưa chữ Xả là để nhằm giải quyết những vấn đề của những thứ thô lập còn giữ lại trong đời mình. Như vậy đức Thích Ca Ngài lập có bốn chữ thôi mà nó biến thể thành vô lượng tâm, gọi là tứ vô lượng tâm.
Bây giờ tôi nói về bản chất và tính thương yêu vô tận, vô cùng của đấng Thống hóa từ đâu phát sinh. Tại sao gọi là bản tính? bản là gốc, tính là tính chất, cái tính chất tuyệt đối của lòng thương không cùng tận của đấng Thống hóa. Tình thương vô hạn của đấng Thống hóa phát sinh từ tính bất biến không thay đổi của giá trị chân tính tuyệt đối, đó là chủ thể của lòng thương yêu vô hạn. Từ đó hóa thể thiết lập công án cho nhân loại hoá sinh và đem ánh sáng tột cùng của tổng tinh hoa vào đời sống, thể hiện sự cầu nối cho công án trở về với giá trị tuyệt đối đó, đó là tình thương yêu vô hạn. Vì nếu không là tình thương yêu vô hạn thì không có hóa, mục đích của sự hóa là để kết tập tinh hoa và trở về với tổng tinh hoa, đó là thể hiện tình yêu thương tuyệt đối của đấng Thống hóa. Như vậy thì trong chân tính ấy không có sinh diệt nên mới có tình yêu vô hạn, còn chúng ta bị sinh diệt của nhị nguyên, nên chúng ta có lẫn lộn giữa thương và ghét, cũng con người đó thôi nhưng lúc thì chúng ta thương, lúc thì chúng ta lại ghét. Còn ở trong chân tính không sinh diệt ấy không có cái ghét, tức là đã loại trừ cái ghét ra khỏi đời sống của chân tính vô hạn đó, mà chỉ còn là tình yêu vô hạn mà thôi. Như vậy chúng ta phải loại đi tất cả những quá trình lầm lẫn và trở về thực tính của tình yêu, thì chúng ta được trở về một của tình yêu vô hạn đó. Như vậy bản chất giá trị không sinh diệt là bản chất của tình yêu vô hạn.
Cái hành của tình yêu vô hạn là siêu hành hóa và lập thể cho sự sống trong đời đời cứ tương tục mà không bị ngắt đi, đó là siêu hành của tình yêu vô tận.
Nếu Thống hóa không thiết lập âm dương vạn tỏa thì làm gì có nhị nguyên trong đời sống của chúng ta. Nếu không có sức hấp dẫn thì không phát tác được nội lực của giá trị phát sinh ra tình yêu như chúng ta có tình yêu, như đấng Thống hóa đã có tình yêu. Tình yêu không chỉ đơn giản là tình yêu đôi lứa, mà tình yêu ở đây thuộc về chân thể, thuộc về cứu tinh, chứ không phải tình yêu đơn giản giữa nam và nữ. Nam nữ là thuộc về tình yêu giới tính, nhưng trong giới tính từ những tình yêu của sự thiết lập nhị nguyên là lực hấp dẫn để mà chúng ta trở về với tình yêu vô cùng của đấng Thống hóa. Như vậy hành động của siêu hành hoá thiết lập công án nhị nguyên là thể hiện tình yêu. Nếu không thể hiện tình yêu thì không có chúng ta trên trái đất để được yêu thương và chúng ta bắt đầu từ sự yêu thương của lầm lẫn đi đến sự yêu thương của cái không lầm lẫn. Yêu thương của giới hạn và đi đến cái yêu thương trọn vẹn và đầy đủ của vạn pháp. Nếu trong đời sống của Thống hóa không có tình yêu thương vô cùng ấy thì chúng ta sẽ không có tình yêu thương của nhân loại và cũng không có tình yêu thương của giới tính giữa nam và nữ, cùng tình yêu thương trong họ hàng quyến tộc và trong dòng máu huyết lưu của chúng ta.
Tóm lại, tình yêu vô hạn và tình yêu vô cùng thì chỉ có nơi không sinh diệt và sinh diệt không có chấm dứt mới có tình yêu ấy. Còn nếu trong vô cùng đó bị biến đổi thì sẽ không có tình yêu vô hạn và tình yêu vô cùng. Như vậy cái hành vi của tình yêu đối với Thống hóa là trong sự hóa sinh để thực hiện công án hóa sinh, cho chúng ta trở về chỗ vô cùng của tình yêu mà Ngài đã cho chúng ta. Vậy gốc tình yêu của Thống hóa là gốc bất biến.
Bây giờ, tôi lập lại, chữ Từ Bi Hỉ Xả ở đây. Chữ Từ nếu chúng ta ghép với nó là từ biệt, từ ly, từ chối. Thật ra chữ Từ ở đây là chúng ta muốn có được sự lành tốt là chúng ta phải từ bỏ những điều xấu xa. Cho nên những con người có lòng nhân từ thì họ đã bỏ được rất nhiều điều xấu, họ đã phục tâm đạo đức rất lớn, họ mới có được lòng từ đó. Triết lý của chữ từ là từ bỏ tất cả những điều xấu xa, những điều ích kỷ nhỏ nhen, thì mới có được tâm lành mà yêu thương giúp đỡ tha nhân. Như vậy, nhờ chỗ từ bỏ xấu xa và giúp đỡ người khác cho nên chúng ta mới được vui. Còn chữ Xả ở đây thì đức Phật đưa ra vấn đề là những việc xấu thì chúng ta phải xả bỏ rồi nhưng ngay cả những việc mà chúng ta giúp đỡ, ban cho mọi người thì cũng phải xả luôn, tức quên đi thì công đức mới được trọn vẹn. Vậy chữ Xả ở đây nó có hai ý nghĩa: xả chiều hạ là xả ác; xả chiều thượng là xả những việc làm thiện, không còn cố chấp thì việc làm ấy mới trang nghiêm được công đức. Còn nếu chúng ta làm mà có tính toán, có mưu mô, có ý đồ cho mục đích riêng thì nhất định việc làm công đức đó sẽ bị giảm đi. Như vậy, Ngài đưa chữ xả vào để chúng ta trở về cái vô lượng tâm viên giác. Nếu chúng ta không thực hiện được cái xả này thì khó mà đạt được vô lượng tâm. Đức Phật dạy rằng: Thi ân bất cần báo. Tức là khi mà thi ân rồi thì không bao giờ nhớ nữa, thậm chí xem nó như đôi dép cùn ta mang trên chân, ta vứt bỏ nó mà không còn nhớ đến đôi dép đó. Mục đích là để ân sủng ấy tròn đủ với ánh sáng của tình yêu thương vô cùng, đền đáp sự thi ân đó mà không tính toán. Còn nếu tính toán thì không có một sự đền đáp sủng ân của đấng Thống hóa ban cho chúng ta đúng theo tinh thần của thi ân.

KINH THẤT GIÁC ĐẠO CHI
Tại sao đức Phật đưa ra bảy giác thức? Vì nó rất quan trọng trong đời sống, nếu chúng ta biết vận dụng bảy giác thức đó thì chúng ta sẽ luôn luôn có những phương tiện cứu cánh liền nối mà không tách với nhau.
Thứ nhất: Kiến giác chánh minh hạnh túc.
Là nhìn nhận mọi sự việc trong quá trình viên giác đều có hạnh túc và có minh thị, tức là sự nhìn nhận thấy biết thuộc về ánh sáng. Là tinh lọc tất cả các pháp trong cái thấy đó.
Đối với các pháp chung quanh chúng ta nếu ta hiểu được nó, duyên nó mà giác ngộ thì gọi là duyên giác. Còn duyên các pháp mà không hiểu được nó thì gọi là duyên trầm. Nên chữ giác ở đây là đặt một vấn đề rất quan trọng đối với cái biết trong đời sống của cái đúng và sai, giữa cái thực và giả; cái nào còn, cái nào mất; cái nào mượn, cái nào không phải mượn, thì chúng ta phải biết rất rõ ràng và chắc chắn; cái nào thuộc về tâm chân như và cái nào thuộc về ảo giác ta phải biết một cách rõ ràng. Từ những cái thấy để chiêm nghiệm các pháp và làm thông suốt các pháp từ trong ra ngoài, thì gọi là dung thông. Vậy nhờ kiến giác chánh minh ấy mà đưa chúng ta về con đường dung thông. Tức là cái thấy đúng, thấy chính là cái thấy có ánh sáng và chính vì đó mà chúng ta làm được những điều tốt lành, thì đó là hạnh túc. Ví dụ một cái thấy mà giúp chúng ta hiểu biết được về nhân nghĩa, như khi thấy người bác ta liền vòng tay “dạ thưa bác!”, hoặc khi thấy Cha ta biết đây là người cứu tinh chúng ta, liền quỳ xuống “dạ thưa Ngài!”, thì đó là hạnh túc; còn nếu không biết rõ như vậy thì rơi vào chỗ lầm lẫn, có thể dẫn đến vô lễ và mất hạnh túc.
Vậy đời sống của cái thấy là thuộc về hệ thống duyên giác, là duyên với nhau để giác ngộ, để tỏ sáng. Về tính khách quan nếu không có vạn pháp để mà lập hóa nhân duyên thì chúng ta sẽ không có sự kết tinh gì hết, nên duyên giác ở đây là sự giác ngộ bởi cái thấy mà ra.
Đó là một trong những giác thức quan trọng nhất ở lĩnh vực duyên giác và tinh lọc tất cả các pháp để có hạnh túc. Kiến giác hạnh túc hoàn toàn có thực, vì chúng ta có tánh thấy tức là chúng ta có tướng thấy, mà tướng thấy được tinh lọc tinh hoa thì chúng ta sẽ có hạnh túc.
Thứ hai: Âm thanh giác hóa pháp bảo.
Là cái nghe nó có liên quan đến mọi âm thanh, mà âm thanh nó luôn mang theo chất liệu và nghĩa lý của hai chiều, cao hoặc là thấp, thiện hoặc là ác. Vậy âm thanh giác hóa pháp bảo, là âm thanh nghe được kinh pháp và chính pháp để giác ngộ. Là nghe các âm thanh thể nhập các âm thanh và biết tinh lọc âm thanh để hóa thành pháp bảo.
Vậy những âm thanh nào thuộc về pháp bảo? Trong cơ bản của A hàm thì âm thanh giác bảo là những âm thanh chân thiện có tính chất phục vụ, giúp đỡ và làm lợi lạc cho loài người đi đến con đường tiến hóa; làm cho con người giác ngộ thấy được sự mê lầm đau khổ, thấy được nguồn gốc đau khổ. Những âm thanh không có tính quyến rũ mê hoặc, lại có lực đẩy đưa giác thức của chúng ta đi lên, đó là những âm thanh tốt đẹp nhất gọi là: âm thanh giác hóa pháp bảo.
Như vậy, nghe kinh, nghe văn tu là hóa pháp bảo, nghe những lời thuận ngôn thiện lành là hóa pháp bảo; nghe những lời chân mỹ xây dựng làm cho chúng ta vui hỉ là hóa pháp bảo. Nhưng ngược lại nghe những lời thuộc về khẩu ác, ý ác và hành vi của cái ác thì không hóa pháp bảo. Như vậy, âm thanh cũng có hai chiều thì chúng ta phải thanh lọc hóa âm thanh đó. Ví dụ như: tối nay ta nghe một bản nhạc rất hay, nhưng nếu nghĩa lý thuộc về kinh điển thì chúng ta cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng. Còn nếu nghĩa lý nó thuộc về tình nghiệp và tính kích dục mạnh, thì chúng ta lại phát sinh ra sự trầm uất của dục tình.
Vậy giác bảo âm thanh là phương tiện tốt nhất để giải quyết những âm thanh ô trọc không có tính cứu cánh, nó làm mệt mỏi con người ở trong tình dục, trong chiến tranh, làm mệt mỏi con người ở trong dòng đời nhọc nhằn và đau khổ. Vì vậy người khôn là người xa lìa những âm thanh thuộc về âm trập, để chuyển về nghe những âm thanh cao cả tốt đẹp nhất để được ổn định tâm thức mình.
Chúng ta thấy phần trên là nói về duyên giác, còn dưới là nói về thanh văn. Đó là thấy các pháp mà giác ngộ và nghe được các pháp mà giác ngộ. Như vậy chính cái thấy và nghe đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng trong đời sống hóa thân. Chính vì vậy mà Đức phật đưa hai giác thức thấy và nghe lên trên. Vì thấy và nghe là mối chốt của chính diện và phản diện trong đời sống của con người. Ví dụ như những kịch bản trên sân khấu được con người dựng lên cũng từ thấy và nghe. Trong đời sống con người, cái tốt đẹp nhất và cái xấu xa nhất cũng được phơi bày từ cái thấy và nghe. Thấy và nghe ấy đã tạo thành dòng nghiệp có tính ma sát cực mạnh trong đời sống duy ngã đại thể. Đây là chân lý hoàn toàn có thực mà Như lai đã pha chế những phương pháp và sức mạnh để chữa trị cho tâm pháp của tất cả chúng sinh.
Thứ ba: Giác thức hương đàn hay còn gọi là giác thức hương tích.
Thường là con người ta dùng mũi, tức là tánh của ngữi để ngữi những mùi vị phân biệt của vật thể. Nhưng trong thể tính của Như Lai là có quyền ngữi được những hương đàn, là hương của pháp đàn, hương của tinh hoa nghĩa lý và hương của tất cả những pháp xúc giác thuộc về tinh khiết, đó gọi là giác thức hương đàn.
Về nguyên tắc của hương, “Nếu không có tính của hương thì sẽ không thành lập lỗ mũi”. Như vậy trong chúng ta đã có một loại hương, đó là hương đàn và hương tích. Nhưng chúng ta không quay về để hưởng được loại hương đó mà chỉ theo hưởng cái hương phân biệt của thơm và thúi, rồi lại cố chấp hương thơm và thúi ấy mà chết với nó. Như vậy, thơm và thúi là hóa sinh tử. Hóa sinh tức thơm, hóa tử tức thúi. Nên chúng ta đừng quan tâm đến việc sinh tử của thơm và thúi ấy, mà phải quay về cái tính hương đàn và giá trị hương tích của chính ta, thì chúng ta sẽ hưởng được cái hương đó. Hương ấy được nằm trong tất cả những nghĩa lý thơm tho mà chính ta đã đạt được từ trong tất cả những chất liệu chính pháp. Ví dụ hương của âm thanh được tinh lọc xong và hương của sắc pháp được tinh lọc xong, thì hương ấy gọi là hương thường trực giá trị hóa và hương ấy là hương thực tướng của pháp thân. Vậy thì chúng ta hãy quay về tinh lọc tất cả những âm thanh và sắc pháp thì chúng ta sẽ hưởng được mùi hương ấy.
Thứ tư: Giác vị xúc cam lồ.
Là chúng ta có quyền nếm tất cả những vị cam lồ ở trong tất cả các pháp lành. Có nghĩa là thuận theo chiều pháp hạnh và thọ thực các pháp hạnh, tinh hóa trong các pháp vị hạnh và thường làm những việc chân thật trong pháp vị hạnh thì pháp vị cam lồ chúng ta sẽ có.
Vị là những chất liệu dùng lưỡi phân biệt để biết được vị của đắng, cay, mặn, ngọt… và biết được vị ngon và dở. Chúng ta phải biết rằng nếu chúng ta không có tính của vị thì ta không bao giờ nếm được đắng, cay, bùi, ngọt và cũng không phân biệt được những vị chất ấy. Như vậy trong chúng ta đã có tính của cam lồ vị. Nhưng do chúng ta quay ra để phân biệt cái đắng, cay, ngọt, mặn và sự ngon-dở đó rồi bị nó hấp dẫn và buộc chúng ta đi theo những vị xúc đó. Và cứ liên tục, liên tục ở trong vị xúc đó, rồi lại tiếp tục phân biệt và phân biệt mãi mà không dừng được sự phân biệt trong vị xúc đó. Nên chúng ta phải thấy rằng trong chúng ta có giác vị xúc cam lồ, để chúng ta quay ngược 180 độ trở về vị xúc cam lồ ấy mà nếm được tinh hoa vị xúc cam lồ, thì chúng ta sẽ có một cuộc sống bền vững và mãi mãi.
Cam lồ vị là các vị chất cao nhất trong các vị chất, là vua của các vị chất và cứu tinh của các vị chất. Cam lồ vị đó có thể cứu sống sinh tử.
Như vậy ở cái ngọn cuối cùng chúng ta có vị để nếm, thì cái gốc cuối cùng của chúng ta là có cam lồ vị để ăn, để uống, để nếm và để làm sống dậy cho pháp thân chúng ta.
Thứ năm: Giác thân pháp.
Là chúng ta có giác pháp thân thể. Là thể nhập của giác thân, luôn luôn khiến thân chúng ta vào con đường chân thật. Gọi là thân giác, nghĩa là giác ngộ đưa thân pháp vào con đường chân hành của chính nghiệp và nguyện không để cho thân chúng ta làm những điều phi chính nghiệp trái ngược với chính pháp.
Đức phật đưa ra giác thân pháp là vì cội gốc đã có pháp thân mới hóa ra thể thân và hóa thân. Như vậy quay về thân pháp là quay về pháp thân. Thì giác thân pháp có nghĩa là trọng pháp thân, yêu quý pháp thân và tin cậy nơi sức sống vĩ đại nhất của pháp thân và đời đời trong pháp thân. Còn nhục thân của chúng ta đây chỉ là cái mượn mà thôi. Nên một khi chúng ta sống với thân nhục này mà càng quý yêu nó, đắm nhiễm nó thì không bao giờ có giác thân. Vậy thân nhục này là phương tiện, là thân của cái bóng, thân của sự tan biến, thân của sinh lão bệnh tử.
Như vậy chính chúng ta có pháp thân nên mới có nhục thân, nhưng chúng ta không bao giờ nhớ nghĩ về giác thân pháp đó. Thì chúng ta hãy quay về, tức là không đam mê nhục thân nữa mà biết nó là phương tiện, ngày nào nó còn ở với ta là ta dùng nó để phụng sự cho pháp thân của chúng ta.
Thứ sáu: Ý giác vạn pháp.
Có nghĩa là ý thức luôn luôn tinh hóa tất cả các pháp ở trong đời sống của tinh thần và vật chất, của tâm và vật. Là tinh lọc cái giá trị giữa ý thức và vật chất không để các pháp thô lậu xâm nhập vào đời sống của tâm pháp.
Như vậy, ý giác vạn pháp là cái cửa để mở vạn pháp, thu tóm vạn pháp, tinh luyện và kết tinh vạn pháp. Nếu ý thức chúng ta chưa giác ngộ thì vạn pháp tung hoành, còn ý thức ta đã giác ngộ thì vạn pháp tập hợp và theo một hệ thống quy cũ không lộn xộn. Thí dụ như ý thức là người chỉ huy còn vạn pháp là quân lính. Khi người chỉ huy ra lệnh gì thì quân lính tuân lệnh thi hành nghiêm túc không sai lệch, đó là ý giác vạn pháp. Tức là người chỉ huy hoàn toàn đã điều ngự được quân lính, đó là ý thức đã hoàn toàn có một tinh thần giác ngộ tròn đủ với vạn pháp và vạn pháp thuận theo sự giác ngộ của ý thức, không còn phân biệt một cách điên rồ nữa, mà lại là phân trạch những giá trị tinh hoa của vạn pháp. Đối với ý thức phân trạch đã làm ổn định trong vạn pháp của sự phân trạch đó. Tức là nó đã trút hết tất cả những gánh nặng thuộc về các pháp bất tương ưng và đã được các pháp ổn định và tươi tốt trong quy luật tương ưng ấy. Như vậy, ý giác vạn pháp là tinh lọc vạn pháp và dùng vạn pháp tinh hoa để nuôi dưỡng tâm pháp và thành tựu chân tâm kim cương.
Thứ bảy: Giác thủ lăng nghiêm.
Nếu chúng ta đủ sáu giác thức trên thì chúng ta liền giữ được lăng nghiêm tiềm thức gọi là giác thủ lăng nghiêm. Giác thủ lăng nghiêm lưu giữ lại những kho tàng của tất cả những giác thức, những giá trị về sức mạnh và hội tụ tinh hoa của sáu giác thức đó. Đưa về tiềm thức tức là sự ghi nhận và nhớ giữ tất cả những tinh hoa ấy và không để tinh hoa bị biến đổi. Thì bảy giác thức đó là bảy đạo lộ, bảy phương tiện chi để nuôi dưỡng tâm pháp một cách vững chắc. Như vậy, chân tâm sẽ nhờ bảy giác thức đó trở thành bảy khí cụ trong lành xúc tác mạnh mẽ nhất, bảy khí cụ hiệu quả nhất để bổ dưỡng cho tâm pháp và tâm pháp được tăng trưởng mau chóng là nhờ thất giác đạo chi. Vậy thì thất giác đạo chi rất cần thiết đối với con người, vì chúng ta ở trong đời sống của bát thức tâm vương mà không có bảy giác đạo chi để hỗ trợ cho tâm vương đạo, thì tâm vương đạo sẽ bị suy thoái và không có chiều hướng phát triển. Như vậy thất giác đạo chi đã giúp và nuôi dưỡng cho tâm vương được tăng trưởng và được thành tựu chính vị. Khi thành tựu chính vị thì thất giác đạo chi vẫn là giá trị nhất định và những phương tiện thuận của sự kết tinh cho tâm vương pháp thân. Tâm vương pháp thân nhờ bảy giác đạo chi đã hóa thân được trong đời sống của khắp cùng tam giới.
Như vậy, thất giác đạo chi hoàn toàn không mất, vì nó đã chuyển hóa và kết tinh phần tính, lập trình được phần tính, nên thất giác ấy đã trở thành công cụ và phương tiện hóa của chân tâm.
Như trước đây trong thời Đức phật Nhiên Đăng. Ngài đã mở ra đại hội Liên Trì và Cha là người được dự và nghe Ngài thuyết về “Thất giác đại chi đạo” Và đã phân tỏa tất cả mọi dòng nghiệp trong đại chi đạo ấy. Lúc bấy giờ trên 4.000 đại chúng đứng dậy hoan hô và sùng bái Thất Giác Đạo Chi như một mâm thuốc lớn trong đời sống của tất cả duy ngã đại thể của các tầng lớp khác nhau. Vì sao? Vì nó là mặt bằng của sự mãnh liệt và sức sống của sự mãnh liệt đối với Thất Giác Đạo Chi và ổn định tất cả vạn pháp trong Thất Giác Đạo Chi và thành lập được chân tâm hóa thân Như lai đại thể.
Như vậy, hôm nay chúng ta phải ứng dụng, thể dụng bảy giác đạo chi để giúp cho tâm pháp mình được thăng hoa và dùng bảy giác đó để tinh lọc tất cả những chất thô và thu hút tất cả những chất tinh hoa để nuôi dưỡng tâm pháp. Bảy giác đạo chi rất cần thiết trong đời sống của cái thấy, cái nghe, cái ngữi, cái nếm và thân xúc cho đến ý thức vạn pháp đều cần thiết. Vì các căn nguyên ấy nó thường gặp ở trong đời sống chúng ta và gần như nó luôn luôn tác động ở trong đời sống chúng ta. Nếu chúng ta không dùng bảy giác đạo chi để tinh lọc các tinh hoa ở ngoại căn thì tiềm thức và dữ liệu không bao giờ có thủ lăng nghiêm. Như vậy, muốn có thủ lăng nghiêm của thức thứ bảy là tiềm thức và dữ liệu là nhờ sáu giác kia. Thức thứ bảy là thức để giữ lại tất cả những tinh hoa của thủ lăng nghiêm và nuôi dưỡng được sức mạnh của tâm pháp một cách vững chắc, không cho tâm pháp suy yếu.
Nếu chúng ta ngộ nhập được bảy giác đạo chi thì chúng ta có một cách nhìn khác, có một cách nghe khác và thấy nghe như thế nào để thuận với thức giác, ngữi như thế nào để có giá trị của thức giác, nếm vị cùng thân pháp chúng ta hành xử và thực hiện như thế nào để có giác thân một cách chính đáng. Tất cả những thứ giác ngộ đó nhằm để nuôi dưỡng tiềm thức và tiềm thức trở thành phương tiện thủ lăng nghiêm, để bổ trợ và nuôi dưỡng cho tâm vương chủ tròn đủ các pháp.
Như vậy, muốn có những công hạnh hạnh túc, những kiến tri, những quá trình tinh hoa tốt đẹp nhất thì chúng ta phải có thất giác đạo chi. Nếu không có thất giác đạo chi thì bảy thức đó nó sẽ sống theo sự huân tập của cảm tính, của bản năng và hấp thụ theo quá trình các pháp hữu lậu không được sự tinh lọc. Vì nó bị lực hấp dẫn của các pháp chưa tinh lọc, nên pha trộn thứ gì nghe cũng được, thứ gì thấy cũng được, thứ gì ngữi cũng được, thứ gì ăn cũng được, thứ gì xúc chạm cũng được. Để rồi nó tiềm giữ ở trong ý thức toàn là những thứ thô lậu không tốt đẹp đó. Chính vì thiếu thất giác đạo chi nên chúng ta bị hỗn loạn, bị thô cấu của các pháp thô cấu. Như vậy, thất giác đạo chi là cửa và hệ thống tinh lọc, làm sạch tất cả các pháp lậu để đi đến chỗ tốt đẹp nhất. Vậy muốn có thủ lăng nghiêm thì chúng ta phải có thất giác đạo chi, còn nếu chúng ta có đọc thủ lăng nghiêm mà không có công luyện trong thất giác đạo chi, thì thủ lăng nghiêm của ý thức tiềm giữ cũng khó có thể có, mà không có thủ lăng nghiêm thì không làm vững chắc cho giá trị của tâm chủ.
Tóm lại, thất giác đạo chi là cửa ngõ của sự tinh lọc. Thể dụng của thất giác đạo chi là để nuôi dưỡng tâm pháp và làm cho tâm pháp được sung mãn. Như vậy thì mỗi hành giả phải dùng thất giác đạo chi để tinh lọc hóa tinh hoa pháp thân, để nuôi dưỡng pháp tâm một cách tròn đủ, thì chúng ta mới có con đường giải thoát một cách vững chắc. Nếu chúng ta không lo thì ngày chết nó đến chúng ta sẽ tu không kịp, vì ngày chết chúng ta không thể hứa hẹn được. Vì vậy sự tu học là chuẩn bị tất cả những gì mà trước khi chúng ta ra đi. Vì thân này rất là mong manh không biết chúng ta ra đi lúc nào. Nên đức Phật Ngài ví dụ thân này như giọt sương đeo trên cành lá, như luồng điện chớp thoáng qua là mất rồi. Nên chúng ta phải hiểu thân này rất là hư huyễn. Chính vì vậy mà việc tu học cần phải quyết liệt không thể chờ đợi, không thể hẹn. Nên các tổ ngày xưa có nói: “Đắc nhất nhựt, hoá nhất nhựt”, tức được một ngày tu một ngày, được một giờ tu một giờ, chớ không thể hẹn mai mốt hay năm, mười năm sau tôi mới tu. Hẹn như vậy khi gặp biến cố nó cướp mất thân mạng rồi thì tu đâu còn kịp nữa. Cho nên việc tu học là quan trọng nhất đối với đời sống của chúng ta.
Tu học là chính chúng ta trở về làm giàu thực tướng, người nào làm giàu thực tướng là sống trong cái lõi của chính mình. Còn người làm giàu giả tướng là chỉ sống cái bên ngoài thôi, cái đó nó đến với chúng ta rồi nó sẽ đi, nếu nó không ra đi thì chúng ta cũng bỏ nó mà đi. Như vậy, cái giàu của giả tướng thì có thể đến và đi, có lúc ở bên ta, có lúc lại đi; vì nó không đi thì chúng ta cũng chết ,tức bỏ nó mà đi. Như vậy, chúng ta phải dùng bảy giác mạnh mẽ nhất để làm cái bộ máy lọc, để kết tinh được tinh hoa và giữ lại những tinh hoa ấy để làm của cải có tính chất vĩnh cửu cho đời sống của chúng ta sau này.

TÍNH CHẤT VÀ GIÁ TRỊ THỰC HỮU TRONG THẤT GIÁC ĐẠO CHI
Trong bảy giác đạo chi, nếu một căn nguyên lầm lẫn thì đó không gọi là giác, vì giác không phải là biết, mà giác còn là ngộ nữa. Ngộ là trở về ngộ sự thực và nhìn nhận sự thực của chính nó, mới là ngộ cái chân giác. Còn giác mà chưa trở về sự thực thì đó chỉ là giác vỏ thôi. Như người ta nói: “ giác trầm chưa phải là trầm”. Như vậy, trong bảy giác ấy nó luôn luôn có hệ thống soi chiếu. Cái soi chiếu của mắt, cái soi chiếu của tai, cái soi chiếu của mũi, cái soi chiếu của miệng, cái soi chiếu của thân thể, cái soi chiếu của ý thức và cái soi chiếu sâu thẳm của tiềm thức nữa; vì tiềm thức là cái dữ liệu chứa nhóm của những sự soi chiếu kia thì chúng ta có thủ lăng nghiêm ở giác thứ bảy. Giác thứ bảy là cái móc nối để làm vững chắc cho tính viên giác tức là a lại da. Thì trong bảy giác này nó phù trợ cho bát thức tâm vương. Nếu chúng ta ứng dụng đúng bảy giác này thì nó sẽ giúp cho tâm vương được phồn vinh, được giàu mạnh, được sung mãn, được đầy đủ tổng chất tinh hoa mà quá trình chúng ta được huân tập và tinh lọc đó. Nếu chúng ta không dùng bảy giác đó mà huân tập và tinh lọc thì bảy giác đó nó không còn là bảy giác, mà trong đó gọi là sáu sự hiểu biết sai lầm, hỗn tạp và tiềm thức của sự hiểu biết giữ những sự sai lầm. Nó biết nhưng mà nó chưa thực sự giác ngộ những giá trị tinh hoa, đó không thuộc về cơ cấu thất giác, thì nó vẫn là cái chỗ ra vào của những sự hỗn tập chưa được tinh lọc. Như vậy, đức Phật đưa ra bảy giác là đưa ra bảy phương pháp tinh lọc để chúng ta có được chất liệu tinh hoa nuôi tri thức ánh sáng. Vì ý thức và tướng tông liên quan, pháp tính và pháp thể liên quan, tâm và vật liên quan, đó là một cụm từ nhiều danh từ nhưng cũng chỉ cho hai phần đó thôi.
Như vậy, người đi trở về con đường Công Luật hay là con đường tu chính cấp thượng là người ta đưa hệ thống lọc ra và thực hiện công án lọc, công thức lọc, phương pháp lọc để chất liệu tinh hoa nó được đầy tròn. Đó là quá trình chuyển tập vì thất giác nó luôn luôn bổ sung cho tất cả những công thức khác, như bổ sung cho khổ tập diệt đạo, bổ sung cho thập nhị nhân duyên, v.v… Vì tất cả nó đều liên quan rất mật thiết với chúng ta trong đời sống. Nó bổ sung cả vấn đề tinh hoa tâm và tinh hoa vật. Bởi vì khi chúng ta tinh lọc được tinh hoa vật lý thì chúng ta cũng hưởng được cái tinh hoa vật lý, hoặc chúng ta chuyển hóa được tinh hoa tâm pháp thì cũng hưởng được cái tinh hoa tâm pháp. Nên cuối cùng là đi vào một quy trình li tâm, chuyển lập những tinh hoa để giữ lại và những cái không thuộc tinh hoa thì đào thải. Ví dụ như vàng mà lọc hết quặng thì thành vàng ròng. Cũng như về luật tuần hoàn như tôi đã nói: Khi chúng ta ăn thức ăn vào thì tuần hoàn cơ thể là bộ máy tự lọc, vì nó là cơ cấu để lọc dịch, nó chuyển tải tất cả những tinh hoa để đưa về máu, còn những thứ cặn bã thì nó tự loại trừ ra khỏi cơ thể chúng ta. Ngay cả hơi độc và những thứ cặn bã không giữ trong thân thể mà lại đưa ra ngoài, thì đó là bộ máy rất là tinh ròng. Như vậy, cơ cấu thân thể chúng ta là bộ máy lọc, thì cơ cấu của tri thức chúng ta cũng trở thành một hệ thống tinh lọc, cuối cùng chúng ta hưởng trọn cái tinh hoa đó.

TÂM LÀM CHỦ
Trong các pháp do tâm làm chủ
Vạn pháp mầu tròn đủ một tâm.
 Thế nào là trong các pháp do tâm làm chủ?
Vạn pháp chi hữu từ trung tâm hóa sinh, mà đã sinh được thì làm chủ được. Vì Trung Tâm Vạn Năng sinh ra vạn pháp, thì vạn pháp từ Trung Tâm Vạn Năng mà ra. Về nguyên tắc Trung Tâm Vạn Năng có thể thu liễm vạn pháp trở về một mối và có thể dùng pháp chiếu ánh sáng vạn pháp tỏa ra.
Thế nên. Duy tâm thượng: Trung Tâm Vạn Năng, đó là cấp thượng của vũ trụ quan, là kho tàng đại ngã tổng thể vũ trụ quan. Duy tâm hạ ý thức tương tác, thì biện chứng ý thức tương tác nghĩa là gì? Là tư duy, là suy nghĩ thuộc về tư tưởng, có thể tưởng được tất cả các pháp, cũng có thể diệt độ được các pháp và có thể kết tinh được các pháp, có thể qui túc được các pháp và các pháp trở về với sự thống nhất của tâm pháp.
Tâm pháp là gì? Tâm pháp là chân tính bất biến thể. Vì chất liệu của tâm pháp là chất liệu bất biến thể. Chính cái bất biến thể đó mới làm chủ được các hệ thống vật thể. Như vậy trung tâm ánh sáng siêu cực là chân tính bất biến thể và nơi đó là nơi sinh ra vạn pháp và thu góp lại vạn pháp, qui tôn lại vạn pháp và vạn pháp trở về gốc. Đó là quy trình hình thành từ trung tâm sinh ra và chuyển động của sự hồi trả, vậy trung tâm làm chủ vạn pháp, chứ không phải vạn pháp làm chủ được trung tâm.
Duy tâm hạ ý thức tương tác. Nếu chúng ta tưởng những điều tốt lành và lập pháp tốt lành, thì các pháp ấy sẽ y cứ trên tư tưởng tốt lành đó mà thể hiện mọi sự tốt lành, còn tư tưởng chúng ta lệch quỹ đạo thì bị biến thể. Biến thể là do quá trình chúng ta niệm nhớ sai lệch về trung tâm mà các pháp bị phân hóa không trở về nhập gốc. Như vậy cái tâm đây là nói lên tính chất của trung tâm vạn pháp và vạn pháp từ trung tâm mà ra, thì giữa vạn pháp và trung tâm tuy hai là một. Chúng ta phải thấy rằng trung tâm cũng có siêu sắc thể của nó, nên tâm ở đây không phải là không có vật thể, mà tâm là trung tâm chủ thể của vật thể và tâm là nơi điều động tất cả những giá trị vật thể.
Ví như: Ông A lấy tâm để phát minh ra một vấn đề gì đó, rồi sau đó dùng cái biết để tập hợp các pháp mà thực hiện công trình đó. Thì cái tâm đó là chủ. Nếu không có cái tâm chủ đó thì tất cả các pháp không quy tụ được. Vậy các pháp quy tụ từ trung tâm. Nếu trung tâm bị biến thể thì các pháp cũng nhân đó mà biến thể.
Như vậy, tâm chúng ta phải hiểu rằng: Duy tâm thượng Trung Tâm Vạn Năng; duy tâm hạ ý thức tương tác. Thì giữa đại ngã Trung Tâm Vạn Năng và tiểu ngã ý thức tương tác tuy hai là một. Vì chúng ta từ trung tâm sinh ra thì tất cả những chân tính bất biến thể của trung tâm đã có trong chúng ta. Vì do chúng ta lầm lẫn sai biệt mà biến thể ý thức rồi làm lệch trung tâm đó. Biến thể là do hư vọng và các ảo giác chứ không phải là trung tâm biến thể, mà trung tâm vẫn giữ nguyên trạng chân thể bất biến đó để mà điều hợp vạn pháp, và vạn pháp được yên ổn là do từ trung tâm mà ra.
Bây giờ, tôi nói một ví dụ cho dễ hiểu. Nhân cách hóa về trung tâm vạn pháp thì có thể ví như cái đầu não của chúng ta vậy. Não bộ là biện chứng pháp Trung Tâm Vạn Năng. Vì chính cái đầu não đó nó điều động vạn pháp, nó điều động tất cả mọi sự lý trên đời này. Nếu chúng ta mất đi cái đầu đó tức mất đi hệ thống não bộ thần kinh, mất đi trung tâm điều động vạn pháp thì vạn pháp sẽ bị phân tán. Vậy cái đầu cũng là chủ thể của vạn pháp, điều động được vạn pháp. Chứ vạn pháp không thể điều động được cái đầu. Nên cái đầu là biểu thị cho Trung Tâm Vạn Năng. Như vậy Trung Tâm Vạn Năng có não bộ Trung Tâm Vạn Năng mới điều động và hình thành ra não bộ của chúng ta. Nếu không có Trung Tâm Vạn Năng thì não bộ của chúng ta cũng không có, và cũng không có mắt tai mũi miệng thân ý, không có ngũ tạng, không có thân lập tinh vi như hôm nay.
 Thế nào là vạn pháp mầu tròn đủ một tâm?
Vì vạn pháp mầu do tinh hoa của tổng thể Trung Tâm Vạn Năng sinh ra, cho nên các tinh hoa vạn pháp ấy không tách rời Trung Tâm Vạn Năng và được Trung Tâm Vạn Năng điều động. Như vậy ngay cả cái hạ tầng tương tác của ý thức mà chúng ta có, cũng do cái tâm chủ để điều động vạn pháp. Như vậy thì vạn pháp mầu duy chỉ có cái tâm sinh ra mà thôi. Khi chúng ta ngộ ra, ta chứng tính trở về làm chủ tâm ta thì vạn pháp tự về, tự quy tôn chứ không cần phải mời gọi hoặc tìm kiếm gì hết. Còn một khi chúng ta không làm chủ được tâm pháp, thì vạn pháp mầu bị phân biến là do ý thức phân biến. Nếu ý thức không bị phân biến mà trở về tâm, thì vạn pháp bắt đầu tập hợp và đi theo quy cũ, đi theo nguyên tắc, định luật và trật tự để trở về tâm và điều hợp cùng tâm.
Ví dụ: như cái quả chín thì hạt là cái tâm và chính cái tâm mới có thể hóa sinh, ương trồng gieo lại và lập lại thân sau cũng từ cái tâm mà ra. Như vậy cái tâm của nhà Phật không phải quan niệm là tư tưởng ý niệm được; mà cái tâm của nhà Phật là cái tâm của trung tâm. Vì vạn pháp đều có trung tâm, chứ không thể tách rời trung tâm mà có vạn pháp. Vậy định nghĩa của tâm: là tự tính bất biến thể, là trường viễn, vĩnh cửu và bất đoạn, là mãi mãi và không bao giờ chấm dứt.
Phân biệt giữa cái vọng và cái chơn. Cái vọng là sự sai biệt của ý niệm, của tư tưởng, của sự lầm lẫn làm cho phân hóa cái tổng thể ánh sáng của trung tâm. Chân tâm là tự tính, là sự sống vĩnh cửu đời đời, có nghĩa là chúng ta mất thân thể chứ chân tâm không bao giờ mất, trung tâm ánh sáng chân tính không bao giờ mất. Chính vì sự không biến đổi nên gọi là tính bất tịch, thường chiếu bất diệt. Như vậy, trong vũ trụ có cái không chết đó là Trung Tâm Vạn Năng. Trong thế giới có cái không chết, đó là tính chân thể và ánh sáng của tri thức đạt được đến chỗ viên giác. Cái đó đồng nghĩa với chiều thứ tư của vũ trụ quan, mà chiều ấy không thể viết bằng mực, không thể vẽ bằng hình vì nó là siêu thể, là thực tướng, là chân tướng bất biến thể, nó là trường viễn vô cùng và không bao giờ thay đổi.
Đức Phật khi ngài thành tựu viên giác và trở về chân như vô cấu thì ngài cũng đã trở về với Trung Tâm Vạn Năng rồi, tức là trở về thể nhập cái ánh sáng tổng thể đó và ngài được độc lập hoàn toàn trong ánh sáng vô cùng đó. Thì duy tâm nhà Phật là như vậy, chứ đừng quan niệm duy tâm nhà Phật là ý niệm, là tư tưởng đơn giản kia đâu.
Hôm nay, chúng ta có sự điểm tri về Tâm. Trong các pháp do tâm làm chủ; thế thìTrung Tâm Vạn Năng làm chủ, đó là cấp thượng vũ trụ quan. Còn về cấp hạ thì sự hiểu biết chân chính và thắng phục vạn pháp làm chủ, chớ không phải nhà cửa, xe cộ hay đất nước gió lửa làm chủ chúng ta được. Vì những thứ đó bất tri, vô thức nên không làm chủ ta được. Ví dụ: như ta xây dựng cái nhà thì ta làm chủ cái nhà, nếu ta không ở cái nhà đó thì nhà đó trở thành vô chủ. Vậy thì cái biết làm chủ cái không biết. Trung tâm là ánh sáng siêu tri, là siêu thức, là đại ngã, là chân thức, là tổng quan, là thường chiếu mới làm chủ được vạn pháp và điều động được vạn pháp.
Nói về nhân sinh quan thì con người làm chủ được cái gì? Làm chủ được đất nước gió lửa, làm chủ được quốc gia, làm chủ được núi sông, làm chủ được nhà cửa, làm chủ được tất cả những thứ vật thể ở bên cạnh chúng ta, vì chúng ta điều động nó. Vậy thì cái tâm đó rất lớn. Thế thì quá khứ, hiện tại, vị lai, vật thể có thể biến đổi ba thời kỳ, song chân tâm thường làm chủ ba thời kỳ và không bị biến đổi.
Như vậy, cái đắc mà Như Lai nói là: Đắc bất khả đắc, là đắc cái gì? Tạm nói là đắc về chân tâm chứ không phải đắc về vật thể. Vì vật thể là sinh diệt tương tục vô tận, là cái khách quan tự nhiên của nó mà không cần phải phóng thức ra để giữ nó, mà trở về trụ giữ chân tâm là đồng nghĩa với giữ chúng nó rồi.
Trở về giữ chân tâm là đồng nghĩa với giữ vạn pháp, còn bỏ chân tâm mà đi giữ vạn pháp thì đồng nghĩa với bỏ chủ thể đi theo mọi sự hấp dẫn và lôi cuốn của tất cả các pháp hữu tình và vô tình. Vô hình chung chúng ta bị mất chân tâm, mất chủ thể, mất ánh sáng tự tính.
Tại sao là vạn pháp mầu có đủ một tâm? Vì vạn pháp duy tâm tạo, có nghĩa là vạn pháp từ trung tâm sinh ra, vì trung tâm có đủ tất cả siêu sắc thể và sắc thể; vì trung tâm có đủ tất cả những giá trị tinh hoa tổng thể, nên mới hình thành ra vạn pháp được.
Trung tâm nhân ở đâu mà được tồn tại? nhân ở siêu lực quang chân thể vô cực ánh sáng, nhân ở tự tính pháp thân tối thượng, nhân ở tính tuyệt đối của chân tính vô cực ánh sáng. Chính chỗ tuyệt đối đó nên mới gọi là thực tướng, tức là không còn nhân ở đâu nữa. Còn cái gì mà nhân cái này có cái kia, nhân cái kia có cái nọ, thì chưa phải là thực tướng mà chuyển hóa lập thể để kết tinh tinh hoa trở về với trung tâm vạn pháp duy tâm tạo.
Nếu chúng ta hiểu được hai câu này thì chúng ta không còn lo âu nữa, là vì: trong các pháp do tâm làm chủ, vạn pháp mầu tròn đủ một tâm. Vậy thì dại gì mà chúng ta phóng thức ra ngoài đi tìm kiếm những chuyện không thực, nên đức Phật nói rằng: khỏi cần tìm, các ngươi hãy về làm chủ chân tâm đi thì vạn pháp sẽ trở về với ngươi; ngay cả những âm phúc không có cửa nó cũng mở lối vào, mọi điều tốt lành rồi dần dần sẽ đến với ngươi, mọi sự bình an và hạnh phúc nó sẽ đến với ngươi một cách trọn đủ. Còn không đủ là do chúng ta không biết, làm sai lệch nên bị phân hóa; Chứ thật ra vạn pháp mầu có đủ một tâm. Như vậy thì cái tâm đó đã đủ hết tất cả rồi, nó vượt trên tất cả mọi thứ trong đời sống này, nếu chúng ta thành tựu được chỗ này, thì không lo gì phải tính đến chuyện giàu nghèo, tính đến chuyện có hay không. Nếu chúng ta thực hiện được tâm này, thì cái sinh diệt tự nhiên của Công Luật vũ trụ, của Trung Tâm Vạn Năng là một sự sắp xếp trật tự để chuyển hóa và hình thành tất cả những pháp hữu tinh hoa trong đời sống của chúng sinh trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai; trong ba tầng: hạ, trung, thượng và đến đích cuối cùng thì chúng ta mới vào thế giới hoa nghiêm. Thế giới hoa nghiêm là một thế giới không thể bàn nghĩ, ai có đến đó thì mới thấy được sự hạnh phúc vô cùng không giới hạn, hạnh phúc không bao giờ suy giảm và biến đổi. Còn hạnh phúc chúng ta là hạnh phúc biến đổi sáng hạnh phúc chiều khổ đau; hôm nay chúng ta vui vẻ rồi ngày mai đau buồn; chúng ta không có được cái hạnh phúc vĩnh trường, mãi mãi như hạnh phúc ở thế giới hoa nghiêm.
Tóm lại, Duy tâm thượng Trung Tâm Vạn Năng, Duy tâm hạ ý thức tương tác. Biện chứng pháp tiểu ngã và siêu chứng pháp đại ngã. Thống nhất thành một chữ Tâm khổng lồ để điều hợp vạn pháp mà không bao giờ mất chữ Tâm ở trong vũ trụ. Chữ Tâm ở đây ta tạm nói bằng từ ngữ, chứ thật ra chữ Tâm ở đây là một chân tướng mà chúng ta cũng không thể có từ ngữ để mà nói được, vì nó quá lớn, quá siêu xuất. Một khi chúng ta thể nhập được chữ Tâm mà tôi đang nói đây, thì chúng ta mới thật sự trở về với chính chúng ta. Thực sự chúng ta mới gặp lại chúng ta và mới sống thật sự của chính chúng ta. còn nếu không thì chúng ta bị mất bản giác, mà mất bản giác cũng có nghĩa là chúng ta bị lệch đi con đường của trung tâm vũ trụ, tức là bị phân biến và lăn trôi theo định luật của sự chuyển hóa sai lệch rất nguy hiểm. Vậy chữ Tâm mà tôi nói hôm nay là chữ tâm của tổng tinh hoa, chứ không phải chữ Tâm theo kiểu phân thức và đau khổ của pháp giới chúng sanh .
Tất cả chữ Tâm chúng ta đi từ biện chứng pháp, vì nó là sự hiện hữu của tướng tông đối với ý thức, vì nó là sự hiện hữu của tướng tông đối với duy thức và duy thức là sự hiện hữu đối với tướng tông chứ không tách rời. Như vậy ý thức và tướng tông là một cặp bộ mà không thể tách rời. Nếu tách rời ra và mất đi thì nó không còn là giá trị sống thực của vũ trụ nữa, có nghĩa là nó không có thực trong đời sống Công Luật, nếu nó thiếu một phần thì nó không có thực trong đời sống đó nữa và đời sống đó cũng không tròn đủ được đời sống.
Không phải một sớm một chiều mà chúng ta có thể trở về chân tâm được. Muốn trở về với trung tâm, trở về với chân tâm, trở về với chân ngã của chính mình, cái giá trị thực của chính mình, thì chúng ta phải nhờ vào pháp môn của ba thừa. Ta phải đi trên con đường Bát Chánh Đạo, con đường lục độ, con đường bảy pháp trạng; đi trên con đường kinh triết, con đường thánh kinh, con đường thánh thiện, con đường chân hành, con đường của sự công luyện; những con đường đó nó sẽ giúp chúng ta trở về với chân tâm. Còn nếu định nghĩa về cái vọng và cái không vọng của Tâm, thì cái vọng là sóng, mà cái không vọng là nước mà không có sóng. Nhưng chúng ta muốn cho sóng trở về với mặt nước bình thường thì cái nhân duyên khởi về mắt, nhân duyên khởi về tai, nhân duyên khởi về mũi, nhân duyên khởi về miệng, nhân duyên khởi về thân ý. Tất cả những nhân duyên khởi đó, chúng ta chưa thắng phục nhân duyên khởi, có nghĩa là chuyển pháp nhân duyên khởi qua thiện, và thuần thiện chân thể ánh sáng lần lần nó dưỡng độ để trở thành thuần căn. Thuần căn cũng có nghĩa là điều phục căn, và các căn ấy sẽ chuyển lần qua ứng tác sở trí. Cái nhìn của sự cứu độ, cái nghe của sự cứu độ, cái ngửi của sự cứu độ, cái ăn của sự cứu độ, cái xúc hành và thọ nhập các pháp đều mang tính cứu độ, thì tất cả những căn nguyên ấy không bao giờ mất, mà lại trở thành công cụ chính pháp của chính ta, của chân tâm ta, nó là những người trung thành nhất của ta. Một khi chúng ta thắng phục nó thì nó rất trung thành, mà khi không thắng phục nó thì chính nó là giặc dữ, nó khiến tâm chúng ta phải đi theo những dòng pháp trái ngược bất tương ưng đó, làm cho chúng ta khổ não, mất đi cái trung tâm của thượng tầng và mất đi cái trung tâm của hiện sinh, cả hai cái đều mất. Tức là trong vòng của tiểu ngã và đại ngã bị phân hóa, thế thì Trung Tâm Vạn Năng sẽ không đến với chúng ta và cái giá trị giảm của chúng ta sẽ lần lần giảm dần cho đến các loài thấp nhất.

ĐỊNH LÝ TÂM VÀ PHÁP
Hôm nay, tôi nói về giá trị, tính chất, định nghĩa của tâm và giá trị, tính chất định nghĩa của pháp. Để chúng ta biết rõ thế nào là tâm pháp.
Người ta nói tâm sinh ra vạn pháp, tâm này không thuộc về cái tâm tư tưởng mơ hồ của chúng ta sinh ra vạn pháp, mà là trung tâm sinh ra vạn pháp. Như vậy, pháp tính sinh pháp thể; nhưng không loại trừ cái trục của tâm, tức là trung tâm để có vạn pháp; Vạn pháp ở đây là do trung tâm hóa. Nhưng thường là chúng ta lại lầm lẫn lấy khách thể để làm tâm. Vì vạn pháp hóa bất tri đó thuộc về khách thể. Tức pháp thể là khách, pháp tính là chủ là tâm. Định nghĩa rõ ràng như vậy.
Nhưng tại sao nó là khách mà lại có lúc nó làm chủ chúng ta? Vì chúng ta chưa rõ hiểu được cái giá trị của pháp tính. Pháp tính tức là có trục của trung tâm, vì có trục của trung tâm nên pháp tính đó không biến đổi mà lại hóa được pháp thể. Nhưng pháp thể là khách mà cũng là cái ngọn lại có lực hấp dẫn nên chúng ta lầm nó.
Tóm lại, pháp tính là gốc nhưng có cái trung tâm để giữ cái gốc đó, nên nó không bị biến đổi. Nếu không có trung tâm để giữ thì pháp tính không nhân ở đâu mà tụ. Vậy nhờ trung tâm đó mà tụ được pháp tính và pháp tính hóa pháp thể. Như vậy giữa tâm và pháp tuy hai nhưng lại là một vì đó là gốc và ngọn, ngọn tạm gọi là khách, gốc tạm gọi là chủ. Nhưng giữa chủ và khách chúng ta không rõ ràng là vì thằng khách rất là mạnh mẽ, có lúc nó hấp dẫn đến độ thằng chủ phải chạy theo nó. Nếu chúng ta biết được pháp thể hóa từ pháp tính và pháp tính là gốc, thì các pháp thể cho dù có vạn lực, vạn năng đi nữa thì nó cũng không thể khuất phục được pháp tính và trung tâm pháp tính.
Định nghĩa của tâm: là trung tâm của pháp tính, là thuộc về gốc, thuộc về chủ.
Định nghĩa của pháp: là vạn pháp, là lập thể thuộc về ngọn, thuộc về khách.
Như vậy, vạn pháp từ trung tâm pháp tính sinh ra dù có lớn rộng thế nào đi nữa thì vẫn là khách là ngọn, nó vẫn là cái bị sinh. Thế thì thù thắng các pháp cũng có nghĩa là dẫn độ tất cả những pháp khác trở về làm bạn với chúng ta. Vậy, tâm pháp hợp nhất là ở chỗ này.
Bài giảng hôm nay để chúng ta biết được tính cơ bản và tính qui luật, tính chiến lược của tâm và pháp là nói đến mặt bằng và giá trị của nó để giải quyết rạch ròi về gốc và ngọn.Để chúng ta biết rõ chính xác nó. Vì từ lâu chúng ta bị thất bại bởi nó nên chính ta cũng không biết ta là ai nữa kia. Thí dụ hôm nay ta là người thiện nhân, ngày mai ta lại là quỉ sứ, đó là do cái biến đổi của tính khách quan ở trong đời sống tương tác giữa tâm vật mà làm cho chúng ta biến đổi theo. Vậy thằng khách quan nó rất nhiều chuyện vì nó luôn liên quan đến thằng chủ quan, nó luôn luôn tạo thành một nhịp cầu trong đời sống tương tác mà không tách rời nhau. Rồi không ngờ là thằng khách nó lại quậy thằng chủ tơi bời có khi không yên nghỉ được.
Như vậy, cái vạn pháp ấy dù nhiều lớn vô cùng đi nữa thì nó vẫn là cái ngọn, nó không thể chuyển hóa và thay làm gốc được. Nó chỉ trở về gốc chứ chính nó không thể làm gốc được. Nó chỉ là vạn pháp hóa làm cầu nối cho sự chuyển động và hình thành những giá trị tinh hoa trở về làm chủ, gọi là vạn pháp qui tôn. Khi biết được như vậy rồi thì chúng ta không theo các pháp, mà chúng ta lại điều ngự các pháp không để các pháp hấp dẫn chúng ta, rồi chúng ta lại phóng theo nó.
Đây là vấn đề minh triết là chiến lược hóa làm cho chúng ta hiểu và xác định về nguyên lý giá trị đời sống nó. Giống như tất cả những ổ khóa, thì mỗi ổ khóa đều có cái chìa của nó. Thì đây là ta dùng chìa khóa đúng qui cách, thì mới mở ra cửa đó. Như vậy chúng ta không nô lệ các pháp thuộc về ngọn, thuộc về khách, vì các pháp vốn dĩ nó vẫn là giá trị được sinh, là phương tiện hóa nhằm mục đích để làm tăng trưởng giá trị của cái gốc. Mà chúng ta lại lầm nó nên bỏ gốc theo ngọn, người bỏ gốc theo ngọn là 80% còn người quay về gốc để điều phục cái ngọn thì rất ít. Vì sao? Vì loài người là tương tác giữa tâm và vật, nên thường là phóng thức đi ra mà không mấy ai quay thức trở về. Vì lầm lẫn sự hấp dẫn của các pháp, cái không biết mà cuối cùng nó làm cho cái biết chúng ta đau khổ.
Vậy, chúng ta thu liễm tất cả những cái ngọn đó trở về cái gốc để điều tiết cái ngọn đó thì chúng ta sẽ có cái tâm pháp hội tụ, khi chúng ta biết được nó rồi thì trở thành có nguyên lý, có cái tiêu chí và đích thực của giá trị về tâm pháp để chúng ta hoàn bị cả tâm và pháp, chúng ta mới sống được trong tâm pháp, mới làm chủ được tâm pháp, bão hòa được tâm pháp và bây giờ tâm pháp không còn mâu thuẫn nữa.
Nếu chúng ta đặt vấn đề trở về nhất thể là không thì đó là hoàn toàn sai. Mà trở về nhất thể là hội tụ một cách toàn diện mà trung tâm pháp tính không bị mất một thứ gì của tâm pháp cả. Ta tiếp tục hóa thân và ứng thân, thì ta lại tiếp tục dùng các pháp, như vậy thể dụng của các pháp lại tiếp tục chuyển động và hình thành, mà chúng ta không bị mắc kẹt trong tâm pháp. Như vậy, chúng sinh bị mắc kẹt trong tâm pháp, thánh hiền cùng các bậc đại trượng phu không bị mắc kẹt trong tâm pháp, vì các bậc ấy đã trở về gốc, đã nắm cái gốc rất vững để điều phục tất cả những cái ngọn và không bị các pháp ngọn làm đảo lộn cái tâm pháp gốc đó.
Đức Phật nói rằng: Khi ngươi chưa trở về chân tâm thì tâm vô thường làm chủ các ngươi, các ngươi sẽ không biết ngươi là ai. Vì hôm nay ngươi nói A, rồi chốc nữa ngươi nói B, ngày mai ngươi nói C, ngươi luôn thay đổi liên tục thì làm gì ngươi biết ngươi là ai. Vì không có chữ thường nên con người trở thành nhiều mặt, mặt đen, mặt đỏ, mặt trắng, mặt vàng… Như vậy, khi chúng ta trở về chữ thường của chân như, chúng ta có một mặt trạng tuyệt đối về sự bình an của chân tính, có nghĩa ròng của nó là lưu ly, pha lê. Lúc bấy giờ, chúng ta chỉ có một mặt chứ không còn nhiều mặt. Như vậy, khi con người chưa thắng phục được các pháp, giữa tâm và pháp chưa trở về tụ và chưa định nghĩa ra được tâm pháp, chưa giải quyết được tâm pháp thì con người đó sẽ không bao giờ biết chính họ. Vậy khi mà ta về chính ta là trở về cái gốc, thì lúc bây giờ ta sẽ biết được ta và ta cũng không bị biến đổi nữa.
Thí dụ như: Pháp tính là chủ xe, là ông tài xế xe; pháp thể là đầu máy xe, là khách. Người điều động chiếc xe là ông chủ và chiếc xe chỉ có trách nhiệm là cơ động hóa trong tính chất máy móc. Như não bộ chúng ta là hệ thống máy móc tối siêu tinh vi và phức tạp để cho pháp tính điều động. Khi máy hư người chủ phải sửa, nếu sửa không được thì phải bỏ cái máy đó. Khi bỏ máy đó người chủ là tài xế vẫn còn nguyên không mất. Giống như ta bỏ cái đầu não của thân tứ đại cũng không mất pháp tính. Như vậy giữa pháp tính và pháp thể luôn liên quan như một hệ thống máy móc, điều ngự như một ông chủ và các công cụ. Thường là do chúng ta lầm cái hệ thống máy móc hấp dẫn đó, chúng ta mới phóng thức vượt ra khỏi pháp tính và bỏ pháp tính gốc đó mà đi theo ngọn nên gọi là: phóng thức theo các trần lao, ở trong sắc thanh hương vị xúc pháp đó. Vì nó liên quan đến sáu căn, mắt tai mũi miệng thân ý, nó liên quan đến sáu thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Chính sự liên quan đó nó hấp dẫn sáu căn và chính sáu căn làm cho chúng ta lầm lẫn. Khi chúng ta hiểu được rồi thì chúng ta trở về điều ngự pháp tính, thủ trì và chuyên luyện hóa pháp tính. Mà khi chúng ta thủ trì được pháp tính rồi thì các pháp thể được quy túc. Cho nên về nguyên tắc định chiếu của nhà Phật: định là các pháp tụ, là tập hợp các pháp qui tôn; loạn là các pháp phân hóa và biến đổi làm cho pháp tính chúng ta bị nhiệt não khổ đau trong sự biến đổi đó. Như vậy khi chúng ta hiểu được công luật thì chúng ta trở về trung tâm để điều hợp pháp tính. Khi trở về điều hợp pháp tính thì vạn pháp lại tập hợp về, gọi là vạn pháp qui tôn. Khi chúng ta phóng thức ra ngoài, thì làm cho tâm thức duyên theo các pháp đó, mà pháp tính bị đảo lộn. Đảo lộn là do sự phân biệt giữa cái đúng, cái sai; cái thiện, cái ác; Còn đối với pháp tính thì bản chất của nó là trong sáng, vì nó định chiếu nên soi rọi và tránh mọi sự lầm lẫn trong các pháp. Nên không sinh ra pháp ác, mà sinh ra pháp thể chân thật, là trở về cái chân thật của pháp tính, tức tính của nó là toàn thiện thì an vui hạnh phúc ở chỗ toàn thiện đó. Như vậy, li khai pháp tính tức phiền não khổ đau, nhập hóa nhập lưu định chiếu pháp tính là an vinh hạnh phúc. Hạnh phúc đó không phải là mời gọi, mà hạnh phúc đó có là do công thức chuyển động và hình thành theo tính khoa học của qui luật trở về với chân tính.
Ví như đức Phật đã vào bờ rồi, Ngài thấy chúng ta còn lênh đênh trên biển cả, nên Ngài tung ra những chiếc phao pháp để chúng ta nương phao đó mà dùng sức đạp vào bờ. Ngài tung phao đó là công thức hóa pháp tạng, là phương pháp nâng đỡ cho chúng ta nương phao đó mà vào bờ. Quay trở về bờ tức là quay trở về pháp tính, là bờ của chân tính, bờ của pháp tạng, bờ của chân như, bờ của tri thức ánh sáng.
Trong đời sống của biển cả trần lao nó vô cùng hung hãn mà chúng ta không thể dễ dàng vượt ra được nó. Chúng ta chỉ có quay trở về mới vượt được nó, còn nếu chúng ta tiếp tục buông thả ra đi phân thức và tác động vào trong đại dương của sự khổ đau, thì chúng ta sẽ bị mênh mông trong sự khổ đau đó và không bao giờ được hạnh phúc.
Chúng ta sống với nhau và tạo các nghiệp khác nhau, thì chính các nghiệp khác nhau đó nó dẫn chúng ta đi vào những con đường khác nhau trong lục đạo. Làm cho chúng ta gặp nhau hôm nay rồi không còn gặp nhau nữa. Còn nếu chúng ta sống và làm đúng công thức của sự quay trở về, thì khi chúng ta thoát thể tất cả sẽ được hạnh phúc và ở cùng nhau. Đức Phật nói: “trong một vạn tôn giả đó họ đang sống ở đây trong sức mạnh của sự tu chính và giải thoát, đến khi trở về trong đại hội thì tất cả đều được dự hội, vì họ đi giống ta nên họ ở cùng ta và họ gặp ta mãi mãi”, đó gọi là đồng tính pháp.
Vậy cuộc sống chúng ta tuyệt đối có đời sau, thì chúng ta phải tu học cho tốt để chúng ta có một ngôi vị, một quả vị tốt và chúng ta có một đời sau thật tốt, mà bắt đầu từ hôm nay.
Tâm và pháp rất mênh mông và bao la, nó rất phức tạp và mâu thuẩn, nhưng khi chúng ta biết được nó rồi, thì tâm và pháp nó là anh em, nó là gốc và ngọn, là cái để chúng ta phát triển trở về hoàn thiện chính ta.
Một khi hiểu được nguyên lý trung tâm thì chúng ta bắt đầu quay về, vì quay về là phản bổn là gặp lại mình. Còn ra đi là ta bỏ chủ thể chân tâm mà đi theo cái hư huyễn của vọng tâm.
Chúng ta có mặt trên hành tinh là một thực thể mà chúng ta không thể chối bỏ thực thể đó. Vì trung tâm vạn năng có thực, hành tinh có thực, và con người chúng ta có thực, tất cả đều có thực, là sự thực của gốc và ngọn.
Trước đây vì lầm nên chúng ta bỏ gốc theo ngọn, khi chúng ta giác ngộ rồi thì chúng ta lại trở về gốc để điều phục cả gốc và ngọn, thì chúng ta sẽ được sống đời đời. Trở về trung tâm, trở về chân tâm là gốc, là quyền lợi tuyệt đối của chính ta.
Thống hóa đã cho mỗi con người một hạt tâm, một linh hồn, thì ngài muốn linh hồn chúng ta được phát triển trở về gốc, để được độc lập sống trong trung tâm thường trụ đó. Như vậy, duy tâm thượng trung tâm vạn năng là vũ trụ quan, là phần đại ngã. Duy tâm hạ ý thức tương tác là phần nhân sinh quan, là tiểu ngã. Giữa tiểu ngã và đại ngã có một hệ thống rất là chặt chẽ, nên nguyên tắc tiểu ngã phải trở về đại ngã. Nếu tiểu ngã mà tiếp tục ra đi thì trở thành phân biến, càng ra đi thì càng phân biến đến cực vi tiểu ngã, biến thành các loài như hóa sinh, thấp sinh, noãn sinh v.v…Vậy càng trở về thì chúng ta càng lớn dần. Trở về bằng những pháp môn trị liệu của ba thừa, bằng những phương pháp tu chính rất cơ bản, như những bài thuốc trị liệu các chứng bịnh mà trước đây chúng ta đã từng bệnh. Đó là bệnh lầm lẫn sai biệt, bệnh vô minh, bệnh chối bỏ gốc hoặc quay lưng đi. Thì bây giờ chúng ta hãy nhờ ba thừa kinh, vì đó là kho tàng linh dược mà chư Phật đã chế biến rõ ràng, thì chúng ta phải uống những loại thuốc đó để dần dần chữa được các loại bệnh đó, để chúng ta trở thành những con người có một tâm chủ mạnh khỏe, đứng vững trong đời sống vũ trụ của thời gian và không gian mà không còn sợ chết nữa.
Chúng ta không sợ chết là dấu hiệu sạch bệnh tâm, chúng ta không bị biến đổi tâm thức vô thường, chúng ta không dính nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng và ngã tướng, là chúng ta đã sạch bệnh tâm, chúng ta không bị đoạn kiến tức không cho rằng chết là mất, đó là sạch bệnh tâm. Chúng ta ở trong con đường thường chiếu, các pháp không còn bị phân tán nữa mà trở về một gốc thành tựu chân tâm pháp tính thì vạn pháp có đủ, tâm pháp đã hợp nhất rồi thì đó là con đường hạnh phúc vĩnh viễn.

CHƠN TÂM VÀ VỌNG TÂM

Giữa cái vọng và cái chơn chúng ta rất dễ lầm nó vì vọng là cỏ mà chơn là đất. Cỏ luôn gắn liền với đất, nhân đất mà có cỏ nên chúng ta dễ lầm nhận cỏ ấy làm tâm.
Ví như sóng từ nước sinh ra, sóng là sự biến đổi từ tính yên lặng của nước tạo ra, thì sóng đó thuộc về vọng. Trong sóng không bao giờ có tính phản chiếu, vì sóng là sự biến động làm mất đi thực thể vắng lặng của nước. Tuy nhiên sóng và nước là một nhưng sóng khác nước là ở chỗ chuyển động làm mất đi tính ánh sáng phản chiếu. Chỉ khi sóng trở về sự yên lặng của mặt nước mà không có gợn thì bây giờ mới phát ra sự phản chiếu. Vậy chơn tâm là mặt nước không bị biến đổi, còn vọng tâm là sóng đã biến đổi.
Như tôi đã ví dụ ở phần trên thì chân tâm là thực địa, còn vọng tâm là cỏ từ thực địa ấy sinh ra. Chúng ta hãy lìa cỏ, lìa các thực trạng ở phần trên của đất để quay về thựa địa thì phần bên dưới là đất, thì đất là chân tâm, còn cỏ là vọng tâm.
Như vậy, cái gì biến động mà không có ứng tác sở trí của định chiếu thì đó là vọng tâm. Muốn tránh được vọng tâm thì luôn luôn chúng ta phải giữ con đường bát chánh đạo mà đi, dần dần chúng ta sẽ trở về chân tâm. Bát chánh đạo đầu tiên là chánh kiến, tức là cái thấy của chúng ta bằng nghĩa chánh. Như chúng ta thấy muôn sự vật trên đời, nó luôn luôn biến đổi chuyển động không dừng lại, đó là thấy chánh. Hoặc như ta thấy vật chất là vô thường nhưng trong vật chất nó vẫn có tính thường trụ, thì đó là thấy chánh.
Bát chánh đạo là phương pháp lập thiền, còn thất giác đạo chi là tinh chế thiền định để đưa chúng ta trở về chân tâm. Khi có chân tâm thì chúng ta có chân ngã.
Vậy mặt bằng của duy ngã là phải hóa, phải dùng phương pháp để hóa, tức hóa vọng thành chơn, hóa cái sai biệt của ý niệm trở về trung tâm hóa cái chấp trước của vạn pháp, cái dính mắc và kẹt trong vạn pháp ấy mà trở về để ăn cái tinh hoa vạn pháp và không còn bị kẹt trong tướng vạn pháp, thì đó là hóa chân tâm. Tức là chúng ta không kẹt trong tướng vạn pháp mà lại biết ăn cái tánh của vạn pháp, và tập hợp tinh hoa vạn pháp trở thành một khối lớn thì vạn pháp không còn bị biến động nữa.
Đạo của sự sống trở về chân tâm là đạo của trung đạo và không có sở kiến chấp. Con người nào có nhiều sở kiến chấp thì đồng nghĩa có nhiều vọng tâm.Càng kiến chấp là càng vọng tâm, càng bị kẹt vào các sắc tướng, thì đó là lực hấp dẫn cho vọng tâm. Kẹt trong các âm thanh mà không tinh lọc được âm thanh của từng cao thì cũng bị vọng tâm. Kẹt trong các hương vị mà không tinh lọc được tính tinh hoa không biến thể của hương vị thì cũng bị vọng tâm. Mọi sự xúc chạm mà không thù thắng nó, không có lối thoát, không giải được mà bị mê đắm thì đó là vọng tâm.
Vì vậy, chúng ta phải vững trên con đường bát chánh đạo. Nhờ có chánh kiến mới có chánh tư duy, nhờ có chánh tư duy mới có chánh ngữ, nhờ có chánh ngữ mới có chánh nghiệp, nhờ có chánh nghiệp mới có chánh mạng, nhờ có chánh mạng mới có chánh tinh tấn, nhờ có chánh tinh tấn mới có chánh niệm, nhờ có chánh niệm mới có chánh định. Vậy chánh niệm là then chốt, là tập hợp sức mạnh của ý niệm chân chánh để vào chánh định. Vậy, thấy chánh, nghĩ chánh, làm chánh và niệm chánh để giữ yên bờ cõi tâm pháp là nền tảng để chúng ta vào chân tâm.
Con người chúng ta có tổng tinh hoa rồi, nhưng phải tinh lọc tinh hoa để có vàng ròng, để có chân tính ròng. Nếu không tinh lọc tinh hoa thì chắc chắn chúng ta sẽ bị quặng cấu ở trong phần tinh hoa tính ấy. Về vàng thì nguyên tắc là sinh từ đá, nhưng khi hình thành vàng thì vàng vẫn để lại cái quặng nhất định của nó. Nên buộc chúng ta phải ly tâm phân kim và loại trừ quặng ra khỏi đời sống của vàng thì chúng ta mới có vàng mười. Vậy vàng mười là chân tâm, quặng là vọng tâm. Loại quặng ra khỏi đời sống của vàng chúng ta sẽ có tinh thể ròng vàng. Loại hoặc lậu ra khỏi đời sống của tổng tinh hoa chúng ta sẽ có chân tâm. Chúng ta không nhằm lẫn cái sóng ấy mà trở về sự yên lặng của mặt nước, là không nhô lên bất cứ một móng niệm nào thì lúc đó ánh sáng từ chân tâm phản chiếu. Thì chính pháp là chỗ này, chân lý sự thật là chỗ này.
Nếu chúng ta thiền định mà phát ra vọng đĩa bay, vọng tam thiên đại thiên thế giới, vọng cảnh sắc nhà Phật, vọng cõi thiên đàng, vọng các tướng trang nghiêm của Phật… Đều là các tướng pháp hư huyễn của ý niệm vọng ra mà thôi, chứ không có thực thể cảnh Phật. Mà cảnh Phật là chân tâm, cảnh Phật là kiến tánh, cảnh Phật là tánh bất biến không bị xao động, đó mới là cảnh Phật, là nhất thể không bao giờ thay đổi.
Chúng ta phải hiểu rằng cảnh Phật là sự soi chiếu trong ngoài vẳng lặng trong suốt như pha lê lưu ly, ánh sáng tỏa ra như kim cương tính mà không có một chút gợn. Đó là thực thể chân tướng của Phật.
Phật là kim cương thì đâu có một cái hoặc nào trong kim cương đó. Phật là vàng ròng thì không có một cái quặng cấu nào trong vàng ròng đó. Thì đó là thực tướng và cảnh giới của Phật đó. Nếu được như vậy thì đối với tam thiên đại thiên thế giới này đều là cảnh Phật cả. Đối với đất nước gió lửa và sông núi là cảnh Phật cả, và những gì vũ trụ có là nơi đó đức Phật đều có thể hóa cảnh trí Phật. Thực thể của Phật là cảnh trí viên giác, là chân tính ánh sáng viên dung không thuộc về hình thể sắc tướng. Vì tất cả những gì có sắc tướng thì bị biến đổi, bị thành trụ hoại không, bị sinh trụ dị diệt. Tất cả những tướng ấy không thực có trong đời sống của chúng ta, nó chỉ là cái bóng mà thôi.
Chúng ta trở về thực tướng, biết cái bóng ấy là khách quan tự nhiên của vũ trụ nên nó không làm gì thay đổi được chúng ta. Chư Phật trở về thực tướng và thành tựu chân tâm kim cương nên đến bất cứ trong tam giới, dù là chỗ tận cùng đau khổ của chúng sinh thì cảnh trí của Phật cũng không bao giờ mất.

GIẢNG NGHĨA VỀ PHÁP TẠNG
Hôm nay chúng ta định nghĩa để làm sáng tỏ về hệ thống pháp tạng một cách khách quan tinh ròng mang tính minh triết. Để không còn bị vướng mắc hoặc kiến chấp ở một quy trình nào nữa, mà chúng ta nhìn nhận pháp tạng một cách chân thật.
Đứng trên tinh thần công luật học thì pháp tạng là hệ thống pháp tính và pháp thể, tổng thể tinh hoa vũ trụ quan. Định nghĩa pháp tạng là tính tổng thể tinh hoa vũ trụ quan kể cả pháp tính và pháp thể. Nếu đặc ra chỉ có pháp tính mà không có pháp thể thì làm sao để kết tinh được tinh hoa tinh ròng cuối cùng của giá trị pháp tạng. Ví như pháp tạng là liên hoa thì liên hoa ấy từ bùn mà ra. Vậy bùn chính là nền tảng của pháp tạng. Như vậy thế giới nhị nguyên là nền tảng của pháp tạng và thân ngũ ấm là nền tảng và là giá trị biện chứng pháp của pháp tạng. Như vậy pháp tạng hoàn toàn không có sự phân biệt trong ranh giới giữa hữu và vô. Còn nếu chúng ta phân biệt và làm cho giá trị hữu và vô ấy bị biến đổi là không thuộc về kho tàng pháp tạng.
Đối với kho tàng pháp tạng là bất ly thế gian pháp để thiết lập kho tàng pháp tạng trong sự nghiệp hóa thân của tam thiên đại thiên thế giới. Về phần thể thì tam thiên đại thiên thế giới là nền tảng của kho tàng pháp tạng. Như vậy định nghĩa pháp tạng là tất cả tổng thể tinh hoa về mặt lý sự, về mặt tính thể và dung thông không bị trở ngại, thì đó là pháp tạng chính thống.
Nguyên tắc của pháp tạng là phải dung thông, nhưng nếu chúng ta còn bị kẹt trong chỗ phân biệt đối đãi thì chỉ ở biên bìa của pháp tạng mà thôi. Thế thì các pháp chính thống sẽ giúp chúng ta vào trong trung tâm của pháp tạng để điều ngự được pháp tạng và nắm giữ được tất cả những mối quan trọng nhất của hệ thống chuyển động pháp tạng và hoàn toàn không bị trở ngại trong hệ thống pháp tạng ấy.
Như vậy những pháp bất tương ưng là những rào cản sẽ không đưa chúng ta trở về kho tàng pháp tạng được, và chúng ta sẽ không bao giờ đạt được bửu ý và vô tận ý pháp tạng được.
Chúng ta phải thấy pháp tạng đã hiển nhiên trong sự nghiệp kho tàng vô tận của vũ trụ quan và nhân sinh quan; là nơi nào có sự sống của phần tính và thể thì nơi đó có pháp tạng. Nghĩa là pháp tạng không có biên giới. Vì sao? Vì không thể tách pháp tính ánh sáng vô biên mà thực hiện công trình pháp tạng và các pháp thể tương tục sinh diệt vô tận không chấm dứt cũng không có luôn. Như vậy chân đế của pháp tạng là trung tâm, hay tối thượng đế của pháp tạng là ba trục kinh chủ. Chỉ có khi nào ba trục kinh chủ bị sụp đổ hoàn toàn thì pháp tạng trong hệ thống sống của mười phương Như Lai và pháp giới mới bị chấm dứt. Vậy pháp tạng của chân tính ánh sáng vô biên là tính thường trụ. Còn pháp tạng ở lập thể vì do chưa quay về hệ thống pháp chính thống nên nó bị vô thường. Như vậy tính cứu cánh của pháp tạng hoàn toàn có thường trụ, nhưng mà phương tiện bất tương ưng của tính pháp tạng thường trụ ấy bị thay đổi là do chính nó lầm lẫn.
Pháp tạng là tính kho tàng mà con người phải khai thác và tìm kiếm nó; phải xác định tính chất kho tàng để trở về với kho tàng. Như vậy ta là con người sinh từ kho tàng hãy trở về với kho tàng và sinh từ pháp tạng hãy trở về với pháp tạng.
Pháp tạng tổng thể của nó được chia cho rất nhiều phương án, công án, rất nhiều pháp môn và phương tiện để dẫn chúng ta đến kho tàng pháp tạng vô biên ấy mà sống đời đời trong trung tâm kho tàng pháp tạng ấy.
Pháp tạng nếu ở trong hành vi thì có bất tương ưng và tương ưng. Nếu tương ưng là hệ thống chính thống pháp tạng. Còn bất tương ưng thì làm biến đổi tính chính thống và làm cho pháp tạng của giá trị tính bị che khuất.
Ví dụ như pháp tạng của ông Đề Bà Đạt Đa bị che khuất là do lòng tham vọng, hoặc pháp tạng của ông A Nan bị che khuất là do ông nhớ quá khứ và hiện tại quá nhiều mà không bao giờ quay về trục chân như nên không vô được cửa vô ngại.
Như vậy ở một góc độ nào thì giá trị pháp tạng cũng đều ứng giải cho chúng ta. Và khi chúng ta không còn bị lệch giá trị trục của pháp tạng thì kho tàng pháp tạng được hiển nhiên trong đời sống của chúng ta.
Đối với tam thừa tạng kinh là lập phương tiện nghĩa lý để giải thông cho tổng thể của pháp tạng trong vũ trụ quan và nhân sinh quan. Vậy thừa ấy lấy từ đâu ra? Thừa lấy từ tổng thể tinh hoa ra và lấy từ trục bất biến không sinh diệt để làm thừa. Bởi vì khi chúng sinh còn có tăng giảm thì có thừa, nhưng đến khi hết tăng giảm thì tam thừa này cũng hoàn toàn không có, mà chỉ có một kho tàng duy nhất mà thôi.
Như vậy có thừa là vì giá trị tiến hóa không đồng đều và sự tiến hóa của giá trị pháp tạng chưa trở về thống nhất, nên Như Lai đưa tam thừa là nhằm mục đích đưa chúng sinh đến chỗ thống nhất.

Thế nào là bất lập văn tự và giáo ngoại biệt truyền?
Nghĩa này muốn nói là không còn đem giáo lý để mà truyền bá nữa. Giáo lý là phương tiện lập thể, là các ngôn ngữ chữ viết và là nghĩa lý của các kinh kể cả hệ cấp tối thượng thừa. Thì trong hệ cấp truyền bá, từ các nghĩa lý truyền bá, văn tự ngôn ngữ truyền bá thì không truyền bá nữa.
Trực chỉ chân tâm cho đối với người đã sạch các nghiệp lậu nhưng lại còn kẹt một chút xíu về ngã sở; cũng giống như chúng ta lột bẹ cây chuối; khi lột gần đến lõi, bẹ đã kề sát với lõi nhưng chưa phải lõi, mà ta lại tưởng lầm đó là lõi. Thì Đức Tổ mới chỉ cho cái bẹ cuối cùng đó cực kỳ mỏng còn dính trên lõi chuối đó. Vì thế mà Tổ mới dùng một biện pháp mạnh để làm cho người kiến chấp sở ngã về năng lực của mình, đó gọi là bị ảo giác năng lực cuối cùng. Vì ảo giác năng lực cuối cùng là nguy hiểm nhất của các bậc thánh, vì mình chưa chứng quả mà lại cho rằng mình chứng quả. Thường thường đối với các tổ truyền nhiệm và giải quyết vấn đề này là thuộc về công vụ, thuộc về vai trò và sự sắp xếp cho việc kế thừa hoặc có liên quan đến kế thừa.
Người còn kẹt ở nghiệp là còn bị mọi sự rào cản không bao giờ trực chỉ chân tâm được, mà trực chỉ chân tâm là phải sạch hoặc lậu, sạch nghiệp lậu và hoàn toàn làm chủ được các nghiệp, tức là chuyển được nghiệp thì đó là đầu đời của trực chỉ chân tâm.
Như vậy ông Thần Quang Trực chỉ chân tâm không phải trong thời kỳ làm quốc sư cho vua Lương Võ Đế, mà là thời kỳ sau đó chín năm tại núi Tuyết Sơn. Vì khi đó Tổ Đạt Ma biết Thần Quang quả đã già nhưng chưa chín nên Ngài phải đợi đến chín năm sau. Khi quả Thần Quang đã chín thì sự bừng sáng và hối thúc trong ông phải đến gặp Tổ. nghĩa là ông đã ngộ ra rằng: trước đây ta đã gặp Tổ mà lại không biết Tổ. Đó là do ảo giác năng lực cuối cùng còn sót lại trong ông. Và khi ông đến gặp Tổ thì Tổ nói rằng: “Ngươi hãy cho ta một nắm tuyết hồng” Lúc bấy giờ Thần Quang liền hiểu cái ngã tướng cuối cùng ta chưa đánh sập nó. Nên Ngài liền chặt đứt cánh tay, là đồng thời một sự bức phá ngoạn mục, nhưng khi chưa chặt xong cánh tay thì ông đã kiến tính. Vậy câu bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật” là Tổ Đạt Ma nói để truyền tâm ấn cho Thần Quang ngay lúc đó.
Tóm lại, câu bất lập văn tự là dành cho những bậc vô học, còn đối với những người còn trong phạm vi hữu học là còn phải tiếp tục lập văn tự, ví như trứng gà đã ấp thành con rồi thì không cần phải cho mẹ nó ấp nữa. Còn cái trứng ấy chưa thành con thì cần phải tiếp tục cho mẹ nó ấp. Vậy lập văn tự cho những trứng gà hoàn toàn chưa thành con, và bất lập văn tự cho những trứng gà đã hoàn toàn thành con. Như vậy chúng ta đã xác định được lập văn tự cho ai, và không lập văn tự cho ai. Còn trực chỉ chân tâm thì ai là trực chỉ được và ai là không trực chỉ được.
Vậy chúng ta phải hiểu Ma không thuộc về cái bóng, mà ma là sự ma sát của ý thức phân biệt, ma sát của ý thức nghiệp lực, ma sát của ý thức tâm pháp và ma sát của những thứ làm cho mình quá khổ đau, luôn luôn dập dẫy, mệt mỏi khắc khoải và bị băng hoại bởi những vực thẳm trước mắt và hai bên. Nên Đức Phật nói: chính nó là ma mà nó lại sợ người khác là ma. Như vậy chúng ta xác định tất cả những sự hư dối đó là ma. Như những người nói Pháp Phật mà không có giá trị như Phật và hoàn toàn không chiếm lĩnh được giá trị tinh hoa của Phật, là không có thực tướng Phật thì người ấy là Ma.
Những người còn dãy đầy nghiệp lực mà tự cho mình là trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật là tự hư dối với chính mình. Và nếu tiếp tục hư dối với chính mình thì ma nghiệp của chính mình nó sẽ luôn luôn tấn công và không bao giờ dừng được.


18 GIỚI XỨ
Hôm nay chúng ta minh bạch về vấn đề 18 giới xứ có biến đổi không? Chúng ta phải xác định rằng tất cả muôn hình tướng có đều từ một gốc mà ra. Như gốc là từ kim loại nắn ra, hoặc là từ cục đất nắn ra, đó là tính biện chứng. Như vậy nếu nắn ra hình thể con người và muôn hình thể của các loài khác thì từ đâu mà có?
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ xác định 18 giới xứ như thế nào?
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, như chúng ta đã học và biết rằng mặt bằng trung tâm duy ngã vạn pháp kinh là biện chứng tổng hàm hoa của vũ trụ. Thì nhân bản duy ngã đại thể là mang tính biểu trưng cho tổng hàm hoa đó vì nhân bản duy ngã đại thể là hội đủ tổng tinh hoa của siêu sắc thể và sắc thể. Như vậy tất cả vạn pháp được hình thành ra trong mặt bằng của thế giới nhị nguyên cũng như tất cả các thế giới ngân hà, thiên hà thì từ trung tâm vạn năng, tổng tinh hoa siêu sắc thể của chân tính siêu cực hóa sinh.
Như vậy chúng ta có 18 giới xứ của sáu căn, sáu trần và sáu thức là 18 phương tiện hóa tâm pháp. Nó không phải là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để kết tinh tâm pháp và dẫn đến sự cứu cánh. Mà phương tiện này là đặc trưng cho nhân bản duy ngã đại thể? Vì chỉ có nhân bản hạt tâm đã tròn đủ nhân tế phật tính thì mới có ý thức. Như vậy sáu thức này là sự hiểu biết của sự phân biệt, chứ không phải là hiểu biết của sự tròn đủ như ánh sáng chân tính. Cho nên chúng ta thường bị kẹt ở trong chỗ 18 giới xứ này. Vậy 18 giới xứ này được sinh ra từ trung tâm vạn năng chân tính ánh sáng của hạt tâm lý tính và chính chúng ta có hạt tâm lý tính thì mới hóa được phương tiện 18 giới xứ đây. Như vậy nó chính là phương tiện nhập hóa tổng tinh hoa từ sắc thanh hương vị xúc pháp để chúng ta trở về thành tựu tâm pháp một cách viên mãn. Nếu chúng ta lầm và nhận 18 giới xứ làm tâm, thì ngược lại nó sẽ làm chủ ta và chúng ta sẽ bị kẹt chỗ này, mà không trở về được với chân tâm thực tướng của mình.
Ngài dạy: xác định về cái nền của tính biện chứng như con người ta lấy đất tạo ra muôn hình thể. Nhưng thực tế phải có tri thức hiểu biết kết hợp với cục đất đó để làm ra mọi hình thể hoặc phải có tri thức hiểu biết tác động vào kim loại để tạo ra mọi hình thể.
Như vậy chúng ta lấy cái biết kết hợp với kim loại, cái biết kết hợp với cục đất thì mới nắn ra được muôn hình vạn trạng. Vậy nếu ta tách một trong hai cái ra thì sẽ không nắn được gì cả. Vậy đây là một định luật muôn đời và mãi mãi vĩnh cửu mà không thể thay đổi.
Vậy nếu ta tách vật chất ra khỏi đời sống của tri thức hoặc tách tri thức ra khỏi đời sống của vật chất thì sẽ không làm ra một tác phẩm gì cả. Vậy phải có cả tri thức và vật chất mới có thể làm ra được tác phẩm. Bây giờ chúng ta nâng lên một tầng cao hơn thì chúng ta xác định có trung tâm vạn năng. Vì nếu không có trung tâm vạn năng và không có hạt tâm lý tính tổng hàm hoa siêu sắc năng hóa sắc năng thì làm sao lập ra muôn hình thể đây.
Như vậy hệ thống duy ngã vạn pháp kinh là người ta nói đến siêu sắc năng và sắc năng. Tức là siêu sắc và sắc chớ không có không. Nghĩa của không trong bát nhã là vô sắc , thì vô sắc là siêu sắc năng. Như trong bát nhã nói rằng: “vô sắc tức thị sắc”, thì vô sắc tức là sắc, như vậy ý của bát nhã muốn nói sắc này là từ vô sắc mà ra. Vậy thì vô sắc là siêu sắc năng.
Ngài hỏi ông Chơn Đạt Pháp Trí, gốc của trung tâm vạn năng và hạt tâm lý tính có giới xứ không? Và có mất không?
Ông Chơn Đạt Pháp Trí: Thưa Cha gốc của trung tâm vạn năng và hạt tâm lý tính là không có giới xứ và không mất mà hình thành ra giới xứ.
Ngài hỏi tiếp hình thành ra giới xứ để làm chi?
Ông Chơn Đạt Pháp Trí: Thưa Cha để nhằm trong định luật hóa đối với tất cả vạn vật.
Ngài dạy: thành lập 18 giới xứ là nhằm mục đích để hóa hạt tâm lý tính kim cương bất hoại, đó là chính đáng nhất của sự nghiệp vũ trụ. Nhưng con người vì lầm lẫn cho 18 giới xứ đó là thực mà cuốn chạy theo nó và bị nó quay cuồng rồi điên đảo trong 18 giới xứ đó.
18 giới xứ đối với duy ngã đại thể là phương tiện, nhưng nếu duy ngã đại thể bị sụp đổ 18 giới xứ này thì trở thành sa đọa và khổ não. Như các loài ngạ quỷ thì 18 giới xứ trở thành nghiệp báo dữ dội, hoặc sụp xuống các loài động vật thấp thì 18 giới xứ không còn tròn đủ để hóa vì nó không có ý thức. Như vậy xét về 18 giới xứ có hai mặt, mặt thứ nhất là rất lợi khí cho hệ thống duy ngã đại thể, mặt thứ hai là rất nguy hiểm cho hệ thống duy ngã đại thể.
Nếu duy ngã đại thể bị sụp xuống các tầng A Tu la, ngạ quỷ, súc sinh và địa ngục thì họ không đủ 18 giới xứ để hóa, cho nên sự ràng buộc của 18 giới xứ đối với nghiệp lực là có một vận tốc lớn hơn và khủng khiếp hơn, cho nên về mặt lợi khí đối với những tầng độ ấy không có. Nhưng khi thăng hoa lên loài người thì 18 giới xứ tròn đủ; nếu là cấp hạ nhân thì năng động của 18 giới xứ kém hơn; nhưng nếu càng lên cao các cấp đại nhân hoặc trời thì 18 giới xứ càng mạnh hơn và sắc hóa vĩ đại hơn.
Như vậy 18 giới xứ nếu chúng ta giác ngộ nó, thì nó là mặt bằng và điều kiện của sự hóa tốt nhất cho tất cả mọi sự nghiệp cứu cánh. Nhưng nếu chúng ta lầm nó thì nó cũng là xấu nhất, vì nó làm tiêu hao hạt tâm lý tính, vì nó là móc xích, là dây chuyền nghiệp liên trùng cột ý thức ta trong 18 giới xứ đó.
Vậy chúng ta phải nỗ lực công phu và vận hành 18 giới xứ từ chiều hạ qua chiều thượng để kết tinh được kim cương chân tâm và không còn kẹt trong 18 giới xứ nữa, thì chúng ta được ở trong chân tính ánh sáng và hoàn toàn làm chủ 18 giới xứ. Và 18 giới xứ là phương tiện đời đời của Như Lai và không bao giờ bị mất. Còn đối với chúng sinh vì chưa ra khỏi 18 giới xứ nên trở thành nghiệp dĩ đời đời. Tức là nó ràng buộc giữa căn mắt đối với sắc, căn tai đối với âm thanh, căn mũi đối với hương, căn miệng đối với vị, căn thân đối với xúc và căn ý đối với pháp. Nó ràng buộc mà không cho chúng ta yên nghĩ bất cứ một giờ nào. Tức thân chúng ta biến động trong 18 giới xứ đó và tâm hoàn toàn bị trói trong 18 giới xứ đó. Và chính chúng sinh điên đão cũng trong 18 giới xứ đó.
Điên đão không bởi do thần kinh, vì thần kinh là yếu tố tập hợp cho tất cả những tác động của 18 giới xứ nên mới điên. Tức điên là vì hụt hẫn những lòng tham muốn về mắt, về tai, về mũi, về miệng, về thân và ý. Hoặc hụt hẫn về lòng si mê đối với mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Và vì ta mất mác tất cả những thứ mà cố cho là thực nên phát sinh ra lòng giận hờn đau khổ. Rồi tất cả những điều rối ren trong đời sống thì cũng đều từ 18 giới xứ đó.
Như vậy 18 giới xứ là mặt bằng để hóa, đưa chúng ta vào đỉnh vinh quang của kim cương chân tâm. Nhưng ngược lại nó cũng là mặt bằng để nhận chìm chúng ta vào trong cõi u minh. Đức Phật đã thấy về sự cấu trúc của hệ thống duy ngã và muôn loài cùng tất cả mọi sự chuyển động của các dòng nghiệp từ trong 18 giới xứ như thế và Ngài nói như thế. Như vậy đức Phật nhân vào cái thực ở trong đời sống của thế gian, của vũ trụ, của loài người mà nói. Tức là không nói thêm và cũng không nói bớt.
Như vậy con người muốn làm ra một tác phẩm nào thì phải lấy trí huệ, tư tưởng, ý niệm và kết hợp cùng một vật thể nào đó để làm ra tác phẩm. Như vậy là tổng hàm hoa siêu sắc năng hóa sắc năng là trung tâm vạn năng hóa lập thể là nhằm mục đích thiết lập 18 giới xứ để thực hiện những công trình cao nhất của vũ trụ.
Thành quả cao nhất của 18 giới xứ là hóa kim cương chân tâm, là kết quả cao độ nhất của hệ thống duy ngã đại thể. Thì công trình của duy ngã đại thể hoàn toàn nằm ở đây. Vậy chúng ta chớ lầm 18 giới xứ là nơi thực tướng mà phải biết rằng 18 giới xứ là phương tiện hóa thực tướng chân tâm kim cương.
Đức Phật hỏi đức Ca Diếp rằng: Hởi ông Ca Diếp, ông có thể ra khỏi 18 giới xứ ấy không? Đức Ca Diếp thưa rằng: Vì sự nghiệp cứu cánh cao nhất của muôn loài và rất nhiều những hành tinh xa xôi đang chờ tất cả những Bồ Tát, vì đại nguyện lớn nhất thì con nguyện ra khỏi 18 giới xứ ấy.
– Vậy thì ông còn giới xứ nào nữa không?
– Thưa Ngài, con còn giới xứ 19 là xứ sở của thường trụ, là xứ sở của mọi sự hóa thân và hoàn toàn không bị biến đổi, nên con được làm chủ 18 giới xứ kia.
Như vậy, đức Ca Diếp không chấp không của cái không mà bèn nói về xứ sở 19 là hoàn toàn ông có siêu hữu hóa trong sự nghiệp của 18 giới xứ, và hoàn toàn làm chủ 18 giới xứ để có một xứ sở vô biên.
Như vậy, sự nghiệp của chúng ta là sự nghiệp hóa 18 giới xứ và chuyển đổi 18 giới xứ ấy thành xứ sở thứ 19. Thì xứ sở ấy là vĩnh hằng để điều hợp và làm chủ 18 xứ sở trong không gian, thời gian và suốt những hành tinh thì chúng ta cũng đều làm chủ của chính nó.

TỊCH CHIẾU THỐNG NHẤT
Chúng ta sẽ làm sáng tỏ 2 trạng thái: trầm tịch và vọng tưởng, và đi đến tịch chiếu thống nhất.
Như trong Thiền quang tinh nhật chiếu, đó là thuộc về triết thiền, khoa học thiền, chân hành thiền và Công Luật thiền.
Định nghĩa của chữ Thiền là tinh lọc. Thì hành thiền nghĩa là cái động ấy thuộc về ly tâm, vì động ấy có mục đích nên không thuộc về vọng.
Nếu quan niệm yên lặng là thiền hoặc trở về tịch là thiền thì thiền đó không thuộc của đức Phật mà thuộc về những người cố chấp về định.
Đối với người Công Luật chúng ta thì thuộc về Triết thiền, nghĩa là đưa minh triết để làm sáng tỏ về giá trị tâm pháp. Đưa minh triết để làm công thức hóa, làm phương trình giải để kết tinh tinh hoa chân tâm.
Như vậy, hành thiền là làm công việc ly tâm và tinh lọc, đó là chúng ta có định hướng trở về. Còn nếu chúng ta không ly tâm thì nhất định chúng ta sẽ vọng tưởng theo bản năng.
Một khi chúng ta làm công tác tinh lọc là chúng ta đã hưởng thụ được trọn vẹn tinh hoa và những thứ không thuộc tinh hoa thì ta đào thải nó ra.
Một khi chúng ta trở về trạng thái trầm tịch là hoàn toàn ngưng động vấn đề phát triển trí huệ. Còn vọng tưởng là vọng những thứ không thuộc về chân lý, không thuộc về minh triết và không thuộc về kinh điển. Tức là vọng tưởng trong 6 thức, 6 căn, 6 trần.
Còn hành thiền là đem 18 giới xứ ấy trở về để mà thực hiện công trình kinh điển. Thì 18 giới xứ ấy vô cùng lợi ích cho kinh điển và kinh điển cũng vô cùng lợi ích cho chân tâm.
Như vậy, định nghĩa của tịch chiếu là thống nhất tư tưởng trong giá trị hóa và loại trừ các quặng cấu trong giá trị hóa và trở về sự sáng chói của tinh thần kết tinh và không cho ý thức phân hóa phát sinh những điều không có thực.
Như vậy, những ý tưởng phát sinh không có thực thì không thuộc về hành thiền. Còn những ý tưởng phát sinh có thực trong đời sống của chúng ta để đi đến cứu cánh thì gọi là hành thiền. Vậy hành thiền là chất liệu thực tướng của giá trị hóa và trở về kết tinh chân tâm. Thì hành nghĩa là ly tâm và thiền nghĩa là tinh lọc. Nên 2 chữ “Hành Thiền” đã trở thành công thức hóa chứ không còn là 1 sự tưởng tượng nữa.
Như vậy sơ cấp của hành thiền là người ta trở về để tinh lọc tâm pháp. Thí dụ như trước đây người ta theo tập quán của tư tưởng mơ hồ, của 6 trần, 6 thức, 6 căn. Thì bây giờ người ta phải quay trở về để xác định về giá trị tâm pháp bằng chánh kiến và xác định chánh pháp bằng chánh tư duy và cứ như thế mà thuần tập đến chánh niệm. Vậy chánh niệm không có nghĩa là ngủ, không có nghĩa là trầm tịch và vọng. Vì chánh niệm là sức mạnh tập hợp của sự tinh lọc đối với giá trị tư tưởng, thì chánh niệm là nền tảng để giải quyết vấn đề thuộc về trầm tịch và vọng tưởng.
Như vậy trong hệ thống thiền định, thì bát chánh đạo là nền tảng và chánh niệm là giá trị thống nhất của nhất tâm. Vì nếu chúng ta không trở về chánh niệm thì không bao giờ trở về nhất tâm. Nên chánh niệm là đầu đời của sự thống nhất nhất tâm, cũng là đầu đời của hệ thống tịch chiếu thống nhất.
Trong hàng ngày trừ khi chúng ta ngủ là trả về sự yên lặng của cơ học, của sinh lý học, của những cấu trúc về bộ máy hoạt động qua quá trình thời gian mà phải cho máy nghỉ. Nhưng khi chúng ta hoạt động trở lại thì kim chỉ nam của ý thức đó là chánh niệm. Nếu chúng ta không còn buông lung trong ý thức chánh niệm thì sẽ dẫn chúng ta đến sự tịch chiếu thống nhất rất dễ dàng. Như vậy đức Phật nói định là phát sinh từ chánh niệm. Nếu chúng ta đạt được cơ bản của chánh niệm và định thống nhất thì nhất định chúng ta sẽ phát được trí huệ và sẽ không có sự trầm luân ở trong chánh niệm và tính thống nhất của định.
Bởi vì định được tinh lọc từ chánh niệm, định được sống mạnh từ chánh niệm và thuần nhất chánh niệm đi đến nhất tâm. Cho nên đầu đời của nhất tâm là định. Và nhất tâm ấy nó đã thống nhất được giá trị tâm pháp. Không còn phân hóa tâm pháp, vì vậy nên nó đã thoát ra khỏi trầm tịch và vọng tưởng. Vậy chánh niệm là công trình của thiền định sơ cấp.
Nếu chúng ta hành thiền mà không ly tâm và không tinh lọc thì không thuộc về hành thiền. Như vậy trọng trách của hành thiền là ly tâm và tinh lọc chứ không phải là tưởng tượng. Vì càng tưởng thì càng xa lìa với thiền định. Tại sao vậy? Vì tất cả những quặng cấu và hoặc nghiệp nó còn đầy dãy trong ta, và ta lại tưởng những thứ đó thì làm gì có thực tướng. Khi ta chưa thay đổi được nghiệp dĩ và hoặc lậu còn nguyên vẹn trong ta thì dù cho ta có tưởng Phật thì Phật đó cũng thuộc về hư huyễn. Mà ta hãy dùng sức mạnh để tinh lọc nó. Nên sơ cấp thì đức Phật bảo hãy tịnh độ, nhưng khi lên trung cấp thì Ngài bảo hãy thanh lọc cùng tầm sát các hoặc lậu và ý niệm sai biệt trong đời sống của chính ta để chắc lọc được tinh hoa. Và khi lên cao cấp thì đức Phật lại nói về giá trị thiền định là “thiền tinh quang nhật chiếu”. Tức là hành tinh vẫn tồn tại mãi mãi và quay theo mặt trời để được tồn tại và kết tinh tinh hoa kim cương. Khi hành tinh nổ tung thì tất cả kim cương còn lại trong hư không vô tận và nó vẫn mãi mãi trong giá trị sống mà không bao giờ biến đổi.
Như vậy nếu hành tinh không hoạt động thì sẽ không kết tinh được kim cương. Và nếu chúng ta không hoạt động theo tính Công Luật định luật, quy luật thì chúng ta không kết tinh được chân tâm kim cương.
Chúng ta có quyền tưởng những thứ gì có thực, đó gọi là thực tướng. Và chúng ta không tưởng những thứ gì không có thực, vì nếu ta tưởng những điều gì không thuộc về định luật, quy luật thì đó là vô tưởng, ảo tưởng. Nên đức Phật cho phép phát sinh những tư tưởng thuộc về Công Luật, định luật và quy luật thì nó sẽ vào thiền tinh quang nhật chiếu.
Như vậy chân tưởng, thực tưởng là hóa trị được vọng tưởng. Chân tâm hóa trị được vọng tâm. Thì tính thống nhất tịch chiếu là hóa trị vọng tưởng và hóa trị trầm tịch. Vậy xác định về tính chánh niệm là đầu đời của giá trị thống nhất tịch chiếu.
Như vậy hành thiền là không cố chấp về sự yên lặng, và không cố chấp về vô niệm. Vì vô niệm không bao giờ có đối với hành giả chưa thành Phật. Và vô niệm không bao giờ có đối với các hàng thiện trí thức, các hàng học giả và kể cả các cao tăng. Người ta xác định về tính biện chứng là giá trị của thống nhất tịch chiếu và nhất tâm, chớ không có vô niệm. Như trong hệ thống Bát chánh đạo là từ chánh niệm sinh ra định và huệ, chứ không phải chánh niệm sinh ra vô niệm. Như vậy bản lai của giá trị định huệ là thực sự của bản thể siêu thể, là chân lý rực rỡ quang minh mà không bị một lực gì chi phối, thì giá trị ấy gọi là giá trị định. Có nghĩa là một khi ta thức trong đời sống mà không có gì chi phối đời sống của ý thức ấy thì đó là định huệ.
Như vậy khi chúng ta không còn bị cám dỗ của 18 giới xứ, đã làm chủ được 18 giới xứ và sống tự tại trong 18 giới xứ, thì đó là định. Tức là không tách lìa hoạt động của giá trị lập thể trong ánh sáng và hoàn toàn bất ly ánh sáng trong hệ thống định đối với hệ thống lập thể. Đó là định nghĩa của định.
Mọi hoạt động không tách rời giá trị ánh sáng và ánh sáng được soi chiếu trong mọi hoạt động ấy là định nghĩa của định.
Mọi sự thấy biết không sai lệch mà biết một cách chính xác về nghĩa lý và nghĩa lý đã làm sạch được tất cả mọi sự rào cản, đó là định nghĩa của định chiếu. Và nghe cũng thế, ngữi cũng thế, ăn cũng thế, xúc chạm cũng thế, và tác ý sở trí cũng không bị biến đổi tác ý sở trí, đó là định nghĩa của định huệ. Như vậy chắc chắn chúng ta sẽ được thấy 1 giờ, 1 phút, 1 giây trong giá trị định của hành giả mà chúng ta đã gặt hái được. Nếu chúng ta tăng tốc với giá trị định huệ cao hơn về thời gian và không gian và vượt ra khỏi thời gian và không gian thì chúng ta sẽ có một định huệ trọn vẹn. Thì đức Phật gọi đó là chỗ tột cùng của viên giác
Chúng ta phải thấy rằng: Một khi chúng ta chưa tinh lọc được vọng tưởng thì sẽ không có thực tưởng. Vậy thực tưởng được phát sinh từ giá trị ánh sáng. Một khi chúng ta thống nhất được tâm pháp, trở về gốc của sự thống nhất ấy và không bị biến đổi của tính thống nhất thì trầm tịch sẽ không bao giờ đến với chúng ta.

THIỀN NA – CHUYỂN NHIỆM Ý THỨC
VỀ CHÂN TÍNH
Bài này nhằm mục đích khai thị cho chúng con biết vận hành về thiền na mang tính hiện đại và khoa học của minh triết, là không bị ràng buộc mà lại thực tiển trong đời sống của bất cứ mọi giới nào cũng có thể thiền được. Chứ không phải thiền na là chỉ dành cho các ông thầy tu ở chùa mới làm được, còn người công nhân hoặc các giới trí thức thì không làm được thiền na.
Thường thì con người lại quan niệm và cố chấp rằng: Vô niệm là thiền na, hoặc nhất niệm là thiền na, hoặc phải ngồi định tâm là thiền na…Nếu đứng trên tinh thần công luật minh triết thì thiền na là chuyển nhiệm ý thức về chân tính. Tức là chúng ta thực hiện công trình chuyển nhiệm, là đưa ý thức ấy trở về chân tính và giác ngộ chân tính.
Như vậy, chúng ta làm bất cứ thứ gì thì chúng ta cũng phải có ý thức trách nhiệm cao nhất để đưa ý thức ấy về chân tính. Đó là mục đích chính của người hành giả. Hành giả là không phân biệt một giới cấp nào, mà tất cả mọi hạt tâm trong đời sống của duy ngã đại thể, đều phải có trách nhiệm chuyển hóa ý thức về chân tính.
Vì vậy mà đức Như Lai mới đưa ra phương trình thiền là đi, đứng, ngồi, nằm đều là thiền định cả. Vậy, nếu ta xét về ngoại hình thì nó không có một hình thể nào nhất định. Thì chúng ta phải giác ngộ rằng: chuyển nhiệm ý thức về chân tính, và giá trị chân tính cuối cùng là thiền định.
Như một người công nhân viên chức đang làm việc trong một công sở vẫn có thể thiền định được, đó là chuyển nhiệm ý thức về chân tính. Tức là luôn luôn quan tâm đến hạt tâm không để ý thức buông lung. Khi làm một công việc gì thì phải có giá trị đích thực và sau đó thì trở về chuyển nhiệm không cho ý thức phóng đi lung tung. Thì đó là bản chất của tính chất thiền định.
Như vậy, thứ nhất là đi, đứng, ngồi, nằm đều là thiền định cả, và 4 góc độ này không thuộc về cứu cánh mà là phương tiện giá trị hóa của ý thức chuyển nhiệm trở về chân tính. Và chân tính không ràng buộc bởi đi, đứng, ngồi, nằm. Vậy đi, đứng, ngồi, nằm là giá trị hoạt động của thiền.
Chúng ta phải thấy rằng: cơ bản của giá trị thiền là đi, đứng, ngồi, nằm và chuyển nhiệm ý thức về nhất niệm.
Biện chứng pháp nhất niệm là đầu đời của giá trị thiền định và nền tảng vững chắc của giá trị thiền định mà không bị kẹt trong đi, đứng, ngồi, nằm.
Như vậy, trở về ý niệm thống nhất là chuyển nhiệm ý thức về chân tính đã có tính nhất niệm. Nhất niệm ấy là do ta chuyển nhiệm ý thức và ta có trách nhiệm đối với ý thức ta, là không cho ý thức ta buông lung, phóng bậy và không cho ý thức ta thao tác những điều không thuộc về quỹ đạo cứu cánh. Tức thu tốm ý thức trở về quỹ đạo cứu cánh và triệt tiêu tất cả những quỹ đạo làm cho ta không có cứu cánh. Đó là chuyển nhiệm ý thức về chân tính, là thiền na.
Về bản chất giá trị thiền na thì định nghĩa của nó là chân hành. Chân hành là định nghĩa của hành vi thiền, vì tất cả những hành động không làm hư tổn về giá trị tinh hoa tổng thể mà lại làm cho tinh hoa tổng thể kết tinh, thì đó là chân thiền. Như vậy, chân hành nó là động thì Như Lai nói rằng: Chúng nó đang hành động và động để trở về định. Chính cái động ấy và định sẽ gặp nhau ở một giá trị quy túc và thành lập giá trị thiền na trong hệ thống 4 chiều mà đạt được tứ thiền.
Vậy bèn ở trong giá trị thiền na ấy là chuyển nhiệm giá trị ý thức về chân tính, thì chẳng sợ động của đi, đứng, ngồi, nằm. Thì hoàn toàn ý thức ấy không còn bị kẹt bởi những hành động của đi, đứng, ngồi và nằm. Như vậy, đi là hành động chuyển tác của đi, đứng là hành động chuyển tác của đứng, ngồi là hành động chuyển tác của ngồi và nằm là hành động chuyển tác của nằm. Thế thì tất cả những hoạt động đây nếu nó quy túc về giá trị chuyển nhiệm ý thức về chân tính, thì đi, đứng, ngồi, nằm là giá trị phương tiện hóa của thiền.
Bài học hôm nay là giá trị thiền na trong ý thức chuyển nhiệm về chân tính và thành lập phương tiện thiền không bị mắc kẹt bởi ý thức đối đãi phân biệt và cố chấp. Mọi hình thức của thiền nó không thuộc về cứu cánh, mà nó thuộc về phương tiện, tùy theo nhân duyên mà chúng ta ứng dụng. thì lẽ tất nhiên về chân hành của thiền là trở về định.
Chân hành là hành động của sự quay về, cũng như cái động của hành tinh đang quay theo mặt trời để tồn tại. Thì cái động ấy là cái động có mục đích cứu cánh của giá trị động và hoàn toàn được giá trị định thống nhất trong hệ thống hội tụ.
Trong thế giới nhị nguyên có động và tịnh. Nếu phân biệt mà cố chấp tịnh, hoặc nếu động mà kẹt động và chưa trở về thống nhất của định, là thuộc thế giới nhị nguyên. Đối với thế giới nhất nguyên là không còn mắc kẹt giữa động và định nữa. Thì đây là thuộc về pháp môn bất nhị, là không còn kẹt động và kẹt định; cũng không cố chấp định và không cố chấp động và cũng không ở một bên nào của động và định cả; lúc bấy giờ gọi là tụ, chính cái tụ đó là quyết định cho giá trị thiền.
Thí dụ như trước đây chúng ta cố chấp định, nên bị biến động bởi sự cố chấp định đó và giá trị chấp định đó đã trở thành động. Vì thế mà luôn luôn bị kẹt trong sự chấp định và động đó, nên giá trị thiền na không được thăng hoa trong chân tính. Nên chúng ta bèn chuyển nhiệm ý thức trở về giá trị tụ và thành lập thống nhất của định và động để thành tựu 4 quả vị thiền.
Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta giác ngộ về lý tất yếu của thiền na, thấy rõ được về tính khoa học của thiền, để chúng ta vận hành mà không còn bị kẹt trong các hình tướng thiền ấy.

HỆ THỐNG PHÁP TRÍ LÀ BIỆN CHỨNG PHÁP
VỀ TỤ VÀ ĐỊNH
Pháp trí là có hệ thống. Chẳng hạn như trí huệ và khoa học, thì khoa học là các pháp. Trí huệ và toán học, thì toán học là các pháp, hoặc trí huệ và âm nhạc, trí huệ và kiến trúc…Như vậy, chúng ta có thể đặt vấn đề trí huệ trong hệ thống các pháp. Và chúng ta có quyền dùng từ là hệ thống pháp trí.
Trong sự nghiệp học nếu cái gì thuộc về hư vô thì chúng ta không học, mà chúng ta sẽ học cái vô cùng của sự có và có vô cùng. Mà muốn được cái vô cùng ấy thì phải học cái giới hạn trước. Và chuyện của vô cùng là phải biện chứng pháp của giới hạn. Như vậy, về những mạch kinh, thì nó đều có từ ngữ của mạch kinh, cũng như trong cơ thể chúng ta là có mao mạch, vi mạch và cực vi mạch, thậm chí phải đo lường nó bằng dem hoặc là nhỏ hơn dem. Vì có những mao mạch mà dùng con mắt thường không thể thấy được, chẳng hạn như siêu vi người ta muốn thấy được nó phải dùng đến kính hiển vi.
Như ngày xưa đức Từ Phụ Thích Ca ngài đã thấy được trong bát nước có tám vạn bốn ngàn con vi sinh, đó là ngài tạm đưa ra một số lượng đại diện cho tám vạn bốn ngàn trần lao. Và ngài đặt trần lao của nhân loại rất lớn ở trong các loài. Nhưng mãi đến thế kỉ mười bảy sau công nguyên thì người ta mới phát minh ra kính hiển vi.
Như vậy, cái gì mà không thấy, không nghe và không biết là không có hệ thống, còn cái gì mà có thấy, có nghe và có biết là có hệ thống; cái gì mà không rờ mó và không nắm bắt được là không có hệ thống; còn cái gì mà rờ mó và nắm bắt được là có hệ thống. Như vậy hệ thống pháp trí là rờ mó được, nắm bắt được và xác định tính chất của nó được.
Như vậy, cái chuyện của tư tưởng, của ý niệm mà sao lại đưa vào chỗ pháp trí và hệ thống pháp trí, để mà biện chứng pháp về định và biện chứng pháp về tụ. Thì đây là một bài học rất ngoạn mục mà chúng ta phải học để tránh được những tư tưởng mơ hồ về định và những tư tưởng mơ hồ về tụ. Còn khi chúng ta khai thác nó thì nó trở nên biện chứng pháp và không có gì là mơ hồ cả.
Nên đức Như Lai nói về định là nói về cơ cấu hệ thống bát chánh đạo. Vậy bát chánh đạo là hệ thống pháp trí để dẫn chúng ta về định, là bắt đầu từ chánh kiến, chánh tư duy. Vậy những gì mà chúng ta thấy chánh, suy nghĩ chánh thì đó là những điều thuộc về biện chứng pháp của định. Như vậy Như Lai đã thiết lập hệ thống bát chánh đạo một cách chặt chẽ nhằm để đưa nhân loại trở về định, mà bắt đầu bằng con đường chánh kiến và lần lượt đi vào từng cái chánh, và hành vi hoạt động từng cái chánh thì trước sau gì ta cũng trở về định.
Bát chánh đạo nó vẫn là hệ thống lập thể ví dụ như: con mắt là thấy được sắc trần thì phải biết sắc trần là gì, giác ngộ sắc trần là gì và sắc trần ấy mục đích nó có để làm gì, đó là vấn đề thuộc về cái thấy và tư duy. Vì tư duy là không thể tư duy hư không mà tư duy phải có nền tảng, đó thuộc về những công trình của pháp trí.
Chúng ta đã đưa hệ thống tư duy vào trong đời sống của tính và thể tương tác. Nghĩa là tư duy không tách rời hệ thống lập thể, mà tư duy của mục đích sinh học hóa hệ thống lập thể, đó là tư duy mạnh của cơ cấu và hệ thống pháp trí.
Hệ thống pháp trí có, nhưng thường thì con người không chịu thể dụng và ứng dụng hệ thống pháp trí mà lại sống theo bản năng, sống theo cảm tính và sống theo sự hấp dẫn của các tình nghiệp và các dục lậu.
Chúng ta phải thấy hệ thống pháp trí là biện chứng pháp của định và biện chứng pháp của tụ. Khi hệ thống pháp trí đã đạt được mức độ nhất định nào đó về tính biện chứng pháp là nó trở về chỗ định để thực hiện, thì công trình đó sẽ hơn mọi công trình khác.
Nếu như thực hiện công trình toán học mà có pháp trí lỗi lạc thì sẽ đạt được các cấp độ toán học cao cấp và đem toán học cao cấp ấy mà thực hiện cho các công trình xã hội.
Như vậy, định nghĩa hệ thống pháp trí là trở về chỗ thống nhất, tức là không có hai trong đời sống đó. Ví như ta chuyên môn hóa một thứ duy nhất thì sự tinh anh của nó càng lớn hơn. Về hệ thống của pháp và trí thì chúng ta có thể ví dụ hệ thống mặt trời và hành tinh, thì pháp và trí là mặt địa đại và hồng cầu. Chúng ta thấy trong hệ thống của ánh sáng duy nhất là mặt trời, thì hành tinh này không bao giờ quay ngược mặt trời, tức là hành tinh luôn luôn hướng về định. Như vậy pháp trí của hành tinh đang hướng về mặt trời và hoàn toàn không dám tách mặt trời, đó là hệ thống pháp trí biện chứng pháp về định.
Như vậy, xác định về hệ thống pháp trí là luôn luôn quay về trung tâm và trung tâm duy nhất ấy là chỗ tận định giá trị hóa của đời sống duy ngã đại thể. Nếu duy ngã đại thể trở về tính duy nhất của trung tâm bằng sức từ trường và sức trí huệ của hệ thống pháp trí và hình thành sự thăng hoa của hệ thống pháp trí thì chúng ta sẽ trở về tụ và định.
Như vậy định và tụ chúng ta có thể nói là điểm trung tâm, hay là điểm cao nhất, hay là điểm thực tướng, hay là điểm không còn bị trôi dạt và biến đổi, vì chính nó là tụ và định.
Nghĩa của pháp trí ở đây là nghĩa của thể dụng, chứ thật ra đó là tâm pháp. Nhưng chúng ta dùng chữ trí vào trong kinh điển một chút là để thấy ánh quang của trí huệ soi rọi vận hành trong các hệ thống, mà không bao giờ đi lạc trong định luật của hệ thống ấy, thì pháp trí ấy sẽ lừng lẫy và sáng chiếu ở khắp cùng.
Như vậy khi chúng ta trở về định và tụ thì cuộc sống giới hạn sẽ bắt đầu giảm dần và cuộc sống vô hạn sẽ bắt đầu mở ra.
Phần nghị luận
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa cha, đây là một đề tài rất thực tiển, thực dụng và quyết định cho sự sống còn và thăng hoa của mỗi nhân bản đại thể. Bởi vì thông thường trong thuật ngữ của nhà thiền, khi nói tới thiền là nghĩ tới định; mà khi nghĩ tới định là người ta nghĩ rằng nằm yên hay đứng yên, không có tính chất chuyển động. Như vậy nếu chúng ta nằm yên thì hóa ra là chết cứng và không có sự sống nữa. Nếu theo quan điểm định như thế thì hoàn toàn trái ngược với thực thể sống trong cuộc sống.
Trong đề tài này con liên hệ đến đề kinh “Nhất nguyên tụ âm dương vạn tỏa, nhất nguyên hóa vạn tỏa âm dương”. Vậy thì nguyên lý tự tính nó là tụ. Thứ nữa chúng ta liên hệ đến đề kinh “Tính tròn đủ là chủ thể của vạn pháp”. Như vậy, về tính nguyên lý của tối thượng là không còn có định và không định nữa mà là tụ chiếu quang minh rồi, thì nhân ở tụ chiếu quang minh mà có âm dương chuyển động. Vậy gốc của vạn pháp là từ nguồn gốc của âm dương chuyển động mà có.
Về tính biện chứng của định và tụ, thí dụ như hành tinh quay chung quanh mặt trời thì quá khứ của hành tinh không bao giờ nhìn lại, tương lai của hành tinh cũng không bao giờ vọng tưởng, mà hiện tại là tính quyết định và chuyển động một cách rất tốc độ, đó là quyết định đầu đời về nền tảng của định. Cũng như từng chiếc lá mọc ra và từng chiếc lá rụng xuống thì mục tiêu của nó cũng trở về thân và thân cũng không tách rời khỏi tính, cho nên tất cả vạn pháp đều hướng về tụ để tồn tại và sống còn.
Như vậy, định ở đây là tự tính chuyển động và kết tinh, chứ không phải định là chết lặng. Cho nên vạn pháp luôn luôn chuyển động để kết tinh thì định ở đây là không vọng tưởng và không kẹt bởi quá khứ và vị lai, mà tốc độ chuyển động ở hiện tại là phát huy, thì tất nhiên chúng ta sẽ quay trở về trục.
Tóm lại, định không phải là nằm yên mà chuyển động đúng công thức, thuận theo từ trường chuyển động của âm dương và không bao giờ sai lệch quỹ đạo. Nếu chúng ta định theo công thức ấy thì tất nhiên phải có tụ, đó là quy luật. Cho nên trong minh triết Cha đã dạy là chuyển động để kết tinh tinh hoa. Nhưng khi đã kết tinh tinh hoa rồi thì trong tinh hoa không còn động tịnh nữa mà đó gọi là chân thiền tự tính, tụ kết tinh hoa và quang minh tự chiếu.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa cha, hệ thống pháp trí là biện chứng pháp của định và tụ, đó là tính tất yếu. Vì từ nguyên lý và vượt trên nguyên lý của thống thức chân quang đã là tụ rồi mới sinh ra nguyên lý của Thống Hóa 3 ngôi thì cũng hoàn toàn là tụ. Bởi tụ nên mới có trung tâm vạn năng và oai âm dương vạn tỏa đã thống nhất để hóa sinh tất cả vạn pháp. Hệ thống pháp trí là biện chứng pháp của định và tụ hoàn toàn đúng. Con thí dụ: Như tất cả những công trình đa năng mà duy ngã đại thể đã làm ra là không ngoài hệ thống pháp trí, thì nó cũng biện chứng cho định, nếu chúng ta không trở về trung tâm không có định thì sẽ không làm được gì hết.
Bởi vì nhân bản duy ngã đại thể đã đi lệch quỹ đạo của định, có nghĩa là hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tính chuyển động, nhưng chuyển động đó mục đích không rõ ràng, nguyên nhân là do chúng ta không chịu thể dụng hệ thống pháp trí. Chính từ đó chúng ta đã lạc định nên không xác định được mục đích và mục đích không có tính cứu cánh. Tức là chúng ta đã bị phân tán tâm thức và mất đi chủ thể của định và tụ. Như vậy, chúng ta muốn trở về định thì chúng ta phải chuyển động trong một qui trình thuận để thăng hoa và hướng thượng, là luôn luôn hướng về ánh sáng để chuyển động kết tinh tinh hoa tâm pháp.
Ngài bảo ông Chơn Hiếu Đàn Lâm trình bày.
Ông Chơn Hiếu Đàn Lâm: Thưa cha, hệ thống pháp trí là biện chứng pháp cho định và tụ. Chúng ta muốn trở về định và tụ trong hệ thống pháp trí thì ta phải thiền định về giá trị thể hiện tính ứng dụng trong giá trị ánh sáng và vận dụng tác động trong đời sống của tụ, ta mới nghiệm lý được giá trị nguyên lý và trở về hội tụ. Và vượt trên giá trị định chiếu để trở về giá trị đỉnh cao của ánh sáng thì ta mới kết tinh được tinh hoa tri thức và tâm thức để được tròn đủ trong các pháp và làm chủ được các pháp.
Ngài bảo ông Chơn Trung Đạo Luật trình bày.
Ông Chơn Trung Đạo Luật: Thưa cha, mặt bằng của tụ và định là phải lấy bát chánh đạo làm nền tảng để thực hiện. Tụ là sự tập trung tư tưởng, tư duy vào trong chánh niệm và chánh tư duy. Từ đó mới đạt được chánh định. Về ý niệm của chúng ta chỉ có một chứ không có hai, thí dụ khi ta nghĩ thiện thì không có ác, hoặc là khi ta nghĩ tới ác là không có thiện, nên cái một là cái định, là sự tập trung ý niệm về một.
Như vậy, tụ là phải thực hiện bát chánh đạo đem ý niệm trở về một, trở về trung tâm thì đó là định.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa cha, định và tụ là nói đến hệ thống pháp trí, vì tất cả những nguồn gốc của các pháp đều có hệ thống. Và tất cả các pháp có chuyển động, có hệ thống thì nó có liên quan đến pháp trí. Thì chúng ta muốn làm một việc gì thì cũng phát sinh từ trí huệ, mà muốn có trí huệ thì chúng ta phải có định và tụ chiếu quang minh. Cũng như mặt trời là định tinh đã đạt được đỉnh cao của định nên mới tụ chiếu quang minh ánh sáng và dẫn quang tất cả các hành tinh và các hành tinh nương ánh sáng dẫn quang đó mà chuyển động theo một qui trình thuận mà được tồn tại trong một hệ thống. Như vậy nói đến nhân bản đại thể thì pháp trí là trí huệ, là cao nhất để chúng ta vận hành được tất cả các pháp đến một đỉnh cao.
Như vậy, đức Như Lai đưa ra rất nhiều hệ thống để chúng ta tu chính và chuyển hóa tâm pháp đi đến định, như hệ thống bát chánh đạo, thất giác Bồ đề chi…Như vậy thì cái gốc của định và tụ đã có từ trung tâm thì chúng ta nhân gốc đó mà chúng ta quay về mà đạt được đỉnh cao của nó, thì chúng ta phát sinh được trí huệ. Là chúng ta được sống trong hệ thống ánh sáng vô biên, vô cùng, đó là đỉnh cao của tụ và định.
Ngài dạy: chúng ta xác định về định và tụ là hoàn toàn có gốc, thì định và tụ hoàn toàn có thực, nên chúng ta mới trở về được. Là chúng ta xác định về tính chân lý của vũ trụ có gốc của định và tụ. Chúng ta tạm lập ngôn như vậy để khai thị mà thôi. Vì ngôn ngữ là rất giới hạn, thì không thể nào mà nói hết được nghĩa lý vô cùng đó.
Như vậy chúng ta tạm dùng danh từ nguồn. Tức là nguồn của thực tướng là tụ và định. Nếu chúng ta muốn trở về chỗ tụ và định tột cùng ấy thì phải đi bằng hệ thống pháp trí. Nên hệ thống pháp trí là biện chứng pháp của tụ và định.
Hệ thống pháp trí ví như là dàn phóng của đầu đạn ánh sáng vào chỗ tột cùng của định và tụ. Như vậy pháp trí là mang tính cơ cấu hệ thống nên Như Lai mới đưa ra hệ thống của Bát Chánh Đạo. Như ta thấy pháp trí đỉnh cao của nền khoa học cũng phải trở về tụ và định, thì mới đạt được những công trình cao cấp.
Nói về biện chứng pháp của định là tập hợp được tính duy nhất của giá trị hóa để thực hiện công trình ấy và không có lệch biên. Ví dụ khi làm một bài toán thì tư tưởng phải ổn định, phải tập trung và không nghĩ lung tung thì mới làm được. Tức là ở đây nếu không có hệ thống pháp trí để thực hiện công trình duy nhất của toán học thì coi như rớt định và phá tụ.
Như vậy, sức mạnh của các công trình là bản chất của sự thống nhất ý chí và trí huệ. Nếu chưa thống nhất được ý chí và trí huệ thì các công trình ấy sẽ không bao giờ có được sự thành công. Thì đó là giá trị của biện chứng pháp của định và tụ.
Nếu chúng ta nhấc lên một nấc về siêu thể, thì hoàn toàn lấy chỗ nhất tâm để làm nền tảng cho định và tụ. Như vậy biện chứng pháp của giá trị tụ và định là nhất tâm.
Đạt được nhất tâm không thể đơn giản mà có. Vì phải đào bới và bứng hết tất cả mọi hoặc lậu của nghiệp thức mới có được nhất tâm, nếu không thì ý thức sẽ níu giữ lại bởi một mảnh nghiệp còn sót lại ở bên kia và một mảnh nghiệp còn sót lại ở bên này và những mảnh nghiệp xa xưa còn ghi dấu mà nghiệp thức còn phải cưu mang, thì tính duy nhất ấy không bao giờ trở về tụ.
Như vậy, công trình của sự dọn sạch về pháp trí là dọn sạch mọi hoặc lậu. Đức Như Lai nói: “vọng tâm diệt, pháp tính sinh”. Vậy pháp tính hoàn toàn không mời gọi vì pháp tính đã hằng có sẵn trong ngươi, nhưng vì các hoặc lậu của cỏ rác đã phủ pháp tính ấy, thì các ngươi hãy nhổ sạch những cỏ rác của ý thức ra khỏi thì pháp tính chân địa sẽ hiện ra. Như vậy, định có nghĩa là tự hiệp hóa về giá trị chân tính của sự sáng lên chứ không phải định là sự mời gọi và tìm kiếm hoặc cầu vọng mà có.
Chúng ta không dọn sạch được hoặc lậu vì chúng ta chưa nắm bắt được hệ thống pháp trí là mặt bằng của sự vững chắc để chúng ta có đủ trí huệ, ý chí và đủ tâm niệm về sức mạnh của sự dọn sạch đó. Khi chúng ta có hệ thống pháp trí thì định và tụ tức khắc hiệu ứng hình thành giá trị hóa và kết quả tại chân tâm của chúng ta.
Nếu chúng ta đem tư tưởng để tưởng và cầu cho có định và tụ thì đời đời tư tưởng ấy sẽ đánh sụp cả tụ định của chúng ta và không bao giờ pháp tính của chúng ta hiện ra.
Như vậy, chúng ta hãy đánh sụp tất cả những giặc dữ của 6 căn và lột trần tất cả những hoặc lậu sai lầm của nhiều kiếp để không còn cỏ rác của hoặc lậu nữa, thì chúng ta sẽ có ngay ánh sáng của định và tụ
Như vậy, công thức của hệ thống pháp trí là mặt bằng của bệ phóng ánh sáng tụ và định, là biện chứng pháp của tụ và định, là giá trị công thức hóa của tụ và định và hình thành tụ định hiệp thông của giá trị tính thể dung thông. Đây là một bài học xác định về giá trị của trí và pháp thì chúng ta hãy xét mình đã có trí và pháp chưa, để chúng ta có một hệ thống pháp trí vững chắc mà phát huy các công trình mà trước mắt chúng ta còn chưa làm được. Đây là chúng ta đi vào mổ xẻ kinh điển, để không còn lầm bất cứ một vi mạch nào của kinh điển, là làm sáng tỏ và vững chải trên tất cả các hệ thống kinh điển, để thực hiện công cuộc kinh điển đi đến chỗ tụ và định.

Ý NIỆM, TƯ TƯỞNG, TÂM PHÁP
LÀ NGUỒN ÁNH SÁNG VÔ TẬN
Ý niệm, tư tưởng, tâm pháp là nguồn ánh sáng vô tận. Đây là nguồn ánh sáng của tổng tinh hoa. Nhưng khi chúng ta làm lệch ý niệm, tư tưởng tâm pháp thì nguồn ánh sáng ấy bị bế tắt, hoặc bị giảm trừ. Chính chúng ta có nguồn ánh sáng ấy nên mới tiếp được nguồn ánh sáng tổng thể của trung tâm linh quang, hay tiếp được từ điện hóa trong vô lượng quang khắp cùng không biên giới của vũ trụ đã chuyển ánh sáng đến cho chúng ta. Ví dụ như Hồng quang là trung tâm linh quang có pháp thể pháp thân. Pháp thể là năng lượng tích tụ trong vô lượng quang của hệ thống vật chất và pháp tính là ánh sáng trung tâm ở trong pháp thân của đấng Như Lai đã thành tựu. Vậy chính ta là nguồn ánh sáng và tiếp thụ nguồn ánh sáng, thì ánh sáng của tiểu thể cùng đại thể được hòa nhập. Vậy Hồng quang không phải là vấn đề trừu tượng và mê tín.
Tại sao ta có Hồng quang mà người khác chưa có? Là vì ta đi vào quỹ đạo của sự khai thị, của một vị Thánh sư, hoặc vị đứng đầu trong hệ thống ấy để ấn ký cho giá trị thiết lập. Ví như hệ thống điện thoại đã có rồi nhưng phải có người cài số cho mình mới bắt được.
Tại sao nguồn ánh sáng của ý niệm tư tưởng và tâm pháp có sự sai lệch và mâu thuẩn? Là do nguồn ánh sáng có sự che chắn của các hệ thống lập thể. Tức là phần thô, thô của phần tính và thô của phần thể; Đó là 2 tính cơ bản của giá trị sai, thường là chúng ta lầm chỗ đó. Ta có phần thô, phần tính của ý thức, của sự hiểu biết. Ta tinh lọc đến tinh ròng của sự hiểu biết, là trãi qua quá trình ly tâm. Như vậy ánh sáng còn phải tiếp tục tinh chế, bởi nó là nguồn năng lượng luôn luôn có tỷ lệ phần thô, thì phần thô cần phải được tinh lọc.
Con người có lối sống theo bản năng sinh tồn thì họ không bao giờ quan tâm tới phần thô. Ánh sáng đã chịu những quy luật ức chế che chắn, mà chưa được khai thị. Bởi vậy với chúng sinh là không có nguồn ánh sáng hội tụ. Chúng sinh là ánh sáng phân tử, phân chia, không thuộc về nguồn ánh sáng của sức mạnh hội tụ.
Nói một cách biện chứng: Khi chưa giác ngộ thì ý niệm tư tưởng là nguồn ánh sáng phân chia. Vì thế ý niệm tư tưởng luôn luôn biến động, thì ánh sáng đó là phần thô không phải là tế, siêu tế. Vậy mối chốt tư tưởng rất quan trọng với chúng ta, thì chúng ta phải xác định được nguồn ánh sáng ấy được tinh lọc hay chưa tinh lọc; tức là ý niệm được tinh lọc hay chưa tinh lọc, hai trạng thái đó không giống nhau nên đức Phật mới đưa ra vọng tâm và chân tâm.
Ví dụ: Một người sống thanh bạch, tuyệt đối không cho bất cứ một ý niệm xấu nào chen lấn vào sự thanh bạch đó, thì đầu đời họ đã có phần tế. Nếu ý niệm họ không tinh lọc thì nguồn ánh sáng đó vẫn còn chịu những mặt trạng về phần thô. Tư tưởng ý niệm thuộc phần thô thì tâm pháp phải gánh lấy những phần thô đó.
Chúng ta biết vũ trụ rất công bằng cho sự thăng hoa của người có công phu và không thăng hoa cho người không công phu. Sự tiến hóa cho người công phu và sự sa đọa cho người không công phu. Như vậy chúng ta là tác phẩm duy ngã nếu không chịu tiếp tục công phu để hóa chân ngã thì sự tinh ròng của ánh sáng không có, tức phần thô của ý thức vẫn tiếp tục dấy lên và có khả năng cấu thành nghiệp.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, chúng ta có hạt tâm lý tính là tổng tinh hoa tính và thể, từ đó chúng ta có ý niệm, tư tưởng và tâm pháp. Thì tất cả nguồn ánh sáng ấy từ trung tâm chân tính sinh ra. Tâm pháp là đại diện cho tổng tính, ý niệm tư tưởng là cái dụng của tâm. Nếu ý niệm, tư tưởng chân chính đúng đắn thì kết tinh tinh hoa và làm giàu a lại da tâm pháp chúng ta. Nếu lệch lạc tức là trật quỹ đạo Công Luật sẽ đưa ta vào con đường tối tăm. Vậy ý niệm, tư tưởng tâm pháp là nguồn ánh sáng rất quan trọng vì nó là phương tiện hóa gắn liền với a lại da pháp thân. Như trong bát thức tâm vương vì phân nhiệm giá trị hóa nên đức Phật tạm chia ra là bát thức, nhưng thực ra là một. Vì khi ý niệm, tư tưởng chúng ta trở nên thống nhất và làm chủ các căn nguyên thì các căn nguyên ấy đóng vai trò kết tinh hỗ trợ cho tâm pháp và thống nhất cùng tâm pháp là một. Lúc bấy giờ hạt tâm lý tính tính ánh sáng phát ra chính xác, minh bạch và không sai lệch. Vậy chúng con xác định ý niệm, tư tưởng tâm pháp là nguồn ánh sáng vô tận, điều đó hoàn toàn đúng.
Như vậy, sự tối tăm là do dòng nghiệp lực che chắn bởi sự lầm lẫn của ý thức phân biệt đối đãi đã pha trộn nhiều màu sắc, đã làm mờ đi tâm pháp; Ví như bóng đèn không chịu lau chùi thì ánh sáng không phát ra được vậy. Vì vậy đức Phật đưa ra các phương pháp tu học trong Tam thừa tạng là nhằm giải quyết mọi sự lầm lẫn tối tăm đó. Thì hôm nay Cửu kinh minh triết là phương tiện ánh sáng cao nhất, tốt nhất và quý nhất để đưa nhân loại trở về nguồn ánh sáng pháp thân thực tướng của chính mình.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, con xin trình bày bốn vấn đề chính.
Thứ nhất: về tính khách quan, thì thượng tầng có chân tính siêu cực quang mới lập ra hạ tầng theo quy luật của tính khách quan. Tất cả những gì thượng tầng có thì hạ tầng đều có, kể cả tính bát nhã; Nhưng hạ tầng vì chưa tinh lọc mà thôi.
Thứ hai: khi hoàn chỉnh giá trị nhân bản duy ngã thì ta lại không đi về nguồn bằng Công Luật khách quan, mà đi theo ý niệm, tư tưởng phân biến theo quỹ đạo nghịch nên chúng ta chưa trở về nguồn. Nếu chúng ta đi theo quỹ đạo thuận, nó sẽ hóa và kết tinh tinh hoa bát nhã thì mới trở về nguồn.
Thứ ba: thực trạng chủ quan của con người: Khi duy ngã tròn đủ thì ý thức quyết định mọi vấn đề, mà chúng ta không thấy sự liên quan giữa thượng tầng và hạ tầng. Chúng ta bị mắc kẹt chỗ ý thức và tư tưởng nên không thấy được ánh sáng chân tính siêu cực quang nằm trong tất cả vạn hữu. Nếu tính bát nhã, tính hội tụ hay ánh sáng siêu cực quang không ở trong vạn hữu thì ta không thể nào hóa được bát nhã. Nếu chúng ta không minh định chỗ này thì chúng ta sống theo bản ngã chủ quan thì bị lần quần và kẹt ở các pháp thô.
Thứ tư: trong định luật cân bằng của vũ trụ rất tuyệt vời, như cân bằng giữa tâm và vật. Khi thô thì có ý thức, tư tưởng thô; Khi tế thì có ý thức, tư tưởng tế. Như các nhà bác học, thánh nhân, Phật nhân thì ý thức, tư tưởng tương đương trình độ bác học, thánh nhân, phật nhân, thì kết tinh tinh hoa về tính bát nhã trọn vẹn.
Vũ trụ rất công bằng, thể thô thì tính thô, thể tế thì tính tế. Tại sao có thể thô? Vì đó là quy trình hóa. Nếu Thống Hóa không lập thể phần thô thì làm sao có đẳng cấp để chúng ta trở về nguồn; Chúng ta từ tầng thấp bước lần tiến lên trở về nguồn có thứ bậc, lớp lan rất rõ ràng. Như vậy, khi chúng ta loại trừ trong cuộc sống những phần thô và kết tập những tinh hoa thì đó là giá trị đầu đời của tính bát nhã.
Ngài dạy: Cửu kinh minh triết là kho tàng, chúng ta học những cơ bản vững chắc để từ đó thăng hoa trở về thành tựu bốn quả thánh là quan trọng nhất cho đầu đời của sự hóa thân vào vũ trụ, thành tựu chân tính kim cương bất biến, vô dư niết bàn. Đó là trở về ánh sáng thực thể bất biến của bản hạt.
Khi còn ở tầng dưới thấp thì lầm lẫn càng cao, khi lên dần thì mức lầm lẫn giảm dần và mọi sự che chắn tầng trên lần mở ra; càng mở ra càng thấy thông suốt con đường về Công Luật thật rõ ràng.
Trong thế giới nhị nguyên của duy ngã đại thể luôn luôn có hai trạng thái: hạnh phúc và khổ đau. Vì đây là thế giới công luyện; Khi ta chưa công luyện, chưa thành đạt sự công luyện thì khổ đau sẽ ở mãi cùng ta.
Ta biết Thống Hóa không áp đặt sự khổ đau cho nhân loại, mà mục đích của Thống Hóa hóa sinh muôn loại để đạt được giá trị cứu cánh cao nhất là giải thoát và thành tựu chân tâm kim cương. Muốn đạt được mục đích đó ta phải chịu nhịp cầu sinh tử; Nhịp cầu sinh tử là chuyển trạng hóa và kết tinh tinh hoa kim cương chân tâm. Sinh tử là cầu nối của sự chuyển hóa, có chuyển hóa, có ly tâm mới có kết tinh. Nhưng một khi chúng ta không biết thì sinh tử trở thành khổ đau và sa đọa.
Về mặt bằng sinh tử, khi chưa giác ngộ ta thấy rất hung dữ; Nhưng khi giác ngộ rồi thì sinh tử là chuyện thường tình trong đời sống duy ngã đại thể và của vạn vật. Nó quen thuộc với con đường đi, con đường về của những công trình sinh tử để hóa sinh tử và thành đạt chính vị trong sinh tử. Vậy sinh tử là công thức, là công án hóa thân, công án tinh luyện và kết tinh. Định luật sinh tử nhằm chuyển hóa và kết tinh tinh hoa, đó là mục đích cuối cùng của Thống Hóa. Còn việc nhân bản duy ngã đại thể lầm lẫn dẫn đến khổ đau, Thống Hóa vẫn một lòng yêu thương vô cùng. Nên các bậc thành tựu Như Lai chịu trách nhiệm thiêng liêng hóa thân đến các hành tinh rao giảng về sự nghiệp vũ trụ bằng nhiều hình thức để dẫn độ chúng sinh.
Học cửu kinh minh triết để làm thăng hoa tri thức ánh sáng, nếu chúng ta tiếp tục học thì tương lai sẽ trở thành những nhân giả, học giả, học tri để làm khí cụ bình an cho nhân loại, phúc đức cho nhân loại bằng cửu kinh minh triết.

TÍNH THỐNG NHẤT VỀ Ý NIỆM
Tính thống nhất là nền tảng của kinh điển nên nói rằng: Bản chất của tính thống nhất ý niệm là hóa giải vô lượng tư tưởng ý thức ngoại biên, để đi đến chính tâm và thành tựu vô lượng công đức.
Công đức là thuộc về nội lý. Nếu ta làm những thứ bên ngoài mà thuộc về chân hành thì mới kết tinh được nội lý.
Ý niệm tư tưởng ngoại biên là không thuộc về kinh điển, nó tương tục sinh diệt trong 18 giới xứ nên trở thành vô lượng, ví như số cát sông Hằng.
Ý niệm tư tưởng ngoại biên nó thuộc về hoặc lậu bất tương ưng. Nhưng khi trở về tính thống nhất của ý niệm thì thuộc về hoặc lậu tương ưng.
Muốn thống nhất được ý niệm là chúng ta dùng cái biết để tầm sát, để giác ngộ và tinh lọc nhất thiết trí để thống nhất ý niệm.
Thống nhất ý niệm là giá trị chân chính nhất của Như Lai, là mặt bằng của hệ thống thiền định.
Người thống nhất ý niệm là không còn mắc kẹt ở các tướng và vượt trên thống nhất ý niệm là trở thành bất biến.
Tư tưởng ngoại biên có thể phát sinh không cùng tận, nên đức Như Lai nói: Nếu phóng sinh thì phóng sinh để giải trừ mọi sự đau khổ đối với sự sống của các loài thì mới có công đức. Chứ không phải phóng tâm sinh thức, hoặc phóng thức sinh tâm và sinh ra các thứ ý niệm bất tương ưng ấy, là rất nguy hiểm không có công đức giải thoát
Bát chánh đạo là nền tảng của thân pháp thiền định, sẽ đưa chúng ta nhập lý tính và chứng lý tính thiền định. Nếu thiền định mà lại phóng thức tư tưởng đến các cảnh giới Phật và thấy Phật thì đó thuộc về vọng thức. Nên Như Lai nói: “Ngươi chưa thấy Phật ngươi, thì đời đời ngươi sẽ không thấy được thực tướng của Phật Ta”.
Nên tính thống nhất của ý niệm là giải trừ mọi ý niệm tư tưởng ngoại biên và dẫn đến thấy Phật. Nghĩa là không cần tưởng Phật mà thấy Phật, thì đó gọi là chân tưởng ( nghĩa là vô tưởng Phật mà thực tưởng Phật hiện ra ).
Trong sự nghiệp đại thừa và tối thượng thừa của Như Lai cũng đi bằng con đường thống nhất của chính niệm. Như vậy, dứt trừ các vọng tưởng là nền tảng thực tướng của chư Phật.
Ý niệm tư tưởng ngoại biên đồng nghĩa với vọng tâm. Trong thế giới nhị nguyên có vọng tâm và có chân tâm; còn trong thế giới nhất nguyên là hoàn toàn không có vọng tâm. Nếu ở trong thế giới của duy ngã đại thể mà quay về nội lý thống nhất của ý niệm là thế giới chân tâm, còn quay đi ra ngoại biên là thế giới của vọng tâm.
Như vậy, khi nào có tính thống nhất ý niệm và không còn biến đổi tính thống nhất ý niệm thì mới có công đức. Còn tư tưởng ý niệm ngoại biên luôn biến đổi, thuộc về vọng tâm là không có công đức.
Vọng tâm là tư tưởng phân giải của giá trị thống nhất thì sẽ không bao giờ có sự kết tinh của tinh hoa kim cương chân tâm.
Như vậy, tính thống nhất của ý niệm là đầu đời của sự kết tinh tinh hoa kim cương chân tâm.
Biến đổi tinh hoa nội thể là biến đổi tinh hoa của tư tưởng nội thể và sự hiểu biết về tính thống nhất nội thể. Và tính thống nhất nội thể không đứng vững được trên giá trị biến đổi ấy. Chúng ta là hạt nhân được hóa hạt trong đời sống vũ trụ và trở nên mặt bằng biện chứng pháp nhân bản vũ trụ, thì chúng ta phải biết tự quyết trong sự nghiệp hóa nội và thành lập được nội tính tính thống nhất đi đến chứng tính và kiến tính .
Đây là bài học cao siêu và rộng lớn vô cùng của hệ thống Bát Chánh Đạo và sức mạnh thiết lập công án Bát Chánh Đạo; đối với đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni là một trong những phương than vĩ đại nhất. Có thể nói, nếu bất cứ một tinh cầu nào mà thực hiện đúng Bát Chánh Đạo thì tinh cầu ấy được bình an.
Đối với Như Lai là đời đời không thay đổi về Bát Chánh Đạo. Nên đức Như Lai nói: Xa luân Bát Chánh Đạo, xa luân Thập Nhị Nhân Duyên và xa luân Tứ Diệu Đế. Là những xa luân được chuyển lập thành những kinh điển nhị thừa, thực hiện những công trình của tam thừa và hóa giải nhị thừa.
Nhị thừa là lầm lẫn, trôi nổi và sinh tử bất đoạn luân hồi. Nhị thừa cũng dẫn đến địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Nhưng Bát Chánh Đạo đã vào trong mặt trận kiến giải chính pháp, để lật ngược lại tam đồ khổ và hóa giải lục đạo.
Sức mạnh của Thích Ca Mâu Ni là sức mạnh của công suất vĩ đại thống thái và trên trời dưới đất đều hoan hô. Nghĩa là ai biết sống là hoan hô. Như Thiên Long Bát Bộ, Càn Thác Bà, Khẩn Đa La…đều hoan hô đức Thích Ca Mâu Ni là đấng Thống Thái, đã vượt trên mọi sự cứu rỗi và hóa giải mọi sự cứu rỗi trong sức mạnh vô cùng ấy..
Như vậy, chúng ta đã thẩm định giá trị chính pháp trong hệ thống Cửu Kinh Minh Triết và tam thừa tạng đã trở nên tính dược vô biên và sức mạnh tính dược vô biên đã cứu giải tất cả những tội đồ.
Bài học hôm nay cho chúng ta xác định tính thống nhất của ý niệm để giải trừ các ý tưởng ngoại biên và quay về chứng tính và kiến tính để thành tựu vô lượng công đức pháp thân.
Chúng ta trở thành những nhân chứng sống trong sự nghiệp chánh pháp và không bao giờ thay đổi bản chất của nhân chứng sống trong chính pháp ấy thì chúng ta mới có chính pháp đời đời.
Đối với Như Lai là không còn sinh tử, nhưng Như Lai hóa thân trong sinh tử. Đó gọi là lập thể trạng, phản gián sự nghiệp Phật đạo để lập các công trình Phật đạo trong các loài. Như vậy trong sự nghiệp Phật đạo là sự hóa thân của hệ thống ánh sáng trung tâm đối với các đức thế vì và quyền thừa Bồ Tát. Thì bản chất giá trị Như Lai đã hoàn chiếu ánh sáng trong đó. Nên mượn bất cứ một thân lập nào trong hệ thống ấy, thì giá trị ánh sáng pháp thân của Như Lai cũng không thể thay đổi.
Như Lai đưa Bát Chánh Đạo vào đời sống là nhằm thu tóm tất cả tổng tinh hoa để kết tinh về pháp thân. Pháp thân ví như ánh sáng và ánh sáng chỉ có một ánh sáng mà thôi. Nhưng khi chiếu ra ta thấy nhiều màu sắc vàng, xanh, trắng, tím… Vì thế mà con người lầm bởi những lăng kính màu ở các gốc độ khác nhau làm biến đổi sự thật của ánh sáng trung tâm ấy, cũng đồng nghĩa là biến đổi sự thật của chính ta.
Chúng ta hãy xác định tính thống nhất của hệ thống sống trong tư tưởng và ý niệm thuộc về pháp thân, thì chúng ta sẽ có nhân bản pháp thân.
Đức Như Lai nói: “Ngọc của ta đã lấy ra khỏi năm ấm rồi và đã viên mãn toàn hữu giá trị ánh sáng, còn ngọc của các ngươi thì còn dấu trong đó”. Như vậy các con hãy nhìn chính pháp của Ta để quay về chính con mà trau dồi giá trị viên ngọc của mình, thì viên ngọc của con sẽ phát sáng như của Ta.
Bởi kỳ vọng đã biến thành điên đảo, khổ não mà không nhìn nhận sự thật của chính ta được trung tâm hóa thành viên ngọc và viên ngọc ấy hoàn toàn có thực.
Người Công Luật là không vọng kiến xa xôi theo những viễn kính màu, mà luôn thu tóm tất cả sức mạnh của tổng tinh hoa quay về một gốc và thực hiện những công trình, công luyện, để có được thực thể của chính ta.
Có chính pháp và không có chính pháp là căn cứ trên tất cả những bộ kinh lõi của đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã có kinh lõi kỳ hương và kinh lõi của các loại chất ngọc quý nhất trong tam thiên đại thiên thế giới. Và đời đời nếu ai thay thế Ngài cũng chỉ là ánh sáng được hóa thân từ trung tâm của Ngài mà thôi.
Những thứ lật ngược lại làm biến đổi chính pháp của Ngài, cũng giống như chặt tất cả những căn nguyên của sự sống chính nó, thì hệ thống căn nguyên bị triệt tiêu và các pháp gốc bị biến đổi, thì chính nó cũng đồng chết theo đó.
Chúng ta không nên xem thường mà hãy tự quyết định về tính thống nhất của ý niệm trong mỗi chân hành để giải trừ vô lượng tư tưởng và ý niệm ngoại biên. Vì muốn có vô lượng công đức pháp thân thì chúng ta phải triệt tiêu vô lượng ý niệm. Không phải ta niệm vô niệm mà có vô niệm; muốn trở về chỗ vô niệm thì phải đạt được tính thống nhất của ý niệm, ta mới có vô niệm.

ĐỊNH LUẬT NHÂN DUYÊN KHỞI
Định luật nhân duyên khởi có phải là nguồn gốc của chúng ta không?
Nhân duyên khởi là sự khởi đầu, nếu khởi đầu là gốc thì không có sự bảo trì của gốc. Chúng ta phải biết nhân duyên ấy từ vô cùng sinh ra. Mà vô cùng là không có khởi đầu. Vậy, vô cùng là gốc còn nhân duyên khởi là ngọn.
Như tiếng nổ không biên giới là thuộc về chân tính của trung tâm vạn năng, nếu đứng trên nhân sinh quan thì hoàn toàn không ai có thể nghe được tiếng nổ ấy. Còn Chư Phật nói về tiếng nổ không biên giới, thì sự khởi đầu ấy nếu cho là gốc thì sẽ mất sự vô cùng của gốc. Nên vô cùng là gốc mà khởi đầu vẫn là ngọn nghành.
Như vậy, khởi đầu là biện chứng của nguồn gốc, chứ không phải là nguồn gốc. Nếu ta cho nhân duyên khởi là nguồn gốc thì ta đã lạc vào duy vật biện chứng rồi, vì ta đã thừa nhận vật chất là chủ thể.
Như chúng ta đã học có thuỷ và có chung đó là hệ thống thiết lập nhân duyên khởi về nhị nguyên; còn vô thủy và vô chung thì thuộc về nhất nguyên.
Vì lầm lẫn mà con người đã đặt ra nguyên thủy là như thế này hoặc như thế kia. Vì thế nên nhân loại cứ mãi đi tìm về lịch sử của nguồn gốc, nhưng rồi cũng không thể tìm được nữa, vì sao? Vì trong thế giới có quá trình hủy thể , hủy diệt và hủy tận.
Hủy thể dụ như con người chết đem chôn vài ba năm sau đào lên vẫn còn thấy bộ xương thì đó mới chỉ là hủy thể. Còn hủy diệt là trãi qua vài chục năm sau, nếu đào lên thì không còn thấy hình thể nữa mà chỉ còn lại một nắm tro. Còn hủy tận là hoàn toàn không còn một dấu vết gì nữa, vì nó đã trả lại tính toàn chất cho tứ đại, mà không còn tìm thấy nó được nữa, thì đó gọi là hủy tận.
Như vậy, trong thế giới của định luật duyên khởi, thì nó luôn luôn có cái tận khởi của khởi và khởi để rồi tận khởi, nếu chúng ta lấy đây làm gốc thì rất là nguy hiểm.
Nếu chúng ta cho rằng những gì rờ được nắm được là gốc thì ta bị giới hạn trong gốc khởi đó. Mà không thấy được sự vô cùng đã có giá trị tuyệt đối để hình thành cái khởi đó.
Thí dụ như một cái cây về tính thực nghiệm của gốc thì người ta đào lên, thì cái gốc đó cũng chỉ là giới hạn. Mà cái gì sinh và hình thành ra nó thì đó mới là gốc. Thì người ta lại cho rằng chân địa hoặc địa đại là gốc của nó. Nhưng nếu cho chân địa, địa đại là gốc thì cũng đơn giản quá, vì một mình nó cũng chưa đủ những yếu tố làm gốc. Thì người ta lại tìm thêm có thể tổng hóa là gốc, hoặc các đơn vị hóa học tổng hợp là gốc. Như vậy thì lại càng phức tạp và chính cái phức tạp vô cùng ấy là gốc. Còn mọi nhân duyên khởi đầu thì không thuộc về gốc. Vậy thì nhân duyên khởi là biện chứng pháp của gốc chứ nó không thuộc về gốc.
Như vậy, có thủy có chung là đơn vị hóa để hóa thành phẩm và hóa tác phẩm, hóa cái đẹp từ sự vô cùng đã cho chúng ta, chứ nó không phải là vô cùng.
Như tiếng nổ không biên giới và tiếng nổ có biên giới, cũng đã trình bày được về giá trị của nhân sinh quan và vũ trụ quan rất rõ ràng. Cũng đã trình bày về thượng tầng, trung tầng, hạ tầng một cách rõ ràng. Đức Phật đưa ra tiếng nổ không biên giới thì hoàn toàn tiếng nổ này cũng không ai hay biết; thì rõ ràng nguồn gốc ấy cũng có tính vô cùng rồi.
Đức Phật nhân cách hóa tiếng nổ vô cùng ấy là do sự kiến tính đã nhìn nhận thấy rõ về sự vô cùng của sức mạnh trung tâm vạn năng; chứ thật ra trong thế giới nhị nguyên không có tiếng nổ đó.
Như vậy, định luật nhân duyên khởi là một hệ thống lập trình của vô cùng và đến sự vô cùng kết tinh tinh hoa, lấy nhịp cầu của định luật duyên khởi để làm sự nghiệp hóa và hình thành các tác phẩm đẹp nhất trong nhân sinh quan và vũ trụ quan. Vậy nhờ định luật nhân duyên khởi đó mà chúng ta có được tác phẩm và thành phẩm. Nếu không có định luật đó thì tính biện chứng pháp về sự nghiệp vũ trụ hoàn toàn không có; và nếu không có định luật nhân duyên khởi thì mọi giá trị công luyện khách quan và tính thành tựu giá trị kim cương cuối cùng của duy ngã độc lập cũng không có và hoàn toàn hệ thống duy ngã đại thể và khắp cả tam thiên đại thiên thế giới trong vũ trụ cũng không có.
Có định luật nhân duyên khởi là để lập thể, mà khi lập thể thì hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính rất vĩ đại. Nhưng Đức Phật nói rằng: Nhân loại nhờ có định luật nhân duyên khởi đó mà hóa thượng, nhưng cũng chính định luật nhân duyên khởi đó mà hóa diệt, vì không biết bao nhiêu người họ đã ôm cái vô thường biến đổi và hủy diệt ấy làm gốc, nên họ đã nhào trộn khổ đau và chết bởi định luật nhân duyên khởi ấy.
Như vậy, ta ngộ ra định luật nhân duyên khởi là biện chứng pháp của nguồn gốc, chứ nơi ấy không phải là nguồn gốc. Mà nguồn gốc là vô cùng của chân tính bất biến thể, nơi ấy không có sinh diệt mà thường hữu, thường chiếu, thường minh, thường hóa; nơi ấy là nơi tập hợp sức mạnh của tất cả tổng tinh hoa. Đó là siêu sắc thể, cũng là chủ thể của giá trị hóa cho hệ thống sắc thể.
Như vậy, định luật nhân duyên khởi là khởi sinh và khởi diệt. Thì nhân duyên hóa sinh và nhân duyên hóa diệt không bao giờ có tính thường trụ trong sự sinh diệt ấy, là thuộc về hệ thống lập thể thì không thuộc về gốc mà lại là biện chứng pháp của gốc chúng ta.
Như vậy, đưa tri thức ánh sáng vào định luật nhân duyên khởi để làm chủ thị cho giá trị duyên khởi tương ưng. Vì xác định về định luật có tương ưng thì chúng ta đưa cái hiểu biết vào định luật tương ưng để hóa tương ưng và để trở về gốc.
Trở về gốc tức là vượt ra khỏi định luật duyên khởi mà có thể toàn hữu về duyên khởi và thành lập giá trị bất biến duyên khởi. Đó là nơi ổn định tuyệt đối của chúng ta.
Chúng ta có một định luật duyên khởi hoàn toàn đứng trên tinh thần khách quan của vũ trụ, mà chúng ta không đưa chủ tính giá trị duyên khởi tương ưng; mà ngược lại chúng ta lại biến đổi giá trị chủ tính tương ưng và hệ thống khách quan về tương ưng, thì bèn có mọi sự biến cố và hủy diệt trong đời sống ấy. Cho nên trong thế giới nhị nguyên thì chúng ta phải luôn luôn thấy rõ sự sáng tạo, sự bảo tồn và sự hủy diệt; vì thế giới nhị nguyên là luôn luôn có 3 chân ấy xuất hiện trong đời sống nhất định là sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt. Ở đây không thuộc về thần, mà thuộc về giá trị ánh sáng của tổng thể giá trị hóa, đối với định luật duyên khởi trong sự sáng tạo, bảo tồn tương ưng và bất duyên khởi giá trị khắc hóa trong định luật hủy diệt để tạo thành một cặp bộ chuyển động và hình thành trong thế giới nhị nguyên của hệ thống duy ngã đại thể.
Như vậy, chúng ta sẽ thấy được sự cân bằng về tính khách quan của định luật hóa và duyên khởi của sự sáng tạo, bảo tồn theo định luật thuận được hóa, còn nếu ngược lại thì bị hủy diệt cũng là định luật ấy.
Chúng ta rút từ định luật ra để xác định về tính định luật, thì đối với công luật vô cùng vẫn là tuyệt đối. Chúng ta phải xác định về định luật hủy diệt là hủy diệt về hệ thống lập thể và các đơn vị hóa học, nhưng về tính chất giá trị của hạt, của tính hóa học hoàn toàn không bị hủy diệt, thì đó chính là gốc.
Chúng ta đã xác định được gốc là bất diệt, như vậy sức mạnh của trung tâm ở nơi chân tính đã có một cường độ khổng lồ vô biên, vô tận, vô cùng, nhưng không biến đổi về chân tính ấy thì đó là gốc của chúng ta.
Về gốc của biện chứng pháp, nếu đứng trên vũ trụ quan thì nó vẫn là cái ngọn. Nhưng đứng trên nhân sinh quan thì đó là gốc nguyên thủy giới hạn, chứ không phải là gốc nguyên thủy vô hạn.
Như vậy, vế trên là vô cùng, là vô chung vô thủy, còn vế dưới là hóa thì có thủy và có chung. Vậy phần gốc của có thủy và có chung là gốc của hạ tầng, cũng là gốc của biện chứng pháp; thì chúng ta phải vượt cái gốc hạ tầng để tìm về gốc thượng tầng, đó là gốc của siêu chứng pháp.
Hôm nay minh triết đã làm rõ được giá trị thực tướng của gốc. Vậy chúng ta xác định vô cùng là gốc, còn định luật nhân duyên khởi là ngọn ngành.

LÝ NHÂN DUYÊN
Hôm nay chúng ta xác định lý nhân duyên là tất yếu trong thế giới nhị nguyên. Cũng như khi chưa thành tựu được hạt tâm của tính ánh sáng kim cương chân tâm thì lý nhân duyên sẽ tiếp tục hình thành. Trong 2 chiều hướng nhân duyên thuận và nhân duyên nghịch luôn xuất hiện trong đời sống cũng như nhân duyên sinh và nhân duyên tử cũng như thế.
Nên Đức Phật nói rằng: Lý nhân duyên thuận thì lý tu duyên hóa. Như vậy lý tu duyên thuận hóa là nhân ở lý nhân duyên thuận. Vì thế trong sự nghiệp tu, chúng ta không thể tách rời lý nhân duyên.
Về nhân duyên thì thuộc về khách quan, còn tu duyên thì nó có tri thức ánh sáng. Như các pháp có thể duyên với chúng ta ở mức độ thuận hay mức độ nghịch thì lý tu duyên về giá trị hạt tâm nó cũng nương theo cái thuận và nghịch đó.
Nên chúng ta phải biết rằng: Lý nhân duyên thuận thì lý tu duyên thuận hóa, thuận hóa tức là khi bắt đầu đi vào con đường tu thì các lý nhân duyên đều thuận theo nên gọi là tăng thuận duyên, là nhờ những nhân duyên thuận mà tăng trưởng giá trị tu học, tăng trưởng hạt tâm. Còn có người bắt đầu đi vào đường tu thì gặp lý nhân duyên nghịch lại. Tức là mọi cái giúp chúng ta thì hoàn toàn không thuận và chính không thuận đó nên vô tăng. Thì trong định luật tất yếu về lý nhân duyên đối với mặt bằng của Duy ngã đại thể thì luôn luôn xuất hiện 2 trạng thái là lý nhân duyên thuận thì lý tu duyên thuận hóa và lý nhân duyên nghịch thì lý tu duyên nghịch hóa. Vì tu là sửa chữa, vậy người ta muốn sửa chữa một thứ gì đó thì tất cả các pháp phải duyên lập để mà sửa chữa. Ví dụ như muốn sửa một chiếc xe thì chiếc xe nó có một hệ thống, cái này duyên cái kia, cái kia duyên cái nọ để thành chiếc xe. Và khi chiếc xe hư chỗ nào thì ta sửa ngay chỗ đó, nhưng nó đều liên quan đến cả chiếc xe. Thì chúng ta cũng ở lý nhân duyên tất yếu đó. Như vậy xác định về tính khách quan thì lý nhân duyên thuận là tốt rồi, nhưng lý nhân duyên nghịch thì là vô cùng khó khăn cho việc chống đở của hạt tâm lý tính. Muốn giải quyết vấn đề nghịch này đòi hỏi chúng ta phải có một hạt tâm ánh sáng mạnh mẽ để sắp xếp lại lý nhân duyên nghịch đó, để chúng ta quay ngược về chiều thuận trên con đường tu học. Ở đây là một trong phần chuyển nghiệp nó nằm trong lý nhân duyên nghịch.
Như vậy lý nhân duyên nghịch thì chúng ta phải dùng sức mạnh của ánh sáng trí huệ điều phóng để chống lại các pháp thuộc về lý nhân duyên nghịch bằng hệ thống pháp trí. Nên trong quá trình nghịch như vậy mà cũng có thể độ được, thoát được và mở rộng được thì gọi là: Nghịch tận độ. Vì vậy pháp nghịch tận độ là pháp mạnh mẽ nhất của giới cấp đại cư sĩ.
Trong giới cấp của giá trị hóa thì chúng ta thấy rằng tính tất yếu của lập thể về nhân duyên thì có 2 loại: nghịch và thuận. Về nghịch thì cơ nghịch thức. Nghịch thức là trái ngược với tất cả những tư tưởng về hướng thượng. Cùng cộng với nhân duyên nghịch thì trở thành một cặp bộ có thể nhận chìm chúng ta trong tam đồ khổ. Nếu Như Lai nói: Nếu các pháp nhân duyên nghịch về khách quan, mà chúng ta quyết tâm dùng ý thức mạnh để chuyển nghiệp quay về con đường hướng thượng thì lý nhân duyên nghịch đó sẽ từ từ được giải hóa. Chứ chúng ta đừng đổ trút cho lý nhân duyên nghịch đó là định mệnh cho bản hạt về giá trị hóa của tri thức ánh sáng đối với chủ tính.
Chúng ta đừng bao giờ tin theo thuyết định mệnh mà hãy tin theo thuyết nhân quả và tin theo định luật duyên khởi của các loại nhân quả tốt hoặc xấu mà chính chúng ta đã gây ra nhiều đời nhiều kiếp của 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Và lý duyên tu của chúng ta kém cỏi nên lý nhân duyên bao vây. Nếu lý duyên tu của chúng ta mạnh mẽ thì lý nhân duyên vãng hồi. Và vãng hồi chính đẳng giác, là không dựa vào lý nhân duyên mà vẫn có chân tính trung tâm vô thượng sĩ, đó là sạch hết tất cả các nhân duyên thuộc trong lý tất yếu của hệ thống lập thể.
Như vậy về khách quan có 2 mặt: Một, nếu ta gặp lý nhân duyên nghịch thì ta dùng hệ thống pháp trí cùng sức mạnh của ý chí để giải hóa nó. Hai, nếu chúng ta gặp lý nhân duyên thuận thì đây là một cơ hội lớn để chúng ta phát dậy ánh sáng của lý duyên tu và sức mạnh của lý duyên tu trong sự nghiệp hóa hạt tâm lý tính để thành tựu chính vị.
Còn nếu ta cho rằng không có lý nhân duyên thì ngũ hành cũng không có thành kết, thì thân thể không có ngũ tạng và não bộ cũng không có, cùng các tế bào nhỏ nhất trong thân thể này cũng không có. Như vậy các pháp nhân duyên khởi là một định luật chuyển hóa có tính chất ghép phức tạp và đơn giản ở từ trục hóa và hình thành giá trị lập thể để thực hiện những công trình hóa trong đời sống của lý nhân duyên.
Chúng ta thừa nhận lý nhân duyên và lý tu duyên là thừa nhận hệ thống Long giáng của phạm trù đối với lý tu duyên. Tức Long giáng là đại diện cho lý tu duyên trong hệ thống ấy và thực hiện những công trình lý tu duyên cho đại thể đối với sự nghiệp của Tế Điên. Tế Điên, Ngài đã hoàn chỉnh được lý tu duyên trên đỉnh cao của sự nghiệp hóa và thành lập được kim tính, nên Ngài đã hoàn toàn chiến thắng các pháp nghịch thuộc về nhân duyên khởi.
Bài này là một trong những chìa khóa để chúng ta mở được chỗ là không còn chấp nhân duyên và không còn né tránh sợ sệt nhân duyên. Vì chúng ta đã có chìa khóa đặc biệt là lý tu duyên và sức mạnh của sự chuyển nghiệp đối với hệ thống pháp trí. Như vậy lý nhân duyên và lý tu duyên là một cặp bộ trong đời sống Duy ngã đại thể. Trong 2 mặt trạng thuận và nghịch nó luôn luôn có trong đời sống lập thể của chúng ta. Trong thế giới nhị nguyên này có cả trong tam giới. Chỉ khi nào chúng ta ra khỏi tam giới thì mới ra khỏi lý nhân duyên.
Vì vậy con đường trở về của chúng ta không phải là bình thường mà luôn luôn gặp nhiều chông gai, nhiều thách thức và đòi hỏi chúng ta phải có một ý chí và sức mạnh vĩ đại thì mới thực hiện được. Còn nếu chúng ta cứ thả trôi theo sự hưởng thụ thì sự hưởng thụ này sẽ có ngày chấm dứt.
Đối với Như Lai nhìn thấy rất xót xa cho những con người giàu sang phú quí mà chỉ biết hưởng thụ. Nên bèn nói với các tông đồ: Hãy xem thấy sự phù hoa và giả hóa của các màu sắc hoa đốm ấy đối với lâu đài và lập thể biến đổi của thân mệnh, vì tức khắc nó mất tất cả mà nó không hề biết. Cũng ví như một đàn cừu đang bình yên vui đùa ăn cỏ trên thảo nguyên mà chẳng hề biết rằng ngày mai đây ông chủ nó sẽ xuất nó đi bán và người ta sẽ làm thịt nó.
Chúng ta hãy xác định cuộc đời này không có gì cao sang và quí bằng sự nghiệp tu học và không có gì quí bằng con đường trở về với ánh sáng trung tâm, đây là con đường cực kỳ hạnh phúc nhất của loài người.
Đối với sự nghiệp Công Luật vũ trụ học là hoàn toàn có thực. Nếu không có thực thì làm gì có Duy ngã đại thể, làm gì có ngân hà thiên hà, làm gì có các bác học, siêu nhân, làm gì có đấng hóa thân vĩ đại như Đức Thích Ca Mâu Ni, làm gì có ngôi vị tột cùng về trí huệ uyên bác soi sáng còn hơn hàng trăm triệu mặt trời kia, ví dụ như Đức Quan Thế Âm thì hoàn toàn có thực. Như vậy Đức Quan Thế Âm nhân ở trung tâm ánh sáng vô cùng không biến đổi mà có thực, nhân ở vô lượng kiếp tu mà Ngài có thực và Ngài là chất liệu kim cương và Ngài đã hoàn thành xứ mạng thiêng liêng nhất là thành một khối kim cương khổng lồ, đó là hoàn toàn có thực. Vậy chúng ta hãy quyết liệt trên con đường có thực đó để chúng ta có những tác phẩm hoàn toàn thực và đời đời được sống tỏng vũ trụ mà không còn bị trầm luân khổ ải trong luân hồi sinh tử.
Như vậy chúng ta đến đây đâu tha thiết gì về danh quyền địa vị, vì những thứ đó hoàn toàn là mượn. Nên các vị Thánh nhân mượn áo quan làm đạo, mượn áo vua làm Phật. Tức là mượn tất cả những quyền lực ấy nhằm mục đích để cứu rỗi, để kinh bang và đem lại hạnh phúc cho con người còn trầm luân và khổ ải. Đó là chính thống hóa của sự nghiệp mặc áo vua và áo quan là phương tiện, là trá hình của sự nghiệp cứu rỗi đối với Như Lai. Đó là những công cuộc phản gián vĩ đại nhất của Đức Quan Thế Âm và Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng dùng tất cả các pháp vô ngại đối với sự nghiệp hóa thân ở trong các Ưu bà tắc, Ưu bà di, Tì khưu cư, Tì khưu tăng cùng tất cả các thành phần thấp nhất kể cả ngạ quỷ thì Đức Quan Thế Âm đều có thể dùng các thân ấy để thực hiện các công trình vĩ đại nhất của vũ trụ.
Hôm nay, Hồng ân được sáng lên cùng từ ngàn tay thiêng liêng nhất và từ ngàn mắt sáng chói nhất của Đức Quan Thế Âm. Nên đối với Đức Quan Thế Âm là chủ thể của sự nghiệp công án và chủ thể của sự nghiệp Công Luật và Ngài là hiện thân của sự siêu thực hóa trong đời sống của Cửu kinh minh triết qua thân thể của ông Cha.

TÌM LẠI CHÍNH MÌNH
Nếu chúng ta đi tìm về giá trị thực là nguồn cội của chính mình, mà đi tìm trong biến đổi thì sẽ không có được chính ta. Nếu chúng ta tìm về hình hài, tìm về đôi mắt, tìm về não bộ hình lập v.v…thì hoàn toàn rất lỏng lẻo. Bởi vì chúng ta đã có nó rồi mà còn đi tìm chi nữa. Cũng như ta trở thành con người thì không phải đi tìm con người. Như vậy, tìm lại chính mình là vượt lên mọi giá trị hệ thống lập thể ấy.
Hôm nay chúng ta sẽ nghị luận về giá trị của thặng dư và vô dư. Đức Như Lai nói về thặng dư và vô dư là nói về giá trị của kim tính không còn biến đổi trong sự nghiệp hóa cao nhất của duy ngã đại thể.
Thí dụ như một người tỉ phú đó là thặng dư về vật chất thì thặng dự đó không phải của chính ta mà đó chỉ là phước hữu lậu mà thôi. Thế thì thực tướng của thặng dư là thuộc về kim tính. Chúng ta phải xác định rõ điều này. Và phải giác ngộ rằng: thân thể này cùng hệ thống lập thể là không thuộc về của ta. Mà tất cả là cái mượn để làm giàu mạnh và thặng dư kim tính.
Như ngày xưa chính tôi đã được nghe đức Từ phụ Thích Ca hỏi rằng: Đạo tràng ta có được thặng dư chưa? Thì đức Ca Diếp trả lời rằng: Thưa đức Thế Tôn, đạo tràng của đức Thế Tôn khi thặng dư là mức độ kim tính hóa trong thập lực và sức mạnh hóa trong lục đạo đã ròng tính về tứ quả thánh thì mới có thặng dư.
Như vậy chúng ta nghị luận để loại trừ và chấm dứt mọi sự lầm lẫn về tính thặng dư. Khi chúng ta chấm dứt lầm lẫn càng sớm thì chúng ta được trở về trong chân hạnh phúc càng sớm. Hạnh phúc ở đây là thuộc về những thứ không bị biến đổi, đó mới là hạnh phúc mãi mãi bền vững và không bao giờ chấm dứt mà các đức Như Lai, Bồ Tát đã có.

Phần nghị luận:
Ngài bảo ông Chơn Phát Đạo Quang trình bày.
Ông Chơn Phát Đạo Quang: Thưa Cha, ta đi tìm lại chính ta thì dễ mà khó. Khó ở đây là lấy cái biết đi tìm cái biết. Tức là mình đã tự quên chính mình rồi lại đi tìm chính mình thì rất là khó. Mà chỉ khi nào nhân ở các pháp tướng mà ta trực ngộ nhận ra chính mình thì mới có chính mình.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, cái khát vọng lớn lao và muôn đời của con người là muốn nhìn thấy được chính họ. Tuy nhiên muốn trở về với chính ta không phải là dễ. Vì hạt tâm lý tính được bao bọc bởi ngũ uẩn, bởi tất cả những sở nhân duyên mà hình thành, nên đào sâu vào chính ta là phải trãi qua quá trình công phu và sự khai thị. Nên tất cả các bậc thế vì đến với thế gian là nhằm mục đích để khai thị cho con người thấy được chính mình. Nên đức Phật Thích Ca mới có tuyên ngôn: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Thì chính đó là mối chốt để giải quyết tất cả mọi vấn đề. Tuy nhiên trong cuộc sống mà trở về chính mình thì không phải là dễ.
Đối với bản chất của Duy ngã đại thể là có hạt tâm lý tính nhưng muốn được kết tinh chân tâm ánh sáng thì phải hóa. Vậy tính sen phải nhờ đến bùn. Nghĩa là chúng ta có thân ngũ uẩn thì phải vượt qua rào cản đó để trở về với chính mình đó là quy trình chuyển động và kết tinh hạt tâm lý tính thì chúng ta mới có được chính ta. Đó là sự hiệp thông giữa tâm và pháp.
Ngài dạy: Chúng ta hãy xác định thứ gì thuộc về thực tướng của ta và thứ gì không thuộc về của ta. Đối với những nhà khoa học, thường thì họ bản ngã là họ đã thắng phục được những công trình khoa học mà họ đã làm ra. Nhưng thực ra thì chính họ chưa thắng phục được họ. Vì nền khoa học ấy đã đưa họ đi quá xa với chính họ. Thí dụ, có một người đang làm giàu về phần lập thể thì thường trong con mắt đối đãi con người cho đó là giàu. Nhưng giàu trong sự thoái độ và khuyết hãm về giá trị kim tính. Nên Như Lai liền bảo rằng: “Nhân của tỉ phú là quả của trắng tay”. Tức cái thặng dư đó nó thuộc phần vỏ mà phần hạt thì không có thặng dư nên nó trở thành không. Hoặc thí dụ ông Cấp Cô Độc về mặt lập thể có 3 lẩm vàng, và ông đã đem 3 lẩm vàng ấy ra để thiết lập đạo tràng cùng đức Thế Tôn. Như Lai và hội đoàn của Bồ Tát liền thấy ông Cấp Cô Độc có một sự thặng dư trong 3 lẩm vàng ấy. Như vậy, ông Cấp Cô Độc đã làm được một việc cực kỳ mạnh đối với giá trị phát triển thặng dư ở phần thực tướng mà phần ngoài thì cũng hoàn toàn không mất. Vì sao? Vì 3 lẩm vàng ông bỏ ra hoàn toàn có tính công dụng rất cao cho đại chúng. Vì vậy mà ông đã tìm lại được chính ông.
Như vậy, các vị tôn giả đã theo Như Lai là tri kiến về pháp tính ánh sáng vô biên và sự nghiệp hạt tâm lý tính thặng dư, và đã tìm được thực tướng của chính mình. Nên khi có biến cố thì chính sự thặng dư kim tính ấy sẽ hóa giải được mọi sự khủng bố. Tức là sự giàu có của kim tính ấy hóa giải được mọi sự mất mác về mặt lập thể. Như đối với các Tổ sẵn sàng mất cái đầu mà không hề run sợ, còn đối với chúng sinh thì đó là một điều khủng khiếp và run sợ. Vì thế ta thấy rằng những kẻ tham sống, sợ chết là kẻ ấy mất lý chân tu. Còn người đã thể nhập được lý chân tu thì đối với cái chết là rất nhẹ nhàng, điều đó là sự thực. Vì sao? Vì họ thấy được trong nhà đã có kho ngọc và làm chủ được kho ngọc ấy, thì bên ngoài kia là những thứ của cải vụn vặt. Nếu ai đó đánh cắp những thứ bên ngoài ấy thì không quan trọng vì họ đã có cái bên trong rồi. Vì vậy đối với Như Lai về mặt lập thể là tính công dụng trên con đường hóa thân, nhưng khi hóa thân thành tựu chỗ nhất thừa rồi, thì những thứ mượn đó trở thành rác. Như vậy thân ngũ ấm đến bây giờ thuộc về rác. Cũng giống như người dùng thuyền để đi qua sông, khi đã qua đến bờ bên kia rồi thì thuyền ấy không còn giá trị đối với người ấy nữa. Như vậy thân thể chúng ta ví như con thuyền và thế gian ví như dòng sông. Thân thể chúng ta là phương tiện hóa, giống như chiếc thuyền qua sông và khi chúng ta đã qua bờ rồi thì chiếc thuyền ấy hoàn toàn không có giá trị đối với chúng ta nữa. Như vậy chúng ta đã có được thặng dư về kim tính ánh sáng vượt trên con sông mê ấy. Thì việc khủng bố điên đảo ở trong đời sống của thế gian đã được chấm dứt.
Nên đức Khổng Phu Tử nói rằng: Thành nhân là đã chiếm được địa vị đạo lý cao nhất của trời đất, là đã vững chắc về giá trị đạo lý nhân bản đối với con người, đã có một khuôn vàng thước ngọc trong đời sống ấy thì trời đất đã ôm choàng họ và họ cũng không biến đổi trong giá trị sống của thời gian và không gian.
Đức Lão Tử cũng nói rằng: Tất cả những khí pháp thực tướng của thiên nhiên đã hoàn bị trong dịch lý của giá trị tổng thể. Một khi con người đạt được tính chất ấy thì nó trở thành một khối vàng bất biến trong đời sống của vũ trụ, thì chính họ hoàn toàn không mất vũ trụ và vũ trụ đã được ở mãi trong họ.
Cùng rất nhiều các vị thiền sư đã đạt chứng được giá trị nhất thừa thì đối với đời sống của họ đã được tự tại vô ngại và họ đã được trở về với chính họ. Còn đối với chúng sinh thì trôi lăn theo dòng nghiệp và còn bị ràng buộc nhiều thứ mà không thể bức phá ra được. Rồi thời gian cứ trôi qua, trôi qua và cuối cùng dồn dập lại những sự khủng bố điên đảo cho đến ngày chết mà không chấm dứt được sự điên đảo và khủng bố ấy. Nên chúng sinh là cộng nghiệp của sự khủng bố, chúng sinh là tương tục chịu những sóng gió, biến đổi trong sóng gió và hoàn toàn không có ngày yên nghỉ.
Như vậy, hạnh phúc của chúng sinh là hạnh phúc trong biến đổi rất là mong manh. Chính vì vậy mà có những vĩ nhân, siêu nhân, hoặc có những người đã trắc nghiệm được cuộc sống đi tìm chân lý dùm cho chúng ta. Như đức Thích Ca Mâu Ni là một trong rất nhiều những người đi tìm chân lý. Ngài tri kiến Phật sinh vào trong gia đình quí tộc, vương giả và quyền lực cao nhất. Và Ngài cũng giải quyết vấn đề sinh lão bệnh tử và tri kiến những giá trị vô thường ở trong đời sống của thế giới. Ngài đã thoát ra khỏi sự vô thường ấy để tìm ánh sáng thường trụ và đem ánh sáng ấy cứu rỗi cho chúng sinh trong thế giới biến đổi. Vậy Như Lai đã tri kiến và giải quyết những vấn đề của Duy ngã đại thể, và xác định về Duy ngã đại thể có thực tướng trong đời sống ấy. Vậy Như Lai dám bỏ ngôi vị cao nhất là vua chúa và vương quyền để đi tìm một thứ không có vương quyền và không có hệ thống thống trị, là đi tìm những thứ vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc để có được sự thặng dư kim tính cao nhất cho thế giới loài người. Như vậy, Như Lai đã đem công án hóa vào đời sống của thặng dư kim tính và đưa hệ thống Duy ngã vạn pháp kinh để kết tinh tinh hoa kim tính cho loài người, đó là giá trị cao nhất trong đời sống của thế giới Duy ngã.
Như vậy, chúng ta có thể xây dựng bất cứ một công trình nào vĩ đại nhất mà chúng ta không tìm về chính ta và chúng ta không thấy được chính ta có một cuộc sống làm chủ được vạn pháp thì công trình ấy cũng chỉ là một cái bóng của cuộc sống không có thực tướng, thì không bao giờ mang nó đi theo chính ta và cất giữ nó cho chính ta được.
Như vậy thặng dư kim tính bên ngoài là giải quyết được mọi sự đói nghèo và có tính bền vững cao nhất về đời sống của hệ thống lập nghiệp. Nhưng nếu chúng ta thặng dư về kim tính bên trong thì là vua của mọi thặng dư về hệ thống lập thể và chúa của mọi sự hóa thân trong đời sống thực tướng và hạnh phước thường trụ trong đời sống vũ trụ.
Như vậy, người ta có được sự khôn ngoan trên mọi sự khôn ngoan là phải giải quyết về những sự khủng bố. Vì có hệ thống lập thể là bèn biết có hệ thống khủng bố của những định luật thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử. Là những giá trị biến đổi của những cơn sóng dữ ở đại dương thế gian. Vì vậy nên vượt tuyết của thời gian để tìm về chính ta là thoát khỏi mọi sự biến cố, đồng thời giải quyết những vấn đề khủng bố cuối cùng trong đời sống ấy.
Như vậy thì đây có một phần chói lọi của ánh sáng Bát nhã tâm kinh và hoàn toàn ở trong mật ngữ ánh sáng viên giác của Đại bi Đà La Ni và lòng yêu thương vô tận của đức Quan Thế Âm có nghìn mắt chói sáng và nghìn tay trang nghiêm. Và Ngài là đấng đã vẹt ra tất cả những sự u khuất, trầm uất để đưa ánh sáng Cửu kinh vào trong đời sống để giải quyết những vấn đề thuộc về thặng dư kim tính. Chúng ta nhờ ánh sáng ấy mà tìm về chính ta.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ xác định như thế nào là tìm về chính ta.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, để xác định được chính ta thì cơ bản đầu tiên là phải xác định được thực tướng và giả tướng. Đồng thời phải định nghĩa được giữa tâm và pháp cho rõ ràng. Từ đó, chúng ta mới tìm về chính ta một cách chính xác.
Như vậy, nói về tâm thì trung tâm vạn năng là thực tướng của giá trị thượng tầng. Còn hạ tầng thì hạt tâm lý tính là thực tướng. Còn ý thức của chúng ta nó là phương tiện hóa thực tướng và nó là cái dụng của tâm. Như vậy, chúng ta phải biết rằng những gì biến đổi thì nó không phải là thực tướng và không phải là của ta. Vì của ta là thuộc về chân tính, pháp tính hoàn toàn không có biến đổi. Còn nói về pháp thì có gốc và ngọn, có tính và thể. Pháp tính là thuộc về tính ánh sáng của hạt tâm bất biến; Pháp thể là tất cả các pháp lập thể. Như vậy nếu chúng ta sống mà đi tìm những cái thuộc về của ta mà lại chạy ra ngoài để tìm thì sẽ không có, mà ngược lại chúng ta đã tự đánh mất cái của ta rồi.
Ngài dạy, cái của ta là cái gốc để thành lập về lập thể. Như chúng ta có lập thể đây là phải có cái gốc của nó. Đó là hạt tâm lý tính để lập ra thể. Như vậy gốc của chúng ta là hạt tâm lý tính thì hình thể là thứ yếu, là phương tiện kết tinh và trở về giá trị siêu tinh của hạt tâm lý tính. Nên đức Như Lai đưa ra vô ngã là vô ngã hóa về giá trị lập thể, vô ngã hóa về giá trị nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng và ngã tướng, chứ không phải vô ngã hóa về hạt tâm lý tính.
Người Duy vật là người kẹt trong ta của hệ thống lập thể và kẹt rất sâu, kẹt rất rộng và rất dày. Nên khi hệ thống lập thể bị biến đổi thì người Duy vật bị chới với trong sông mê và biển khổ. Và mọi sự bẻ bàng khốn nạn nhất của đời sống đã đến vì bị mất đi hệ thống lập thể, mà bao nhiêu năm chúng ta nghĩ rằng là của ta.
Như vậy, người tìm về chính ta là phải đi trên con đường thực tướng của trung tụ, là người xác định tính ánh sáng vô biên và không biến đổi trục trung tâm ánh sáng, thì người ấy mới thấy được chính ta.
Về nhân học thì đức Khổng Phu Tử cũng xác định cái ta rất rõ ràng có tính đạo lý trọn vẹn. Còn đức Lão Tử thì lại đưa chân khí thực thể của giá trị chân tướng để làm sức mạnh cho tổng dịch. Và một khi chúng ta hóa được tổng dịch để trở về trục trung tâm thì cũng không mất cái ta. Còn đức Phật Ngài không nói dịch nhưng Ngài thu tóm vạn pháp trong nguồn gốc tổng thể của vạn năng và sức mạnh trung tâm để hóa vạn pháp để làm kết tinh tinh hoa chân tâm và thành tựu hạt tâm lý tính cao nhất để được 10 hiệu Như Lai tối thượng.
Về bản chất tổng thể của đại ngã vũ trụ quan thì ta thấy dù cho một trăm triệu mặt trời nổ tung một lượt, hoặc những biến đổi dữ dội nhất của hệ thống lập thể thì chân tính vô cực ánh sáng hoàn toàn không biến đổi. Như vậy về mặt lập thể chúng ta nêu lên ánh sáng mặt trời là hệ thống hội tụ cao nhất để phát chiếu ánh sáng về quá trình lập thể đời sống của các hành tinh, thì chính những loại ánh sáng đó có biến đổi không cùng, mà chân tính hoàn toàn không thay đổi. Như vậy, một khi chân tính đại ngã của vũ trụ quan hoàn toàn không sụp đổ thì tất cả những sự biến đổi kia là một sự thiết lập của giá trị hóa và có thể thăng hoa trong giá trị hóa đối với hệ thống thái dương hệ, ngân hà và thiên hà. Thì sự biến đổi ấy cũng là một sự phục lâm đối với công cuộc chung của vũ trụ quan và các thái dương hệ trong đời sống của nhân sinh quan.
Nếu chúng ta mở rộng về không gian 3 chiều và đến tột cùng của không gian và vượt ra không gian thì chỉ còn là chân tính ánh sáng vô biên mà thôi. Nếu chúng ta kéo xuống tầng thấp nhất là sự biến đổi của sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử không cùng của sự tan biến cấp tỉ trong hệ số ấy thì giá trị hạt tâm lý tính của các cấp độ vẫn tồn tại. Chỉ khác có một điều là tiến hóa hoặc thoái hóa mà thôi.
Nếu có một tỉ người cùng chết một lượt thì trong một tỉ người ấy sẽ có một tỉ lệ giác ngộ giá trị thực tướng và họ sẽ chuyển động và hình thành giá trị thăng hoa ở cấp cao. Còn những hạt tâm lý tính bị chìm xuống là vì họ thoái hóa bị rơi vào trong các cấp thấp chứ không mất chính họ. Cũng giống như mọi hạt hóa của đời sống cuối cùng đều rụng về đất và tiếp tục mọc lại. Như vậy sinh hóa trường tồn và phát triển trong đời sống hóa của bản hạt và các hệ thống lập thể.
Như vậy, chúng ta giác ngộ chỗ này để mau chóng quay về với chính ta và thành lập được hạt tâm lý tính tính ánh sáng vô biên, đồng nghĩa với chân tính vô cực mà vũ trụ quan đã cho chúng ta.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, con xác định tìm về chính ta tức là tìm về cái không biến đổi. Hoặc là tìm về cái hằng số. Như trong đời sống nhị nguyên thân thể chúng ta và các pháp lập thể biến đổi, nó thuộc về biến số nên nó không thuộc về chính ta. Như vậy, tìm về chính ta tức là phải trở về hằng số để điều ngự tất cả những biến số, nhờ đó mà chúng ta có được một đáp số là hằng số cuối cùng. Thì đó chính là chính ta, cái thực tướng không biến đổi, và cũng là chân tính bất biến trong vũ trụ này.
Ngày dạy, như vậy chân tính bất biến đổi về giá trị ánh sáng vô cùng đã cho chúng ta tỉ tỉ lần trong giá trị bích dụ và phương tiện hóa về bích dụ để giải quyết vấn đề thực tướng. Thế thì tùy theo căn cơ giác ngộ mà đem những nghĩa lý bích dụ để hóa và thành lập thực tướng trong hệ thống kinh điển bích dụ ấy.
Như vậy bài này để giúp chúng ta tìm về chính ta để hóa Cửu kinh minh triết, để thông suốt các chiều mà không bị phản ứng các chiều, để thống nhất một trung tâm mạnh mẻ nhất, để thoát khỏi mọi biến cố khủng bố và điên đảo trong giờ cuối cùng của đời sống chúng ta.
Như vậy đối với người thượng căn là trở về thực tướng để soi chiếu. Đối với người hạ căn đã thầm than ôi! Vì mọi dòng nghiệp đang kềm kẹp họ còn hơn là nhà tù. Họ tưởng rằng đi ở tù mới là tù. Nhưng thực ra chính đời sống của họ đang ở trong tù của ngũ ấm và bốn vách tứ đại đất nước gió lửa và bị khủng bố trong dòng nghiệp điên đảo mà không chấm dứt ấy, thì đời sống họ đang ở trong tù ngục của hệ thống lập thể vô thường. Và hoàn toàn họ là những người ở tù, tức là ở tù trong dòng nghiệp, ở tù trong sự biến đổi và khủng bố, ở tù trong mọi thứ không được tự do. Và chính họ đang bị kẹt trong các nghiệp nên tư tưởng ánh sáng họ hoàn toàn không được tự do. Như vậy, người tự do là người đã thắng phục được vạn pháp, tự tại trong vạn pháp. Đó là nền tự do vĩ đại nhất của đức Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc Bồ đề bên dòng sông A nô ma. Là đấng được tự do hoàn toàn trong vũ trụ quan và nhân sinh quan. Ngài có một ánh sáng biến chiếu trong hệ thống lập thể tự do một cách viên mãn. Đức Thích Ca là đấng thống thái của sự tự do và chúng ta đang thèm khát sự tự do này.

TRIẾT GIẢNG VỀ THIỆN VÀ ÁC
Bình thường tất cả chúng ta đã qua quá trình tu chính, chúng ta có cái quan niệm chung là cái gì tốt là thiện, cái gì xấu là ác. Nhưng thật ra trong đời sống chúng ta có nhiều khi phải đồng hành thiện và ác, trong quá trình duyên khởi thì cũng có tương tác giữa thiện ác về duyên khởi đó và chúng ta cũng chưa làm sáng tỏ về vấn đề thiện ác đó, vì nó rất phức tạp.
Vì vậy nên tôi chia ra bốn phần: Là trong thiện có ác, trong ác có thiện và trong thiện không có ác, trong ác không có thiện.
Thế nào là trong ác có thiện? Ví dụ thứ nhất: như ông A có một người Mẹ bệnh nặng mà bệnh của bà thì chỉ có bắt được con rắn mun mới có thể cứu được bà Mẹ. Vì cứu Mẹ mà ông A đầu tiên là khởi tâm và hành động giết con rắn, rồi sau đó mới đến việc cứu Mẹ. Vậy cái giết trước cái cứu, đó là trong đồng hành của cái thiện và ác, thì chúng ta phải tính cái tỷ lệ giữa thiện và ác như thế này. Nếu giết con rắn là vi phạm của hai cấp, nhưng mà cứu Mẹ là tăng trưởng của tám cấp. Vậy việc cứu người Mẹ lớn hơn việc giết con rắn đó. Thiện ác đồng hành nhưng mà kết quả về giá trị thiện nó cao hơn cái ác, thì ta sẵn sàng giết con rắn đó. Vì ta đem trừ ra sự chênh lệch giữa cấp độ thì ông A vẫn còn sáu. Nhưng nói về chính lý thì ông A vẫn có hành vi ác, nhưng mà tỷ trọng và giá trị cứu thì cao hơn cái sát. Nếu tính giữa con người và con rắn thì nó chêch lệch ở cấp độ quá lớn, vì từ con rắn mà chuyển qua con người phải trãi qua a tăng kỳ kiếp, nhưng anh cứu sống cái thành quả của nhân bản về a tăng kỳ, mà anh giết một rắn nó không thuộc về a tăng kỳ. Tức là anh cứu một con người nó thuộc về ý thức, mà anh giết một con rắn nó thuộc về cảm thọ. Thì giữa sự cảm thọ và ý thức nó chênh lệch mức độ quá lớn. Chính vì vậy mà chúng ta giết con rắn. Đó là trong ác có thiện.
Ví dụ thứ hai: Như Ngài Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát lúc Ngài hóa thân đồng thời với Phật, cái hành pháp của Ngài là tri kiến Phật thống hiếu. Nhưng sau khi Ngài hóa thân Bồ Tát để mà hành sử trong xã hội đó, thì chính Ngài là người giết 50 tướng cướp trong một đêm, tại sao Ngài phải làm chuyện đó. Bởi vì 50 tướng cướp đây nó đã từng giết người từ quận này sang tỉnh nọ, gần như nó đến đâu sát phạt đến đó, kể cả một đại thể, làm mất không biết bao nhiêu là của cải, không biết bao nhiêu là mạng người, chồng mất vợ, con lìa Cha, anh mất em và người người mất nhau, bởi 50 tướng cướp đó nó khốc liệt đến nỗi là người phải tru và trời cũng phải tru. Không còn cách nào nên trời phải sai Đại hiếu Mục Kiền Liên hóa thân làm vị đại tướng và chỉ trong một đêm, Ngài giết sạch 50 tướng cướp. Vì Ngài muốn đem lại mọi sự bình an cho nhân loại để nhân loại không còn bị dấy ác. Vì nếu không giết 50 vị tướng cướp đó, thì việc dấy ác nó sẽ rộng khắp trong xã hội đó, và nguy hại về sinh mạng con người, có thể lên hàng trăm ngàn người. Cho nên Ngài phải giết 50 người để cứu hàng trăm ngàn người khác, Thì hành động này là Ngài thừa thiên, tức thay mặt trời để hành quyết. Khi Ngài giết tức nhiên phải có tội, nhưng đối với Ngài được giảm trừ cái phần giết đó, vì tính con số nhân về sự cứu độ của Ngài, thì cứu vẫn cao hơn. Nên quả vị Bồ Tát không bị biến đổi. Đó là đại thừa, là trong ác có thiện. Nếu minh bạch về cái vế này thì đây vẫn là cái giá trị thiện, đây là tỉ lệ thuận.
Thế nào là trong thiện có ác? Ví dụ: Ông B giết sạch cả gia đình gồm có 9 người để ông lấy vàng lấy của về ông nuôi một vợ ba con. Đó là tiền ác nhưng hậu thiện, nhưng tỷ lệ thiện lại nhỏ hơn cái ác. Nếu tính ra thì ác bảy mà thiện có ba, nếu đem trừ ra thì ông B vẫn còn bốn số điểm ác mà không lấy gì bù được, thì đây là tỉ lệ nghịch.
Như vậy, chúng ta phải tính thiện ác ấy bằng toán học và quy trình chuyển động của ý thức qua quá trình hoạt động của giá trị ác thiện, để minh định giá trị thiện ác và định nghĩa thiện ác.
Thuần thiện là gì? Là chúng ta đem cho người, mà chúng ta không cầu lợi người khác đem cho ta. Nghĩa là chúng ta làm thiện mà hoàn toàn không có một chút ác trong đó. Tức là trong thiện không có ác.
Còn trong ác không có thiện là khi con người họ đam mê, họ nghiện ngập, thì bản chất họ không quay lại thiện được, vì họ sống trong cuộc đời nghiện ngập, do nghiện ngập đó nên họ đi giết người, cướp của và họ không giúp cho ai hết. Thì đó là trong ác không có thiện, và ngày ngày họ quen tập làm như vậy, thì việc đi làm một chút thiện cũng không bao giờ có trong cái ác đó.
Như vậy, bốn vế này đã được minh định giá trị thiện ác của loài người trong tính mâu thuẫn và không mâu thuẫn, trong tính nghịch biến và không nghịch biến, trong cái tính thuận và tính nghịch. Giữa tính thuận và tính nghịch mà nó tạo ra trọng lực của giá trị thiện ác khác nhau.
Đây là bốn vế giá trị trong ác có thiện, trong thiện có ác, trong thiện không có ác và trong ác không có thiện. Bài này chúng ta phải học để sau này ra đời, sẽ gặp phải những con người ngông ngô đến mức độ nó nói rằng không có thiện ác gì hết. Đó là cái mâu thuẫn của xã hội nội tại và nó bị cuốn hút theo cái lực đó mà buộc phải làm, thì chúng ta phải giải quyết bằng toán học, để cho rạch ròi giữa thiện và ác từ bốn vế đó và phân định thiện ác cũng được rõ ràng như vậy.
Tóm lại, khi chúng ta minh triết được giá trị thiện ác, định nghĩa được thiện ác. Thì thiện ác vẫn là thiện ác, chứ không thể khác và lẫn lộn được.
Như vậy, chúng ta phải cố gắng quyết tâm thực hiện cho được các loại nhân quả thiện. Nếu chưa đạt được chỗ vô dư, thì chúng ta vẫn ở trong đời sống của hữu dư, của nhân quả thiện nghiệp. Và từ nhân quả thiện nghiệp đó chúng ta sẽ đi dần lên chỗ vô dư, chỗ nhất thể.
Tâm đức phát sinh từ đâu? Chúng ta ở trong lập trình của nhị nguyên thì tâm đức phát sinh từ vô lượng thiện nghiệp, tức là từ cực vi của thiện nghiệp đi đến cực đại của thiện nghiệp và chính cái cực đại thiện nghiệp đó làm nền tảng cho tâm đức. Vì chỉ có thiện nghiệp mới trở về cái lõi của ánh sáng, làm sức sống và đẩy ngược tâm thức vào chu trình thượng.
Xã hội hóa từ thiện là mục đích đi về cái nguồn thực của nó. Vậy thiện nghiệp vẫn là mặt bằng đời sống chân thật nhất của xã hội, chứ không phải ác nghiệp và tội ác.
Tội ác là tri kiến sự báo khổ cho tất cả những giá trị trong đời sống để chúng ta phải cảnh tỉnh trong sự phạt trích đau khổ đó. Chính từ những nhân quả đắng cay đau khổ đó mà cảnh tỉnh. Chính vì những sự khốc liệt đó mà chúng ta cảnh tỉnh, để chừa bỏ tất cả những loại nhân quả đó.


GIẢNG VỀ NGHIỆP

Đứng về nhân sinh quan, nếu không có tính thể lập thành nhân bản thì không có nghiệp, đó là tính biện chứng. Như vậy tính tất yếu của nghiệp đã có rồi, con người là sản phẩm của các loại nghề nghiệp, con người là gốc của sự phát minh ra các nghề nghiệp, nghề nghiệp của con người có nhiều loại: như người thì làm thợ may, người thì làm thợ rèn, người làm thợ mộc, người làm nông, làm biển…v.v Có người cùng lúc lại làm 2 nghề hoặc 3 nghề. Tất cả đều có nghề, mà nghề tức là nghiệp, nên gọi là nhân sinh bá nghiệp. Nghiệp, như một vết lằn sâu lặp đi lặp lại hàng ngày. Như vậy tính biện chứng của nghề nghiệp là do nhân bản mà ra.
Chúng ta phải hiểu như thế nào về cái thực của nghiệp. Thực ra, thực và giả là do chúng ta phân biệt. Vì ở tầng dưới là tầng của hóa sinh, của bá nghiệp để huân tập đi đến tối thượng nghiệp, đi đến chánh nghiệp. Nhưng mà chánh nghiệp hóa bá nghiệp, chánh nghiệp lại từ đại sự nghiệp trung tâm vạn năng mà ra.
Nghiệp của Như Lai và chúng sanh khác ở chỗ nào? Nghiệp Như Lai là trở về nhất thể, mà nghiệp của chúng sanh là chưa trở về nhất thể. Vậy nghiệp không có thực và giả mà chỉ có tương đối và tuyệt đối mà thôi. Nếu có giả là vì nó không thường trụ. Ví dụ, như hôm nay ta làm nghề này, rồi ngày mai ta lại đi làm nghề khác. Cũng như hôm nay ta làm nghề ác, nghiệp ác, rồi ngày mai ta lại đi làm nghề thiện, nghiệp thiện. Đó là sự thay đổi giữa ác và thiện hoặc thay đổi giữa nghề tốt và nghề xấu. Chính vì vậy nên bá nghiệp là không có thường trụ, nên gọi là tương đối. Còn khi trở về cái nghiệp của tối thượng thì không còn biến đổi, đó là sự nghiệp Như Lai. Như vậy chúng sinh ở tầng dưới gọi là bá nghiệp, nhưng khi huân tập trong bá nghiệp để tìm ra một con đường trở về chỗ tột cùng cao quý nhất của nghiệp, thì gọi là chánh nghiệp. Từ chánh nghiệp đi đến tối thượng nghiệp và đi đến sự nghiệp Như Lai, chỗ đó gọi là sự nghiệp thường trụ. Như vậy, chân tính của Như Lai là sự nghiệp thường trụ, còn đối với chúng sinh thì tất cả những nghề nghiệp gọi là bá nghiệp, nó là lập trình của hoặc lậu, của ý thức, của sự chuyển động, nhằm để huân tập từ chỗ chúng ta sai mới giác ngộ được cái đúng, từ cái nghiệp xấu chúng ta mới giác ngộ đi qua cái nghiệp tốt và lần lần chúng ta loại trừ tất cả những nghiệp xấu đó để trở về chánh nghiệp và chánh nghiệp là nền tảng để chúng ta đi về tối thượng nghiệp.
Như vậy, tầng dưới của nhân sinh quan thì nghiệp có thực, nhưng có thực trong tương đối vì nó thay đổi được. Nhưng khi trở về chỗ tột cùng của tính viên giác thì sự nghiệp ấy không bị biến đổi nữa. Thì sự nghiệp Như Lai là bất biến đổi, đó là chỗ thực nhất của sự nghiệp. Cũng như trung tâm linh quang không bị biến đổi, có nghĩa là sinh hóa vô cùng vạn loại, nhưng không bao giờ biến đổi về chân tính và mất tính tinh hoa tột đỉnh đó, nên gọi là tuyệt đối, chỗ đó là đại nghiệp của vũ trụ.
Nghiệp là thực thể của giá trị tiến hóa ở tầng hạ và đi đến tối thượng. Như vậy, sự nghiệp của vũ trụ có thực mới có chúng ta có thực. Nếu sự nghiệp vũ trụ không có thực thì chúng ta không có thực đang ngồi đây. Nếu đặt ra vũ trụ không có sự nghiệp thì vũ trụ không có lý, còn có lý là có sự, mà có sự là có nghiệp. Như vậy chữ lý là phát nguyên tổng tinh hoa của sự nghiệp vũ trụ.
Nếu không có lý tính thì làm gì có vạn sự hóa lập, thế thì lý hóa sự, tính hóa thể, tâm hóa tướng. Như vậy, sự nghiệp khởi đầu của lý và tính là đại sự nghiệp vũ trụ, là bản chất giá trị của sự nghiệp vũ trụ. Thì bá nghiệp là vòng quay của biên địa, chánh nghiệp là trục quay của trung tâm.
Đức Phật dạy: Một giờ im lặng trong thanh tịnh hơn người nói rất nhiều trong một ngày mà không có gì. Khi nói phải phát được cái cường lực của sự dẫn độ thì lời nói đó sẽ tích chứa giá trị ngọc, đưa ta trở về trong chánh nghiệp trung tâm.
Tóm lại, nghiệp là tính tất yếu trong định luật tiến hóa, từ nhị thừa giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác tạo thành vết lằn lập đi lập lại gọi là nghiệp. vì có tâm, có vật; có thân, có ý là có nghiệp.
Nghiệp là bản lề, là cội gốc của nhân quả, giữa nghiệp tất yếu và nhân quả tất yếu là một cặp, đi chung trong quá trình chuyển động của vũ trụ, của muôn loại mà không thể khác.
Có sự tác động của ý thức và vật chất mới sinh ra nghiệp, khi nghiệp đã khắc sâu vào ý thức, chúng ta muốn chuyển hóa từ nghiệp ác qua nghiệp thiện thì phải nổ lực tu chính. Tu chính là không thủ hữu, không ái kiến, không mắc kẹt trong những sở nhân duyên huân tập, không mắc kẹt trong con đường thái quá và bất cập, không mắc kẹt trong các pháp nghiệt ngã của các nghiệp chuyển động. Chúng ta vượt ra các nghiệp chuyển động để thù thắng được các nghiệp, thì chúng ta mới có sự nghiệp Như Lai.
Đỉnh cao của sự nghiệp tu chính công luật phật đạo là trực diện bản nguyên, diện mục chân tính. Mượn thân để hóa pháp, mượn thân để hóa đạo, mượn thân để hóa tinh hoa pháp tâm. Như vậy, mượn thân để bọc chứa giá trị của hạt tâm và hạt tâm tăng trưởng ở mức độ kết tinh vững chắc, thì cái vỏ cơm kia đâu còn giá trị nữa, đâu thể sánh bằng cái hạt bên trong, vì cái hạt tâm đó là quyết định cho tất cả sự sống đời đời.


NGHIỆP VÀ QUẢ
Nghiệp chướng là sóng nghiệp, vì sóng tức là chướng. Không có gì dữ dội bằng sóng nghiệp. Như biển có sóng, nhưng cũng có lúc yên lặng khi không có gió. Còn biển nghiệp của tâm thức thì không yên lặng, chỉ khi nào chúng ta trở về dung thông vạn pháp thì mới có yên lặng. Như vậy, các pháp trở về gốc để an trụ, thì nơi dung thông hội tụ là nơi an trú tốt nhất.
Như đạo tràng Bia Sơn đây là phương tiện an trú, chứ chưa phải là thực tướng an trú. Khi chưa có được thực tướng an trú thì các pháp nhân quả tiếp tục biến động và cũng sẽ lôi chúng ta đi theo dòng nghiệp đó.
Đức Như Lai nói: Đã là nghiệp thì nhất định phải có nhân và quả. Nếu đứng trên tinh thần Công Luật thì chúng ta sẽ chuyển được dòng nghiệp đó. Vì nghiệp có hai dòng thượng và hạ. Đầu tiên chúng ta phải chuyển từ dòng nghiệp hạ qua dòng nghiệp thượng và từ chánh thượng nghiệp ta trở về thực tướng. Vậy là chuyển nghiệp chứ không thể diệt nghiệp. Tức chuyển hóa các nghiệp thuộc về cấp hạ quay về cấp thượng hay là chuyển nghiệp ác qua nghiệp thiện, thì chúng ta mới trở về dung thông được..
Đức Phật nói người có chánh nghiệp nhất định sẽ có chánh mệnh, vì chánh nghiệp gắn liền với chánh mệnh, để thành lập giá trị dung thông và trở về thực tướng. Dung thông là cái mối chốt cuối cùng của con đường tiến hóa và thành tựu chính vị. Đức Phật nói rằng dung thông là cảnh trí an trụ tốt nhất, cảnh trí đó là sự sống chân thật không còn bị biến đổi.
Dung thông là luôn luôn thuận với mọi hoàn cảnh, dù là hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, không còn cố chấp bảo thủ, bởi bản ngã cố vị cố hữu. Thuận với mọi hoàn cảnh nhưng không bao giờ bỏ việc của chính nghĩa.
Muốn đạt được dung thông là phải đánh sập được bản ngã, vì vô ngã là niết bàn.
Chấp ngã là còn kẹt trong 4 tướng pháp của ngoại biên thì chúng ta không thể trở về dung thông để thành tựu thực tướng được.
Chúng ta chuyển hóa nhân tướng, chúng sinh tướng, ngã tướng và thọ giả tướng quay trở về trục chính pháp, thì 4 tướng ấy tự nhiên hóa giải, bên trong chân tâm dần dần kết tinh kim cương và thực tướng hiện ra. Như vậy, chúng ta sẽ có tự tại không còn bị ràng buộc trong 4 tướng đó nữa.
Tính của Oai Âm Dương Vạn Tỏa kinh là tự tại, tính của Trung Tâm Vạn Năng là tự tại. Vì tự tại hóa, tự tại sinh ở trong vô cùng đó. Hay là chân tính ánh sáng của vô cực là vô cùng tự tại. Như vậy Thống Hóa là gốc của chúng ta đã có bản nguyên tự tại, thì chúng ta phải trở về chính bản nguyên tự tại đó để được tự tại giống như trung tâm vũ trụ vậy.
Như vậy tâm vật tương tác theo chu trình thuận thì được dung thông, mà tương tác theo chu trình hạ thì bị phân biến mất tính dung thông.
Ứng tác sở trí là để điều phục các nguyên tố giữa khách quan và chủ quan. Nếu chúng ta không ứng tác sở trí được thì bị các pháp nó hấp dẫn làm cho chúng ta bị phân biến tâm thức. Thì Đức Phật gọi đó là dòng nghiệp. Dòng nghiệp đó do từ những ý niệm bất tương ưng kết thành. Chúng ta có thể xác định là mỗi một ý niệm bất tương ưng là một hạt muối, một hạt nước độc. Mà vô lượng ý niệm bất tương ưng là vô lượng hạt nước độc, thì nước ấy nó sẽ xâm thực, gậm nhấm và làm tiêu mòn a lại da chúng ta. Khi nó đã kết dòng rồi thì nó tạo thành sức mạnh kéo chúng ta đi, mà chúng ta không thể chống nổi nó.
Chúng ta đừng để cho ý niệm phát sinh ra hoặc lậu, mà chúng ta phải đoạn trừ nó khi nó mới phát sinh khởi niệm.
Đức Phật chia ra hai cách niệm: Một, là bất thiện niệm và thiện niệm; hai, là bất tương ưng niệm và tương ưng niệm. Bất tương ưng đồng nghĩa với bất thiện niệm, là những thứ niệm làm phân tán. Tương ưng niệm đồng nghĩa với thiện niệm là niệm ấy giúp cho chúng ta đi vào con đường hội tụ.
Ba thời quá khứ hiện tại vị lai hoàn toàn có thực, vì nó nối nhau trong định luật nhân quả chuyển động đó. Nhưng nhà Phật lấy hiện tại làm trung tâm can thiệp cho giá trị giữa quá khứ và vị lai. Vì quá khứ đã đi qua rồi chúng ta tìm lại những dấu chân quá khứ không có nữa, mà nó đã tập hợp về ở nơi chúng ta rồi. Nếu hiện tại chúng ta có cuộc sống tốt, thì chúng ta phải phát huy về những giá trị đó hơn nữa, để làm vốn liếng cho giá trị vị lai. Vậy chúng ta giải quyết vị lai bằng hiện tại. Nhưng ngược lại hiện tại cuộc sống chúng ta có quá nhiều rủi ro đau khổ, thì chúng ta cũng phải bắt đầu thay đổi ngay trong hiện tại. Chúng ta phải xác định vì quá khứ chúng ta đã gieo trồng nhiều thứ không tốt nên nó tập hợp về hiện tại trong đời sống chúng ta đây. Vậy muốn giải quyết về vị lai thì chúng ta thay đổi ngay trong hiện tại, là phải đẩy lùi tất cả những đức tính xấu ấy ra khỏi lòng ta và tập hợp tất cả những ý niệm tốt và đồng thời làm những điều tốt ngay bây giờ, thì nhất định sẽ hóa giải được quá khứ và đồng thời triệt tiêu được những quá khứ xấu xa đó mà chỉ còn lại điều tốt trong hiện tại để chuẩn bị cho vị lai.
Đức Phật đã nói rõ: Quá khứ bất khả đắc vì nó đã đi qua rồi, ta tìm nó không có nữa. Còn vị lai là chưa tới thì ta cũng không tìm và không cầu gì được.
Vậy chúng ta sống thực tế trong hiện tại là đạo lý sống thực trong đời sống và hoàn chỉnh giá trị thực trong chính mình có, để có được những quả tốt cho vị lai và đồng thời đẩy lùi tất cả mọi sự đau khổ của quá khứ mà nó đã tập hợp về ngay trong cuộc sống chúng ta đây
Chân lý của Công Luật là chân lý của sự sống và sự sống ấy nó không bị giới hạn ở bất cứ một cấp độ nào. Vì giá trị ánh sáng của Công Luật đã có trong sự sống của các loài từ thấp nhất đến cao nhất. Đối với Công Luật không có phân chia về giá trị tôn giáo và tín ngưỡng. Mà Công Luật là giá trị sự sống và sự sống một cách toàn khai, rộng mở đến khắp cả các loài đều có giá trị của sự sống trong sự nghiệp Công Luật đó. Chúng ta là những người biết được điều đó nên phải đem ánh sáng của sự sống cho tất cả mọi loài. Như vậy vũ trụ đã ban cho sự sống mà nhân loại không biết tìm về sự sống thực mà thôi.. Thì ở đây Đức Phật can thiệp giữa sự sống ảo và sự sống thực. Có thể các tôn giáo vẫn còn sống trong sự sống ảo đó. Nhưng đối với giá trị Công Luật thì đã loại trừ được sự sống ảo. Vì cửu kinh là con đường của sự sống tổng thể, thì có thể can thiệp ở bất cứ một chi nào, có thể can thiệp cả sáu đường: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Atu la, nhân, thiên. Vậy Công Luật vũ trụ là học thuyết của sự sống, cách làm của sự sống và tìm đến sự sống vĩnh viễn và sự sống trên tất cả mọi sự sống, vì Công Luật là mang tính đại hóa.

NGHIỆP CHUYỂN VÀ CHUYỂN NGHIỆP
1. Nghiệp chuyển
Là sống theo nghiệp thức và nhân nghiệp thức đó lên nhiều lần tạo thành sức mạnh của dòng nghiệp và dòng nghiệp ấy lôi chúng ta đi. Nghiệp thức ấy không giảm mà lại tăng lên, tức là cái tham sân si hạ càng tăng, sự dối trá càng tăng, ma thức càng tăng và hoặc nghiệp càng tăng lên thì đó là chúng ta bị nghiệp chuyển. Làm cho chúng ta mất đi nhân phẩm, mất đi tâm đức và giá trị chính vị. Mất đi tất cả những chất liệu bên trong mà chỉ còn lại cái bã, nên hạng người đó mọi người thấy là ghê sợ và xa lánh, làm cho con người đó bị đơn độc và cô lập, bị mất thế và lực. Khi thế và lực mà mất rồi thì con người đó trở nên yếu ớt và không còn giá trị.
2. Chuyển nghiệp
Như trước đây chúng ta đi theo cái nghiệp sai lầm, nghiệp kiến tri phiền não, thì bây giờ chúng ta giác ngộ, chúng ta chuyển được từ nghiệp xấu sang nghiệp tốt, từ nghiệp ác qua nghiệp thiện. Dụ như, chúng ta thực hiện được công trạng trong công án Bia Sơn là chúng ta đã sắp xếp được nghiệp gia đình và những nghiệp trong đời thường của xã hội, nên chúng ta mới ở được tại Bia Sơn thì đó là chuyển nghiệp.
Muốn chuyển được nghiệp, đòi hỏi chúng ta phải có ý chí, phải có lòng quyết tâm cao. Đó là nhiệm thức pháp đối với sự nghiệp tu học và tiến hóa. Tức là phải có một ý thức trách nhiệm tu học rất cao và ý thức trách nhiệm trong sự nghiệp chuyển luân rất cao, với lòng độ sinh cao và trách nhiệm đối với bào tộc tứ chúng cao, thì mới chuyển được nghiệp. Phải xác định về chánh mệnh cũng như chánh định, quyết không chấp nhận bị trôi dạt, bị sa đọa thì chúng ta mới chuyển được nghiệp.
Như vậy, ý thức trách nhiệm tu học và tiến hóa cao, đồng thời nhận chân vũ trụ là cha mẹ đẻ của mình, mình phải quyết trở về gặp cha mẹ thì ý thức trách nhiệm đó mới chuyển được nghiệp.
Ý thức trách nhiệm với sự nghiệp chuyển luân cao, thấy rõ được sự nghiệp của tinh bản Trâu Vàng ra đời là có tính cứu cánh cao, thấy đó là những điều lợi ích vô cùng mà chúng ta không bao giờ quên trách nhiệm, thì chúng ta mới chuyển được nghiệp.
Ý thức trách nhiệm với bào tộc tứ chúng, với tinh thần tận độ cao và sự hiến dâng cao, hạnh nguyện cao thì chúng ta mới chuyển được nghiệp.
Chúng ta luôn luôn yêu quý linh hồn mình và xác định linh hồn mình là một kho tàng vô giá nên mình không thể để cho linh hồn mình bị trôi dạt và trầm luân. Quyết không chấp nhận bị sa đọa vào ba đường địa ngục, ngã quỹ súc sinh nên mới chuyển được nghiệp.
Như vậy, do ý chí và nội lực chúng ta đã phát được ánh sáng và nhận chân được như vậy nên chúng ta nguyện không bao giờ vi phạm, là chạy theo những nghiệp mà trước đây chúng ta đã lỗi lầm.
Như vậy, những ai chuyển được nghiệp thì những người ấy mới có thể có sự nghiệp chuyển luân; chúng ta chuyển được nghiệp kiến tri phiền não và hoặc lậu về tham sân si mạn nghi thì chúng ta mới thành tựu chính vị, chúng ta mới làm được xứ giả của thiên sứ thần đức, chúng ta mới có một chức năng, một chính vị nhất định trong sự nghiệp công luật này.
Giữa nghiệp chuyển và chuyển nghiệp, chúng ta phải nhìn nhận và xác định nó một cách rõ ràng. Thí dụ như, chúng ta đang làm việc gì đó, bổng trong tâm chúng ta nảy lên ý niệm làm chuyện phi nghĩa, thì đó là nghiệp chuyển. Vậy khi ý niệm khởi lên điều bất chính, thì chúng ta dùng chí lực, trí lực để chuyển ý thức đó qua một ý niệm tốt đẹp thiện lành, thì đó là chuyển nghiệp. Vậy giữa chuyển nghiệp và nghiệp chuyển, hai cụm từ này rất quan trọng. Nếu chúng ta quay ngược về chuyển nghiệp thì được đi lên, mà để cho nghiệp chuyển chúng ta thì chắc chắn đi xuống.
Về chuyển nghiệp gồm có 3 bậc, ở tiểu thừa thì chuyển nghiệp theo mức bậc tiểu thừa, lên trung thừa thì chuyển nghiệp theo mức bậc trung thừa, lên đại thừa thì chuyển nghiệp đi đến viên giác, tức là thắng phục hết toàn bộ các nghiệp lực và chỉ còn lại một sự nghiệp duy nhất là chính đẳng giác, là không còn một sự nghiệp nào khác hơn để khiến họ đi vào con đường sai lầm và tội lỗi.
Hiện nay chúng ta mang thân này, nếu không chuyển được nghiệp thì nghiệp nhất định sẽ chuyển chúng ta. Và ngay giờ chết đó thì nghiệp nó sẽ dẫn chúng ta đi vào đúng giá trị mà nó tạo ra đó. Vậy hôm nay chúng ta đang ngồi trong trường công luật này, thì phải quyết tâm chuyển nghiệp chứ đừng để nghiệp chuyển chúng ta.

 Tại sao người ta cho rằng đàn bà nặng nghiệp hơn đàn ông?
Đứng trên lĩnh vực của vũ trụ quan thì âm và dương đã có tính bình đẳng triệt để. Bởi vì nhiệm luật công dương thì phải chịu ương gieo, còn nhiệm luật công âm là phải ôm hạt giống ương gieo để mà hấp thụ và nảy nở. Vậy giá trị, trọng tính của dương và âm đều trở thành tính công luật bình đẳng.
Về nhân sinh quan thì cái nặng của người phụ nữ là mang nặng đẻ đau, nếu xét về tính chất thì đó là cái nặng của nhân nghĩa, của sự hiến dâng và hy sinh. Vì nếu không có người đàn bà để đóng vai trò đó, thì loài người sẽ không có sinh sản trên hành tinh này. Còn nếu cho rằng người đàn bà là nặng nghiệp, là do sự phân biệt. Vì trong nam có xấu và tốt, đồng thời trong nữ cũng có xấu và tốt, cả 2 đều có một tỷ lệ tương đối. Trong đời sống của nam vẫn có kiệt nam; trong đời sống của nữ vẫn có kiệt nữ, nữ vẫn có thánh nữ, vẫn có Phật bà. Ngay đức Quan Âm đã hóa thân làm phụ nữ và đã thành Phật Bà, thì bản chất công hành ấy là ngài đã nói lên tính bình đẳng của nam và nữ rồi. Về lập âm thì tạm nói là ở phần dưới, còn lập dương thì tạm nói là ở phần trên, đó là quy luật thành lập, nhưng giá trị của âm và dương thì tương quan với nhau. Nếu nói về trọng lực thì âm luôn luôn chịu sự chứa nhóm hơn phần dương. Như vậy, tính công năng về khách quan của phần âm là chịu tất cả mọi sự hiến dâng và hy sinh lớn hơn phần dương, đó là tính biện chứng.
Về tính công năng tổng thể của phần hóa thì phần âm luôn luôn là người mẹ. Như trong các tác phẩm văn học của nhân loại, của tam thiên đều nói về người mẹ là cao quí nhất. Như những bài hát ru, những tác phẩm ca dao cũng đều nói về người mẹ, rồi từ mỗi tiếng khóc của người con dành cho người mẹ cũng nhiều hơn người cha, tỉ lệ có thể là 60%. Ngược lại, người mẹ dành cho người con cũng nhiều hơn người cha, như vậy ta thấy rằng: cái trọng nghiệp của người đàn bà nó nặng hơn đàn ông là sự cưu mang và khổ nhọc, chứ thật ra người đàn bà vẫn thành thánh, vẫn làm vua, vẫn thành Phật và làm được tất cả mọi thứ. Nếu đứng trên thượng tầng thì thái âm và thái dương bằng nhau, nhưng khi hóa thân thì âm chính là phụ nữ, là mẹ. Vậy cái nặng là nặng cưu mang, nặng hiến dâng và hy sinh, đó là sự thâm trầm và sâu sắc của người mẹ đã trở nên những tác phẩm rất đặc biệt, thì có khi họ lại có cái nhẹ hơn người đàn ông nữa kia. Còn người đàn ông vẫn có những tật hư thói xấu, nếu so sánh thì không thua gì người đàn bà. Như vậy, tỉ lệ giữa xấu và tốt của người đàn ông và đàn bà đều có tính tương quan, thì chúng ta không nên nói rằng, người đàn bà nghiệp nặng hơn đàn ông. Nếu nói người đàn bà nặng nghiệp là nặng sự cưu mang, nặng cái tải trọng và giá trị chịu đựng mới sinh được nhân loại này.
Nếu ta so sánh về lực lượng tương quan của âm và dương thì nó có tính bình đẳng nhất định của nó. Hôm nay dân trí đã giác ngộ và họ dám nói là nam nữ bình quyền thì điều này không phải là quá đáng. Nếu đứng trên văn học nghệ thuật, đứng trên triết lý và trình độ dân trí thì đưa ra nam nữ bình quyền là hoàn toàn đúng.
Tại sao chúng ta lại cho người đàn ông là cao hơn, để áp đặt và khống chế người đàn bà, lại cho người đàn bà là thấp và bị thua thiệt? Đó là do sự phân biệt, do tính bất công bằng của người đàn ông phát sinh ra.
Chúng ta phải thấy rằng: Dương tức là mặt trời, âm tức là hành tinh và chúng ta đang sống trong hành tinh, đồng ý là dương soi để mà âm hóa. Nhưng thực thể trong đời sống, toàn bộ những thứ gì của hữu cơ mà chúng ta ăn là do phần âm hết, còn ánh sáng là ta ăn của phần dương. Như vậy tỉ trọng và giá trị của 2 phần âm và dương không thua kém nhau, tức là âm dương bằng nhau vậy.

XÁC ĐỊNH NGHIỆP DĨ
Nghiệp dĩ là một dấu chân mòn, một vết lằn mòn và thường lặp đi lặp lại hàng ngày mà không thay đổi được ý niệm, thì đức Phật gọi đó là nghiệp dĩ
Chúng ta phải xác định về nghiệp dĩ để biết sự thực của mình là thuộc nghiệp dĩ loại gì, và những nghiệp dĩ ấy chúng ta đã tẩy, nhổ nó ra khỏi giá trị của ý thức nghiệp chưa.
Nếu chúng ta chưa lấy được nó ra khỏi ý thức nghiệp, thì dù có học cửu kinh nhưng nhất định chúng ta sẽ bị trôi nổi ở cái ngọn của tư tưởng ý niệm chứ không thể nhập được cửu kinh, vì ý thức nghiệp ấy nó đã tràn ngập và bao vây, khi ánh sáng minh triết vào thì bị nó đẩy ra nên chúng ta học mà không nhớ gì cả. Nhưng khi nói đến những thứ thuộc về nghiệp dĩ thì lại nhớ rất nhanh, thì xác định loại nghiệp dĩ đó là rất nguy hiểm.
Sở dĩ chúng ta cột ý thức và thân khẩu nghiệp trong quy trình chân hành của một nghề nghiệp thiện là mục đích để lần lần thu phục nó. Chân hành cũng có nghĩa là hành thiền là đưa thân khẩu ý chúng ta vào quy trình thiện nghiệp, thì chính đó là công phu để dần dần đẩy những nghiệp dĩ xấu ác ra khỏi đời sống của ý thức ta. Vì vậy việc hóa trị trong đời thường của duy vật biện chứng và chuyển qua duy tâm siêu chứng cũng giống nhau; nó có những tương quan lý lẽ tất yếu của nó về định luật nhân quả, nên nghiệp dĩ có trong đời thường bất thường và nghiệp dĩ có trong mọi khía cạnh trong đời sống của nhân sinh. Chúng ta phải xác định và nắm bắt được nguồn gốc của sức mạnh ánh sáng để chúng ta hóa giải các nghiệp dĩ, các nghiệp lực, mà có thể trải qua nhiều đời chúng ta đã gây tạo ra nó và nó đã giữ lại trong tiềm thức chúng ta
Trong hệ thống lập thể có rất nhiều tầng lớp, từ lập thể của các loài cho đến lập thể duy ngã đại thể là tầng cao và tròn đủ nhất. Khi phần tính nó thấp thì hệ thống lập thể nó thấp, nó được cấu trúc theo phần tính và hệ thống của bản chất để hình thành các lập thể tốt hoặc xấu, vì vậy nên các nhà chiêm tinh gia người ta nói: tướng hiện tự tâm sinh. Như vậy chúng ta quyết không để ý thức nghiệp của chính mình nó chuyển chúng ta đi xuống chu trình thấp. Nếu nó phát lên cái tâm tham lam của người, thì mình liền phát lên cái tâm ban bố cho người, hoặc chuyển si mê trược qua si mê thanh. Nên các pháp hóa trị phải liên tục hóa trị để kết tinh, giá trị hóa trị của đối xứng giữa hạt và hạt, giữa chủng và chủng, giữa nghiệp và nghiệp. Lấy thượng nghiệp hóa hạ nghiệp, lấy thiện nghiệp hóa ác nghiệp, lấy thanh chủng hóa ác chúng. Nó đều có một quy phạm và tương phản của sự hóa tức là luôn luôn đúng phép hóa trị thì tất cả mọi nghiệp dĩ đó sẽ được sạch hóa trong đời sống của chúng ta. Như vậy tinh lọc bằng hóa trị và hóa trị để tinh lọc, thì đây là công thức để chúng ta thực hiện về giá trị hóa, để vẹn toàn giá trị sự nghiệp duy ngã đại thể và đi đến chân ngã. Còn nếu chúng ta không tự giải quyết được về nghiệp dĩ của mình, thì dù cho có học cửu kinh minh triết cũng trả lại cho thầy mà không giữ lại được thuộc về của ta.
Tất cả những cuộc tiệc vui nào rồi cũng tàn mà chỉ còn tồn tại lại duy nhất là hạt tâm lý tính ánh sáng vô biên và thần định giá trị hóa kim cương chân tâm để thực hiện những công trình có thể là du thuyết khắp cả hành tinh.
Chúng ta phải thấy biết nơi nào có sự sống và sự hiểu biết của nhân bản đại thể thì đều đưa cửu kinh vào hệ thống du thuyết.
Vậy chúng ta phải thắng phục tất cả những nghiệp dĩ để trở thành con người của thánh hiền, con người của thánh đức và con người của những tác phẩm để sau này nhân loại sẽ nương nhờ ở những tác phẩm đó.
Nếu chúng sinh nhờ ta càng nhiều thì quả vị thánh nhân của ta càng trở nên chắc chắn. Như vậy ta phải thấy sự bòn xén công đức là cần thiết, vì công đức là sức mạnh để hóa nghiệp dĩ và đưa chúng ta đi đến thành tựu quả vị thánh hiền.



NGUỒN GỐC CỦA SỰ KHỔ ĐAU
Có hai vấn đề được đặt ra là tính khách quan của sự khổ đau và chủ quan của sự khổ đau, nguyên nhân nào tạo ra sự khổ đau đó. Như bốn cái khổ đau lớn nhất là sinh già bệnh chết; rồi còn hàng trăm thứ khổ đau khác như đói của sự khổ đau, nghèo của sự khổ đau, tai họa của sự khổ đau. Nói đến tai họa thì rất nhiều không thể kể hết được, ví như con người đang sống bổng xe tung chết, hay đang sống bị tai biến chết, hoặc đang sống bị nhiễm các loại siêu vi chết mất…
Hôm nay chúng ta sẽ học bài: triết giải Nguồn Gốc Khổ Đau có liên quan đến Công Luật hóa vũ trụ và có liên quan đến nền đạo luật vũ trụ. Bởi sự khổ đau không thể tách rời ra cái giá trị tổng thể của vũ trụ. Vì có vũ trụ thì mới có chúng ta, mà khi có chúng ta rồi thì cái khổ đau nó luôn luôn dồn dập, còn cái hạnh phúc của loài người thì lại quá ít, nếu đem tính tỉ lệ hạnh phúc thì chỉ có ba mà khổ đau thì đến bảy. Sự bình an trong đời sống loài người thì rất là mong manh, mà biến cố của sự khổ đau và tai họa thì lại quá lớn. Chính vì vậy mà chúng ta phải khai thác, đào sâu về nguồn gốc của sự khổ đau và triết chứng giải quyết vấn đề khổ đau đó.
Khi chúng ta biết được nguồn gốc của sự khổ đau rồi, thì chúng ta mới có phương pháp giải quyết sự khổ đau đó. Như vậy thì hiện nay thực tế đã chứng minh sự khổ đau đối với nhân loại trên hành tinh là có thực. Nếu chúng ta không hiểu được tính Công Luật thì chúng ta đổ thừa do Thượng Đế, do đấng Thống hóa sinh chúng ta ra nên bây giờ chúng ta phải chịu cái hình hài này và hàng trăm ngàn thứ khổ đau nó dồn tới. Hoặc là ta lại đổ thừa cho cha mẹ ông bà và những người chung quanh, đó là tính khách quan. Còn chủ quan là do chúng ta làm sai nên bị khổ đau. Nhưng có những người làm đúng cũng phải sinh già bệnh chết và chịu sự khổ đau đó. Như vậy giữa người đúng và người sai đều chịu cái sinh già bệnh chết giống nhau. Thì không biết đâu là chân lý để chúng ta nghiêng về mà giải quyết sự khổ đau đó. Như tất cả những người làm thiện thì cũng phải chịu khổ đau của sinh già bệnh chết và những người làm ác thì cũng sinh già bệnh chết và khổ đau giống vậy. Như vậy thì cái gì để rạch ròi và giải quyết sự khổ đau có ân sủng? Các vị hãy lắng nghe!
Nguyên lý của sự khổ đau: Chúng ta phải thấy rằng ở trong tính chất của sáu kinh mà tôi đã nói, thì cái đích thực về giá trị hóa sinh ra loài người là đấng Thống hóa. Đấng Thống hóa không áp đặt sự khổ đau trong đời sống vĩnh viễn của nhân loại, của thế giới nhị nguyên, mà Ngài thiết lập nhị nguyên là nhằm rèn luyện và kết tinh hình thành giá trị tinh hoa. Như vậy thì Ngài áp đặt thiết lập sự khổ luyện chứ không áp đặt sự khổ đau.
Khổ luyện để chi? Khổ luyện để hóa an lạc thường trụ. Vậy cái giá trị khổ luyện với sự khổ đau của trầm luân, hai cái đó khác nhau hoàn toàn. Bởi khổ đau trầm luân là bị dày xéo tri thức ánh sáng, chịu phân biến giá trị tri thức ánh sáng và làm cho tâm thức bị xáo trộn, bị những hình ảnh đau khổ của sự phạt trích do nhân quả mà chúng ta đã tạo ra. Thì đó là khổ đau của sự trừng phạt, do tính nhân quả tạo tác lầm lẫn của chúng ta mà thành ra sự khổ đau của trầm luân. Nhưng nếu chúng ta quay ngược trở về để huân tập và hình thành những giá trị tinh hoa thì cái đó không gọi là khổ đau mà gọi là khổ luyện. Như vậy đấng Thống hóa không áp đặt sự khổ đau vĩnh viễn trong đời sống của nhị nguyên. Ngài hình thành nhân loại là nhằm để khổ luyện hóa trong quá trình kết tinh tinh hoa, bèn hình thành định luật sinh tử là để khổ luyện hóa và kết tinh tinh hoa đi đến chỗ thường trụ an lạc vĩnh viễn.
Chúng ta đã biết được phần nguyên lý nguồn gốc của khổ đau là do sự lầm lẫn. Thống hóa Ngài cho chúng ta sáu căn là để huân tập chứ không phải Ngài cho chúng ta sáu căn là để chúng ta nhiễm trước. Ngài cho chúng ta cái tham muốn của sự quay về, chớ không phải tham muốn của sự chìm đắm. Cái muốn ấy là tham, nhưng nếu Ngài không cho chúng ta cái muốn và không cho chúng ta cái biết tham thì chắc có lẽ là chúng ta không bao giờ quay về với Ngài. Nhưng khi chúng ta có cái tham muốn thì chúng ta lại không tham muốn trở về với Ngài, mà tham muốn tất cả những giá trị vị ngọt trong đời sống của dục lạc và cấu trúc của sự tham muốn về ngũ trược ác thế. Chúng ta lầm lẫn cái đó nên phải chịu những móc xích nhân quả của sự khổ đau, là do chúng ta lầm lẫn tạo ra. Lầm lẫn bởi ngã sở, bởi kiến chấp, bởi năm ấm. Như Ngài cho chúng ta năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức là để tập hợp tinh hoa, chớ Ngài đâu cho năm ấm để chúng ta hưởng thụ một cách thoái hóa. Vì chúng ta dùng năm ấm để hưởng thụ thoái hóa cho nên bị phân biến tinh hoa của đấng Thống hóa, bèn phải chịu những định luật luân chuyển và trầm luân. Vậy trầm luân đó là do sự lầm lẫn của chúng ta.
Chúng ta phải định nghĩa cho rõ về tính chất của hai sự khổ. Khổ của sự sa đọa và khổ của sự công luyện. Khổ công luyện là khổ công luyện tập để kết tinh tinh hoa, để trở về tính thường trụ và không còn bị biến đổi nữa. Như vậy khổ công luyện trong đó có khổ sinh tử và khổ bệnh lão. Thì ngay cả đức Như Lai cũng đã nói bốn phép ấy phải lấy chân tính ánh sáng trị liệu, dùng thuốc thần hóa tâm pháp để giải quyết vấn đề sinh lão bệnh tử. Như vậy thì cái khổ của công luyện thì có bốn phép sinh tử, nhưng bốn phép sinh tử nếu ta lầm lẫn thì nó sụp vào trầm luân, trở thành cái khổ của sinh tử trầm luân chứ không phải cái khổ của công luyện nữa. Như vậy thì bên này cũng chịu sinh lão bệnh tử nhưng cái khổ của công luyện, còn bên này cũng chịu sinh lão bệnh tử nhưng cái khổ của nhân quả và trầm luân do chúng ta lầm lẫn. Hai khổ ấy rạch ròi và rõ ràng như vậy, thế nên mới biết rằng: nguồn gốc của sự khổ đau không bởi do đấng Thống hóa mà bởi do ta không tuân thủ các phép của đấng Thống hóa đã cho. Như vậy trong đời sống tiến hóa của phép nhị nguyên thì định luật nhân quả nó là định luật tất yếu của sự nghiệp chúng ta.
Tại sao gọi là sự nghiệp? Vì ở tầng dưới nó gọi là nhân quả bá nghiệp nhưng khi chuyển hóa được nhân quả bá nghiệp thì kết tinh thành nhân quả đại nghiệp Như Lai. Nếu chúng ta không có những quả của bá nghiệp ấy thì cũng không bao giờ có cái quả tối thượng của Như Lai. Ở tầng dưới thì nhân quả nó chia ra hàng tỉ như vậy, nhưng khi nó kết tinh lên tầng trên thì nó có một nhân quả duy nhất, đó là nhân quả Như Lai. Tức nhân Như Lai và quả Như Lai, nhân Thống hóa và quả Thống hóa, nhân Trung Tâm và quả Trung Tâm, nhân ánh sáng và quả ánh sáng. Nhưng khi nó xuống phân hóa các hoặc lậu, thì nó sinh ra nhiều nhân quả khác nhau. Nó tác động tạo cho chúng ta chịu những luật nhân quả thuộc về tốt và xấu, nên cái đau khổ này là do sự lầm lẫn.
Như vậy thì nguồn gốc của sự khổ đau nó có hai tính khách quan và chủ quan. Khách quan là đấng Thống hóa thiết lập công án khổ luyện để chúng ta đến với Ngài. Nhưng về phần chủ quan là không giác ngộ được chân tính của vũ trụ, không giác ngộ được tính Công Luật vũ trụ, nên làm theo bản giác, làm theo bản năng, làm theo chủng nghiệp, làm theo cái tham muốn thấp hèn. Thật ra Ngài cho chúng ta cái tham muốn đó để chúng ta quay về với Ngài chứ không phải chúng ta tham muốn rồi mãi mãi ở trong cái đời sống trói buộc đó. Như vậy thì cái đó cũng bởi do lầm lẫn mà thôi, nhưng lầm lẫn rất có lý là vì sao? Vì tất cả những cái giả hợp chúng ta bèn tưởng nó là thật, thấy năm ấm tưởng nó là thật, thấy ngã tướng tưởng nó là thật. Nói tóm lại, là từ tính sinh ra hình và hình ngã ra cái bóng, mà chúng ta thấy cái bóng cái hình đó tưởng đó là thực cho nên lầm cái bóng và cái hình đó mà không quay về cái tính của sự giải thoát, vì vậy cho nên chúng ta chịu sự khổ đau.
Nếu định nghĩa về hai cái khổ thì bên này là cái khổ của công luyện, thì phép sinh tử là phép của công luyện, nhưng nếu chúng ta không biết về công luyện thì phép sinh tử là phép của loại nhân quả và trầm luân, nó có hai cái lập thể như vậy. Phép trầm luân thì đức Phật gọi là chưa giác ngộ. Chưa giác ngộ tức là chưa giải quyết được sự lầm lẫn, còn ở trong tăm tối nên phải chịu những nhân quả móc xích, và cứ như thế nó quay mãi mà không bao giờ thoát ra được. Vậy khổ là gốc của sự lầm lẫn chứ không phải gốc của Thượng Đế.
Công án của mười phương đã hóa thân vạn hữu là nhằm để tiến hóa, nhưng chúng ta lại không chịu tiến hóa mà đi ngược dòng tiến hóa đó nên bị thoái hóa. Chính cái thoái hóa đó là cái bị đào thải, phải chịu luật bềnh bồng trong định luật chuyển động đào thải đó. Thì cái khổ chúng ta không thể đổ thừa cho Thống hóa, và cũng không đổ thừa cho ai hết. Vì chính chúng ta không giác ngộ được cái giá trị công án hóa của vũ trụ đã cho chúng ta những tinh hoa rất lớn mà chúng ta lại không biết ly tâm, không biết kết tinh, không biết tu chính chuyển hóa, không biết quay trở về cái nguồn gốc đó. Cho nên bèn sinh ra khổ đau. Vì vậy trong mặc khải của đấng Thống hóa là luôn luôn khi thiết lập ra thế giới nhị nguyên, thì đồng thời thiết lập tất cả những công án thế vì và thiết lập mười phương hóa thân vào trong đời sống, để chỉ cho sự lầm lẫn đó. Như vậy thì cái tương tục độ tận của Chư Phật luôn luôn cứ mỗi thời kỳ là có Thánh Nhân ra đời để thiết lập ngôi trường, để giải quyết lầm lẫn đó cho chúng sinh, để chúng sinh từ cái khổ lầm lẫn vô nghĩa đó trở về cái khổ luyện và từ cái khổ luyện đi đến sự an vui và thường trụ. Vậy thì đức Như Lai nói hoàn toàn là đúng.
Trong cái khổ mà chúng ta muốn quay trở về cái khổ luyện là chúng ta phải quay về chu trình hai tức là tập. Như trước đây chúng ta tập những điều xấu thì bây giờ chúng ta quay trở lại tập những điều tốt. Trước đây chúng ta tập kết những nhân quả xấu, thì bây giờ chúng ta quay về tập kết những nhân quả tốt. Trước đây chúng ta tập kết cái ngũ trược ác thế, thì hôm nay chúng ta phải tập kết được thiện nghiệp hóa tri thức ánh sáng và hóa tri thức pháp tạng. Trước đây chúng ta dong ruỗi buông xuôi theo bản ngã, theo cảm tính, theo những cái dục lậu một cách không có chân lý, thì hôm nay chúng ta quay về cái chân lý để cân đối trong những điều kiện tốt đẹp nhất của Thượng Đế đã cho. Tất cả đều quay ngược trở về, mà quay ngược trở về tức là huân tập, một khi mà chúng ta huân tập được như vậy thì tinh hoa của Thống hóa, của mười phương, của vũ trụ đã cho chúng ta một số vốn đó. Chúng ta có đủ sức mạnh để tiêu diệt tất cả những sự lầm lẫn, diệt tất cả những nghiệp lực, những điều xấu ác mà trước đây chúng ta đã làm. Thì cái đạo lộ của Công Luật, đạo lộ chân tính của Thống hóa sẽ bày hiện ở trong đời sống của tri thức chúng ta. Như vậy thì đạo sẽ phát sinh ở trong tri thức ánh sáng và đạo sẽ phát sinh trong chân tâm của chúng ta, sau khi chúng ta đã tập diệt và hoàn toàn chiến thắng nó. Vậy thì cái khổ mà đấng Thống hóa cho chúng ta là cái khổ luyện. Khổ luyện nhằm để thành vàng, mà muốn thành vàng ròng thì chúng ta phải li tâm, vì trong vàng có quặng. Chúng ta li tâm tức là tinh lọc các quặng cấu đó ra khỏi đời sống của vàng, bây giờ chỉ còn lại vàng chứ không còn có quặng, thì cái khổ đó rất có ý nghĩa. định nghĩa của minh triết, thì khổ là thuộc những công trình tiến hóa, công trình thăng hoa, công trình tu chính, công trình kết tinh tinh hoa tâm pháp. Trong các công trình đó nó luôn luôn kết hợp giữa tính và thể, tâm và vật.
Như vậy, nguồn gốc của sự khổ đau không bởi Thượng Đế, không bởi thế giới pháp giới gì hết, mà bởi cái lầm lẫn của nhân bản và cái lầm lẫn của cộng đồng nhân bản. Một khi mà chưa có một đại sự nhân duyên, chưa có một ánh sáng lớn để mà soi rọi thì sự lầm lẫn của chúng sinh là lầm lẫn theo tập nghiệp, lầm lẫn theo quán tính và lầm lẫn theo vọng thức, những tư duy chưa quay về bên trong. Chứ thật ra một khi hiểu được ánh sáng chân lý rồi thì tất cả đều quay về bên trong, quay về chiều thượng, thì mọi cái khổ từ từ được giải quyết từng phần và lần lượt sẽ thoát ra mọi sự khổ đau.
Như vậy thì sinh lão bệnh tử là có hai thềm, một thềm dành cho những con người không quay trở về nguyên lý, phải chịu những nhân quả tất yếu trong sự đọa đày, đó là cái khổ của trầm luân. Một thềm dành cho những con người quay về công luyện, thì cái sinh lão bệnh tử đó là cầu nối của khổ luyện để người ta đi đến giải thoát. Vậy giữa tính khách quan và chủ quan là do nguồn gốc của sự lầm lẫn. Vì đấng Thống hóa không áp đặt sự khổ đau vĩnh viễn trong đời sống nhị nguyên, thì không thể nói là do đấng Thống hóa. Chúng ta có thể thoát ra khỏi đời sống nhị nguyên được. Chúng ta có thể công luyện kết tinh chân tâm kim cương, để chúng ta tự tại trong sinh tử. Vậy chúng ta không thể đổ thừa đấng Thống hóa cũng không đổ thừa mười phương, mà chúng ta phải xác định là do thế giới lầm lẫn hoặc là nhân loại lầm lẫn, hoặc là cá nhân lầm lẫn. Đó là những lầm lẫn tương tục mà sinh ra đau khổ trầm luân. Còn cái tai họa trong đời sống, thì mối chốt của sinh lão bệnh tử là mối chốt quan trọng nhất trong bát đại khổ đó. Cái chết thì có nhiều cái chết như chết bệnh, chết xe tung, hay già chết, tất cả đều là chết hàng trăm loại khác nhau, nhưng kết chung nó cũng là cái tử. Cái tử đó nó không đồng với nhau, là do biên độ của các nghiệp lực chuyển động. Như người có tâm đức và trí tuệ thì có cái tử khác với người không có tâm đức và trí tuệ. Tôi lấy ví dụ như một người đi xe bằng trí, họ luôn luôn có một tâm đức trí tuệ vững vàng không vượt ẩu phóng nhanh, thì người đó ít bị xảy ra những tai nạn xe cộ. Cũng như bất cứ thứ gì trong đời sống của mọi hoạt động, mà người ta đưa trí đức vào thì luôn luôn cái tai họa nó được giảm xuống, đó là tính biện chứng. Người ta cũng không hưởng thụ một cách bừa bãi, mà hưởng thụ một cách chân chính thì cái giới hạn về sự đau khổ cũng giảm. Như vậy lấy trí đức để giải quyết vấn đề tai họa, chứ không phải lấy sự cầu mong. Ngay cả việc đi chơi thôi thì người ta cũng phải dùng trí đức để đi chơi, chứ không dùng cảm tính. Vì dùng cảm tính để đi chơi thì việc đi chơi sẽ sụp vào vũng lầy. Còn nếu dùng trí đức đi chơi là đi chơi trên đỉnh cao. Thì chính cái đó cũng giải quyết vấn đề khổ đau. Vậy thì chúng ta luôn luôn dùng trí huệ và đạo đức để thực hiện bất cứ một công trình gì, dù nhỏ hay lớn cũng đem lại hiệu quả và kết quả rất cao, và tai họa nếu có thì cũng hạn chế. Còn nếu chúng ta làm theo cảm tính, làm theo bản năng, làm bừa bãi theo sự hư dối và cấu dục của cấp hạ thì sự tai họa sẽ đến với chúng ta rất lớn.
Hôm nay, chúng ta học bài “nguồn gốc của sự khổ đau” không bởi đấng Thống hóa, không bởi các pháp lập nhị nguyên và hệ thống vạn loại trong đời sống tiến hóa đó, mà nguồn gốc của sự khổ đau nói tắt là do sự lầm lẫn. Vì trong siêu ý của đấng Thống hóa là cho chúng ta thân thể ngũ ấm để tiến hóa, chớ không phải để chúng ta hưởng thụ thoái hóa. Vì chúng ta chấp ngã cho nó là thật, cho nó là thường trụ mãi mãi, rồi chúng ta lại chạy ra ngoài tung tác mà quên đi chân tính ánh sáng bên trong. Chúng ta lại không chịu kết tinh, vì bên ngoài càng khuyếch đại thì bên trong càng thu hẹp thì sự khổ đau chuẩn bị tấn công; còn nếu bên trong càng lớn, thì bên ngoài thu hẹp lại và sự an vui sẽ xuất hiện. Vậy sinh tử bệnh lão của người công luyện được giải thoát, sinh tử bệnh lão của người tha hóa bị sa đọa. Nguồn gốc của sự khổ đau là do sự lầm lẫn.
Giải trình của kinh Khổ- Tập- Diệt- Đạo mà đức Như Lai đã nói từ nhiều đời thì do sự lầm lẫn mà ra. Nếu đem cái chân thật mà theo cái giả thì chân thật đó bị giảm biến. Cái thật của nó là cái hạt, là chân tâm, là tri thức ánh sáng, mà lại phóng theo cái giả để rồi cái thật bị giảm đi mà cái giả lại tăng lên. Bây giờ chúng ta phải dùng cái giả để bồi bổ cho cái thật, buộc cái giả làm cho cái thật. Như vậy chân tính là thật, vật thể là giả hợp tạm mượn. Nếu đem cái cứu cánh mà chạy theo phương tiện thì phương tiện nó triệt tiêu cái cứu cánh, nên buộc phương tiện phải phục vụ cho cứu cánh.
Vậy, phẩm kinh này là giải luận cho nguồn gốc khổ đau, không phải bởi do đâu mà bởi sự lầm lẫn. Chúng ta muốn giải quyết sự lầm lẫn thì trở về sự huân tập và kết tinh tâm pháp. Lấy sinh- lão- bệnh- tử làm sự khổ luyện và kết tinh, biến đổi năm ấm của chiều thấp qua chiều cao để đạt lấy tinh hoa của pháp thân. Lấy sự huân tập tinh hoa thiện nghiệp để bồi đắp cho pháp thân và diệt đoạn tất cả những ảo giác, diệt đoạn tất cả những ác dục, quay trở về với thiện dục. Diệt tất cả những chiều hạ để quay về với chiều thượng, diệt tất cả những cỏ rác của chân thức để bày tỏ được chân địa của tâm pháp thì giải thoát nó sẽ tức khắc đến với chúng ta. Nếu chúng ta có thành Phật và mang thân này đến với thế gian thì chúng ta cũng không có khổ đau. Bởi vì chúng ta chấp nhận sinh lão bệnh tử để hóa chúng sinh cho nên được vui. Còn cái chết đối với đức Phật là giải thoát, vì chết là Ngài xuất quang đi khắp vũ trụ này, đó là vui sướng không có khổ đau. Còn sinh thì Ngài đã nguyện sinh xuống để cứu độ chúng sinh, nên sinh cũng là vui sướng chứ không có khổ đau. Khi Ngài có bệnh là tri kiến cho chúng sinh, nên bệnh của Ngài cũng là vui sướng. Khi già thì Ngài chứng kiến cái trái thành tựu của quả vị Phật, Ngài tri kiến Phật, chứng Phật cho chúng sinh thấy cũng là vui sướng. Cho nên sinh lão bệnh tử tâm tự tại của đức Phật là vui sướng, còn sinh lão bệnh tử của chúng ta thì bị ràng buộc, vì nghiệp lực chồng chất dày xéo tâm thức, không tự tại được nên khổ đau.
Như vậy, sinh lão bệnh tử của Như Lai là tự tại vô ngại, mà sinh lão bệnh tử của chúng sinh là ràng buộc trong bá nghiệp và khổ đau trong bá nghiệp đó. Thì các vị phải cố gắng lên tập hợp tinh hoa bằng sự công luyện qua ý thức tâm pháp mạnh mẽ nhất để chúng ta kết tập được tổng tinh hoa đó mà giải thoát. Chúng ta không thể chối bỏ được, vì chúng ta đã trở thành một tác phẩm hiện thực trong đời sống. Chúng ta không thể dứt bỏ thân này được, không thể trốn chạy được vì chúng ta đã trở thành hiện thực rồi mà hiện thực đó là chúng ta phải quay trở về để công luyện. Còn nếu chúng ta không chịu khuất phục công án công luyện của Thống hóa, thì chúng ta phải chịu sống theo kiểu mê lầm và tất nhiên phải chịu khổ đau. Vậy nay chúng ta đã giác ngộ thấy rõ được chân lý của sinh lão bệnh tử thì chúng ta không thể chấp nhận đi theo con đường buông thả hưởng thụ để rồi phải chịu khổ đau. Mà chúng ta phải quay về cái công án công luyện thuận theo ý muốn của đấng Thống hóa mà kết tinh tinh hoa chân tâm. Thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ được tự tại trong sinh tử và vượt thoát ra mọi sự khổ đau.
Thế giới nhị nguyên là mặt bằng của công luyện và kết tinh tinh hoa chân tâm, thì phải có các pháp tương tác. Tương tác các pháp bất tương ưng thì hóa thành nạn, còn tương tác các pháp tương ưng thì giải nạn và kết tinh tinh hoa chân tâm.
Nếu cộng nghiệp bất tương ưng càng lớn thì ác nạn, đại nạn nó trùng trùng vây bủa và áp lực của sự đau khổ càng gia tăng trong thế giới ấy.
Như vậy mặt bằng của nhị nguyên sẳn sàng hóa nạn và cũng sẵn sàng giải nạn trên định luật tương ưng và bất tương ưng.
Đời sống ổn định hoặc không ổn định là do ý niệm tương tác của nhân sinh. Nếu lập dòng nghiệp thiện sẽ giải nạn và thăng hoa. Nếu lập dòng nghiệp ác thì sẽ hóa nạn và chìm đắm, đó là có thực trong mặt bằng nhị nguyên.
Vì chúng ta cố chấp về định luật sinh tử nên phát sinh khổ đau. Nếu chúng ta bèn biết sinh tử là định luật hóa thì chúng ta sẽ dứt ý niệm khổ trong sinh tử ấy.
Sinh tử là cầu nối của sự hóa thì chúng ta phải thèm khát sự sinh tử đó, vào ra trong sinh tử, để rồi được tự tại trong sinh tử và thoát ra mọi sự khổ đau.
Tại sao ta hỏi người đã giác ngộ: Ông có đau khổ trong sinh tử không? Người trả lời: Không! Sinh tử là cầu nối của sự hóa, tôi đang thèm khát sự sinh tử thì sao tôi lại khổ trong sinh tử được
Như vậy, khổ hay không khổ là do ý niệm của người ấy phát sinh, là do các pháp bất tương ưng và các pháp tương ưng. Các pháp tương ưng của ý niệm luôn luôn có đề tài giải khổ. Còn pháp bất tương ưng của ý niệm luôn luôn có đề tài khổ đau.
 Nguyên nhân nào dẫn đến sự lầm lẫn?
Do ý thức phân biệt mà chúng ta nhận sự lầm lẫn hoặc nhận một chiều. Khi phân biệt thì luôn luôn có tính bản ngã cao, mà có tính bản ngã cao thì lại bảo thủ bản ngã đó. Chính cái bảo thủ của bản ngã mà làm mất đi giá trị của tổng thể chân ngã và chính cái bản ngã đó mà làm lủng đoạn giá trị tổng thể tinh hoa. Như vậy, bản ngã hóa là do sự phân biệt của giá trị tổng thể chân ngã, làm sụp đổ chân ngã là do bản ngã mà ra. Nếu chúng ta đánh sập được bản ngã, trở về với chân ngã thì liền thu liễm tất cả các pháp về một gốc và tổng tinh hoa trở về một gốc, không còn phân hoa tổng tinh hoa nữa thì chân ngã tự nhiên hóa thân từ trung tâm đó. Vì vốn gốc của trung tâm không đi lệch cân của hai chiều tâm và vật, không bị sự đối lập của tâm vật. Cũng như trong bát nhã chính nó không lập dị giữa sắc và không nhưng do ý thức phân biệt mà có lập dị các pháp đó. Nếu trở về được trung tâm, lõi của bát nhã thì bát nhã không có tính phân biệt, mà giá trị của nó là hợp chiếu thống nhất. Chúng ta trở về cái nguyen lý của giá trị hợp chiếu thống nhất, là trở về cái lý uyên bác của hội tụ, thì trí huệ bát nhã tự phát sinh.
Nơi nào có hội tụ là nơi đó có cường độ phát triển lớn, nơi nào có sự phân hóa là nơi đó bị yếu ớt, bị thoái hoá, bị băng hoại, đó thuộc về định luật. Chúng ta nắm vững định luật ấy để tránh những sự mơ hồ và ảo giác do sự phân biệt của bản ngã làm lủng đoạn, làm sập đổ chân ngã ánh sáng. Như vậy, chúng ta luôn luon tập hợp tư tưởng ánh sáng trở về trung tâm hội tụ, để sắp xếp ổn định và trật tự hóa về sự thật để có đủ sức mạnh phát triển toàn diện. Đó là vinh quang nhất của sự nghiệp vũ trụ, vì trí huệ bát nhã là bậc thay số một của tất cả những sự nghiệp học chuyên môn trong đời sống của nhân loại. Hôm nay, chúng ta học công luật cũng có nghĩa là chúng ta trở về thẩm định tính chất, giá trị của trí huệ bát nhã để thực hiện những công trình vũ trụ.
Chân tính ánh sáng vũ trụ là cái nguồn gốc sinh ra chúng ta, mà ánh sáng vũ trụ không mất thì chúng ta không bao giờ mất. Như vậy, chúng ta còn trong sự an vui và giải thoát hoặc còn trong sự khổ đau và sa đọa.
Trong đời sống chúng ta không lo sợ cái chết mà lo sợ sự lầm lẫn trên con đường tiến hóa dẫn đến sự sa đọa. Vậy sa đọa của phần tâm thức là đáng lo còn cái chết là thuộc về bình thường, mà siêu thoát thăng hoa và thành tựu chính vị mới gọi là phi thường. Nếu đem sự nghiệp công luật mà cứu độ được nhân loại và làm cho loài người được hạnh phúc thì mới có phi thường. Nếu chết mà hóa chính vị và trở thành sự sống phi thường như Thích Quảng Đức hoặc Đức Kitô… là phi thường, còn chết vì tai họa và bệnh đau là bình thường. Vậy chết là mất đi phần bóng, còn hình thì không mất, tức mất đi phần lập thể còn phần tổng thể tinh hoa là tri thức của quần thể ánh sáng là không mất.
 Thế nào là lấy khổ diệt khổ?
Cái khổ của sinh lão bệnh tử là cái khổ không có thực tướng nên chúng ta có thể thay đổi được sự khổ đau đó bằng tính công luyện và trở về nguyên lý tổng thể ánh sáng để đạt chứng giá trị chân thể và loại sự khổ đau ra khỏi đời sống của chính vị. Về tính công luyện thì y phép của sinh lão bệnh tử, hóa trị của nó là khổ tập diệt đạo. Tức là lấy cái khổ luyện để giải quyết cái khổ lầm lẫn. Đó là lấy khổ hóa khổ. Vì cái khổ của sinh lão bệnh tử là cái khổ của nghiệp lực, thì lấy cái khổ của sự công luyện đó để giải quyết cái khổ nghiệp lực trầm luân đó. vì khổ công luyện là khổ của sự kết tinh tinh hoa tâm pháp, mà khổ trầm luân là khổ phân biến của sinh tử về các lậu hoặc biến động trong dòng nghiệp không có thực tướng.
Như vậy đứng trên tổng thể vũ trụ quan thì sinh lão bệnh tử là thuộc về công án hóa pháp thân, nếu Như Lai không nhờ sinh lão bệnh tử thì không tập hợp tinh hoa tổng thể của vũ trụ được, cũng như không có tổng tinh hoa vật lý thì làm sao hóa kim cương? Như vậy thì đời sống vật lý mà tổng tinh hoa của nó là đời sống của tiền đề kim cương vật lý. Vậy lầm lẫn là phân biến cái thực thể và tính ánh sáng của tổng thể; mà giác ngộ là tinh tụ, là tập hợp được tinh hoa, đi đến tròn đủ tinh hoa để phát triển và vượt ra khỏi dòng nghiệp để không còn bị nó lôi chúng ta vào sinh tử trầm luân. Vậy thì trầm luân thuộc về nghiệp lực hoặc lậu không có thực tướng. Nó làm cho thực tướng chúng ta bị nô lệ các dòng nghiệp lầm lẫn ấy và biến đổi giá trị của sự sống qua chiều hạ.
Như vậy dần dần nhân loại sẽ được giác ngộ định luật này, mà cụ thể hóa Như Lai là biểu tượng cho sự giác ngộ cao nhất và các vị sơ thánh là tiền đề cho sự giác ngộ, công luyện giải quyết vấn đề trầm luân đó. Như vậy đấng Thống hóa không áp đặt thực tướng và giá trị bất biến của sự khổ đau trong đời sống của nhân loại, mà đấng Thống hóa cho phép sinh tử nhằm để công luyện và thành tựu chính vị hóa kim cương để được thoát ra các dòng nghiệp và có tác phẩm tối thượng. Đó là định luật chung của vũ trụ không thể thay đổi, khi chúng ta chưa biết được nguyên lý của sự khổ đau thì chúng ta sợ sự khổ đau, nhưng khi chúng ta biết được nguyên lý của sự khổ đau rồi thì chúng ta dùng ánh sáng minh triết và chân hành hóa công luyện để giải quyết sự khổ đau. Vì chỉ có con đường tiến hóa cấp thượng mới triệt tiêu con đường cấp hạ của sự chìm đắm và đam mê một cách lầm lẫn. Khổ đau là vì chúng ta bỏ thực tướng đi theo giả tướng nên chịu khổ đau. Nếu chúng ta lìa xa giả tướng trở về thực tướng thì khổ đau được chấm dứt.
Vậy khổ đau là do lầm lẫn của ý thức phân biệt trong 6 căn ấy. Chúng ta mất tính viên giác, hoặc chưa chiếm lĩnh tính viên giác nên bị khổ đau trong biến thức của ý thức thứ 6. Một khi đã trở về chân tính có tính viên mãn thì không có lầm lẫn trong tính ánh sáng viên mãn đó, cũng không có lầm lẫn trong tính viên giác đó. Nên đức Phật nói, khổ đau là cỏ rác trên thềm đất chưa nhổ xong.
Tóm lại, muốn thay đổi cái khổ trầm luân là phải lấy khổ luyện để đổi cái khổ trầm luân. Vì khổ luyện để kết tinh chân tâm kim cương và thoát ra khổ trầm luân. Còn nếu chúng ta càng hưởng thụ vật chất càng nhiều thì cái khổ trầm luân càng nhân lên. Vì sự tiêu xài sẽ làm tổn thất về tinh hoa kim cương chân tâm. Nên con người ta thường nói là vì ăn xài quá nên hết phước.

TÍN HẠNH NGUYỆN
Tín hạnh nguyện đối với nhà Phật rất quan trọng. Tín không phải là mê tín mà là tin nhận giá trị công luật vũ trụ một cách chính đáng, và phát huy tất cả những công hạnh rất lớn và đạt được nguyện lực của sự giải thoát. Đây là nguyện lực phi phàm phi vượt trên mọi sự bình thường để chúng ta đạt được giá trị cao nhất.
Tín là tin nhận về giá trị công luật vũ trụ, tin nhận về chính pháp Như Lai, tin nhận về giá trị chân tính kim sắc, tin nhận về chân tâm kim cương, tin nhận các vấn đề về luật và không bao giờ vi phạm về luật.
Hạnh là phát huy những công hạnh cao nhất và không bị hạn chế những công hạnh đặc thù nhất và phi vượt nhất, những công hạnh vượt ra khỏi thời gian.
Nguyện là phát ra những nguyện lực khổng lồ đạt được những giá trị thành quả cao nhất trong sự nghiệp tiến hóa ấy để đi đến vô lượng quang A Di Đà kim sắc. Đó là nhất tâm chánh niệm thành kim tính.
Hôm nay quả nhân tế phật tính chúng ta đã có là chúng ta có điều kiện thuận lợi trong tính thể chân hành thì chúng ta sẽ có nền móng kết tinh mạnh mẽ để đi đến chỗ thành tựu trong tứ quả thánh. Vì trong cái quả con người của chúng ta đã có thánh tính, thần tính và nhân tính, thì chúng ta phải quyết vượt từ nhân tính để đạt được thánh tính. Nên tín hạnh nguyện là một trong những chân đế mạnh mẽ để đạt được giá trị cao về sự nghiệp công luật vũ trụ.
Chúng ta thuận theo các pháp bất tương ưng thì đồng nghĩa với thuận theo nghiệp dĩ, là chúng ta đã đầu hàng với cái nghiệp dĩ mà chúng ta đã hình thành.
Hình thành các pháp bất tương ưng là tự đánh đổ các pháp trung hòa, là loại bỏ các pháp trung bảo và loại trừ các pháp trung đạo thì chúng ta không thể tồn tại được.
Giữ các pháp trung đạo, giữ các pháp trung bảo và luôn luôn giữ trung hòa tử để bảo hộ và phát huy tiềm lực giá trị của chúng ta là hình thành các pháp tương ưng
Ý niệm của chúng ta nó sẽ quyết định về các pháp tương ưng và bất tương ưng. Vậy các lập thể sẽ nương theo sự phát huy của chính niệm ấy mà hình thành các pháp tương ưng để chúng ta hoàn toàn được sống trong các pháp tương ưng và ổn định được giá trị thiền định về tâm pháp.
Tính ánh sáng bất diệt đồng nghĩa với tri thức ánh sáng của chúng ta bất diệt. Vậy bất diệt là nguyên lý nhưng giảm trừ hoặc tăng trưởng là do định luật thuận và nghịch, có nghĩa là do chúng ta lập các pháp tương ưng hoặc bất tương ưng.
Ý niệm chúng ta khởi lên ghét người khác là bất tương ưng, còn khi nghe thấy những điều nghịch mà chúng ta hoàn toàn không phát sinh ra ý nghịch thì chính chúng ta mới có pháp tương ưng.

GIẢNG VỀ: 4 TƯỚNG CỦA CHÚNG SINH
1- Chúng sinh tướng: Có 2 vấn đề là tính chất và hình tướng của chúng sinh tướng, là do các pháp duyên khởi mà con người thường bị kẹt ở đó. Thật ra chúng sinh là một hệ thống sống để hóa và thiết lập trong tinh thần Công Luật tối đại bình đẳng, là ai cũng có quyền được sống và hóa, đó là tính khách quan. Nhưng một khi chúng ta có những tâm niệm sai biệt thì lại phát sinh ra ý thức phân biệt chấp trước về hình tướng. Từ đó phát sinh về ý niệm. Vậy giữa ý niệm và hình tướng luôn luôn có liên quan và tác động giữa ta và người, giữa người và ta mới tạo ra tất cả những sự mắc gút ấy, đó là mối chốt của luân hồi và sinh tử.
Nếu chúng ta có duyên giác ngộ chính pháp và biết rõ hơn người, tức biết được chúng sinh là một hệ thống mặt bằng của sự hóa để thiết lập tiến hóa, là ai cũng có quyền sống và tiến hóa bình đẳng. Thì khi thấy người khác thoái hóa mình đau thương, còn tiến hóa thì sinh lòng mừng vui. Đó là biết lo trao chuốt tâm thức mình và không phát sinh ra những ý niệm phân biệt giữa các chúng sinh tướng của các tướng pháp, thì chúng ta sẽ trút được gánh nặng này.
Vậy, dính chúng sinh tướng là do ý niệm chấp các tướng pháp của chúng sinh, giữa người và ta, giữa ta và người tác động với nhau mà gây ra những mâu thuẩn bởi những ý niệm phân biệt lầm lẫn bất tác dụng đối với giá trị tiến hóa. Nên chúng ta phải dứt sạch mọi ý niệm phân biệt về các tướng sai đúng của chúng sinh thì chúng ta mới rớt được chúng sinh tướng.
Đối với Đức phật thì Ngài đã thành tựu Như Lai rồi, nhưng vì muốn đến với thế gian để cứu độ chúng sinh, nên Ngài mượn tướng con người để đồng hành với con người và Ngài không còn lầm lẫn với tướng chúng sinh đó. Có nghĩa là Ngài biết rõ Ngài mượn tướng chúng sinh để hóa độ chúng sinh. Thì chúng ta cũng có thể làm như Ngài.
2- Nhân tướng: Là nhân ở mọi hình thể và hình sắc của các pháp mà chúng ta khởi tâm tham trước; tức tướng nào chúng ta cũng tham muốn, cũng chấp trước nên nó trở thành đầy dãy và che khuất ánh sáng tâm thức.
Nếu chúng ta thấy tướng mà không nhân nó, không chấp nó tức là dùng các pháp tướng mà không chấp các pháp tướng là thoát khỏi nhân tướng.
Đức phật nói rằng: Tướng pháp này là do pháp thân hóa ra, nó là giả hợp không thật nên nó sẽ bị tan biến và hủy diệt. Vậy nhân tướng này cho các ngươi là để các ngươi phát triển tiến hóa, mượn nó mà kết tinh được tinh hoa, mượn nó làm cơ sở trường học để tiến hóa, để trở về với nguyên lý của chân tâm. Nhưng các ngươi không tiến hóa mà lại lo rong chơi với nó, rồi đắm nhiễm với nhân tướng đó. Tức người này đắm nhiễm người kia, người kia đắm nhiễm người nọ. Như vậy khi chúng ta liễu ngộ được rồi thì chúng ta hãy lìa tướng để không còn kẹt trong nhân tướng.
3- Thọ giả tướng: Nói về thọ là thọ nhận những việc ân sủng và hóa ân sủng. Thọ nhận những pháp lành để hóa pháp lành. Thọ nhận những pháp của mặt bằng để tiến hóa và để hình thành chính nghiệp, thì thọ đó sẽ đưa chúng ta trở về thực tướng. Nhưng chúng ta không thọ kiểu đó mà lại thọ nhập đam mê trong cái sắc dục để hưởng thụ mà không bao giờ biết nghĩ đến nguồn gốc trở về, thì đó là bị kẹt trong cái thọ giả tướng của phần hạ. Nếu chúng ta biết thay đổi cái thọ giả tướng của phần hạ mà chuyển qua phần thượng, thì chúng ta được chánh thọ và kết tinh tinh hoa từ thọ giả tướng đó.
Ngay trong vũ trụ quan vẫn có thọ nhưng là thọ hóa vạn pháp và hình thành tinh hoa, đó là mục đích của vũ trụ quan thọ. Nếu chúng ta hiểu được nguyên lý thọ của vũ trụ quan là thọ để hóa tinh hoa. Và chúng ta cũng làm như vũ trụ quan thì chúng ta kết tinh được tinh hoa.
Nhưng thọ giả tướng ở đây là sự thọ hưởng, tức chúng ta lầm chấp tham muốn thọ nhận và hưởng thụ một cách quá đáng làm xâm hại đến giá trị tinh hoa tâm pháp, đó là thọ giả tướng.
Như Lai Ngài nói rằng: tất cả mọi cái thọ ấy nó không có thực vì nó là phương tiện, là cái mượn mà các ngươi cho cái mượn đó là thực, nên mới chìm đắm trong cái thọ đó. Vì chúng ta chìm đắm trong cái thọ giả tướng đó nên mất đi cái nguyên lý tinh hoa của chân thọ. Đáng ra chúng ta mượn cái thọ giả tướng đó để nạp tinh hoa về phần tâm thì chúng ta hóa được chân thọ, trở thành hấp thụ các pháp tinh hoa; nhưng vì không biết nên lầm chấp thọ giả tướng đó là cái thực, nên đắm chìm trong cái thọ đó mà làm băng hoại cả tâm pháp chúng ta.
4- Ngã tướng: vì 3 tướng trên không giải quyết được nên phát sinh ra bản ngã thấy cái gì cũng là của ta cả. Thân cũng của ta, nhà cũng của ta và thật sự cố chấp mọi thứ ta làm ra là của ta. Cho đến khi chết mà vẫn không rớt được cái chấp của ta đó, nên cuối cùng phải mang lấy tất cả những cái ta của sự u sầu buồn khổ và khủng bố khi mất thân, mất nhà và mọi thứ… Tức chấp ngã đó nó sẽ làm cho ta chới với điên đảo và khổ đau một khi các pháp tướng kia bị tan biến.
Nếu chúng ta biết được rằng tất cả các pháp là mượn để ứng dụng và kết tinh được thực tướng và thành tựu chân ngã của cái ta chân chính, thì chúng ta sẽ thoát ra khỏi ngã tướng đó. Nên đức Phật mới nói về vô ngã là niết bàn.
Vậy 4 tướng là chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng và ngã tướng, 4 tướng ấy thuộc về lập thể không thuộc về thực tướng. Thì chúng ta mượn nó để hóa thực tướng và đừng nên lầm nó để phải chịu xích xiềng trong 4 tướng đó.

BẢN NGÃ
Trong Tam tạng kinh Đức Như Lai đã nói sâu sắc về chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng và ngã tướng. Bốn tướng đó nó tập hợp lại thành sức mạnh của bản ngã. Ở đây Như Lai hoàn toàn phủ nhận về vấn đề kim cương, vì kim cương không bao giờ kết tinh ở chỗ này. Do chúng ta nặng về nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, ngã tướng, nên đã trãi qua hàng triệu năm mà chưa có kết tinh. Một khi ta nặng về 4 tướng ấy thì từ con người có thể sẽ giảm xuống đến A tu la và không bao giờ kết tinh. Vì thế nên Như Lai nói: mọi biến cố của ý thức từ bản ngã mà ra.
Thế thì chúng ta đốn phá và triệt tiêu bản ngã như thế nào? Ở trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói: Bản ngã là thứ lầm lẫn, bản ngã là mặt trái không có chân tướng của sự thật.
Ta nói duy ngã đại thể, thì bản ngã là mối chốt của nó. Nhưng duy ngã phải tiếp tục hóa chân ngã. Nếu duy ngã đó mà kẹt ở bản ngã thì trở thành không có gì hết, là con số không. Bởi vì nó luôn biến đổi, có thể từ duy ngã đại thể đến tam đồ lục đạo. Cho nên mọi biến cố của ý thức phát sinh từ bản ngã. Ví dụ như: thọ giả tướng, chúng sinh tướng, nhân tướng thì 3 cái đó nó tập hợp cho ngã tướng. Vì vậy mà ngã tướng đức Phật xếp nó đứng thứ 4.
Những người ở trong địa vị của thiền sư, thì tính bản ngã có nhưng rất thấp, vì các vị ấy không còn kẹt trong chúng sinh tướng, nhân tướng và thọ giả tướng thì ngã tướng nhẹ đi, hoặc bản ngã nhẹ bớt đi về ngã tướng ấy. Một khi làm nhẹ bớt bản ngã và ngã tướng thì tự nhiên tất cả những ý thức được ổn định. Nên chúng ta phải thấy rằng: mọi biến cố của ý thức từ bản ngã mà ra. Như vậy, biến cố ý thức của chúng ta có liên quan đến đời sống chung quanh thuộc về nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Và những thứ đó nó hằng theo chúng ta và kết thành chuỗi với nhau. Thường thì con người hay chấp ta là lớn, là biết hơn người khác, cứ như thế mà chấp và cuối cùng đổ ra nhiều biến cố. Cho nên mọi biến cố ý thức có liên quan đến người khác, cũng từ phát sinh bản ngã mà ra.
Mặt bằng của chúng ta là duy ngã đại thể, nhưng nếu còn nguyên bản ngã mà chưa hóa, chưa kết tinh thì chừng nào mới được giải thoát. Muốn giải thoát là phải xa lìa tất cả mọi bảo thủ và thủ hữu vô lý, cùng những cái thuộc về ý thức phân biệt vô lý. Vậy, muốn được nhẹ nhàng về tâm thức thì điều quan trọng nhất là phải được thuần nhất tâm pháp. Và xa lánh tất cả các pháp bất tương ưng. Nếu trong đời sống mà lời nói và hành vi còn bất tương ưng, thì tiếp tục sẽ còn nhiều xáo trộn trong đời sống của ý thức ấy, và sự tu học còn tiếp tục bị che chắn. Cũng vì bản ngã đó mà không thỏa mãn được những gì cho mình, mà chỉ dâng tràn lên các nghiệp lực và các dòng nghiệp ấy càng đổ ra khủng khiếp. Thỏa mãn bản ngã đồng nghĩa với mang đầy các nghiệp lực nặng nề nhất. Cho nên không ai dám thỏa mãn bản ngã. Chúng ta thỏa mãn những cái thuộc về sạch tất cả các lậu hoặc, là ổn định bản ngã hóa chân ngã để thành tựu chính vị. Trong hệ thống chính vị thì không ai có thể nói bản ngã là chính vị. Bản ngã có thể nói là nguồn gốc tập hợp tất cả các pháp bất tương ưng.
Khi duy ngã đã hóa chân ngã thì mọi cái đều trở về tròn, không còn mắc dính một thứ gì, nó tự tại vô ngại và đời sống mang tính chất ổn định, dung trãi chứa nhóm một sức mạnh rất vĩ đại trong đời sống chân ngã đó. Còn bản ngã luôn luôn có những đời sống mâu thuẫn; cái kia, cái nọ bị rào đón bao vây trong sự mâu thuẫn đó.
Bây giờ chúng ta sẽ nghị luận về câu: Mọi biến cố ý thức từ bản ngã mà ra. Nếu căn cứ trên 4 tướng, thì ngã tướng là nặng nhất, bản ngã là nặng nhất.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: thưa Cha, Phương ngôn của minh triết Phật giáo, con người đã đúc kết thành câu: Đạo Phật là đạo trí tuệ, nhằm mục đích phá trừ các lầm lẫn. Sự lầm lẫn đây có 2 mặt: Là pháp chấp và ngã chấp. Vì khi lên duy ngã đại thể thì con người rơi vào 2 cái chấp đó. Còn tự thân của các pháp vốn là tính công bản tự tính rất tròn đủ, rất viên dung chứ không có pháp và ngã trong đó. Đó là tính nguyên lý và chuyển động của công bản tự tính, của hệ thống Cửu Kinh Minh Triết, cho nên mới có vạn pháp.
Như vậy, trong tự tính của vạn pháp luôn luôn có tính chân ngã, đó là tính khách quan triệt để không bao giờ sai lệch. Còn duy ngã nhân bản khi có ý thức thì bắt đầu hình thành ra 2 cái chấp: pháp chấp và ngã chấp. Đó là 2 rào cản muôn đời mà không đưa chúng ta trở về với chân tính chân ngã. Hằng ngày chúng ta hình thành cái bản ngã của lầm lẫn, không phải cái bản ngã của tự tính công bản. Cho nên hành giả muốn đi trở về với chân ngã thì phải soi chiếu lại chính bản thân mình. Và chúng ta phải thấy pháp chấp và ngã chấp là do lầm lẫn. Cái lầm lẫn này nhân ở bản ngã mà hình thành ra. Nên kinh triết có nói rằng: “Một niệm sanh tâm khởi, bách vạn chướng môn khai”. Bản ngã sinh ra không thỏa mãn được, sinh ra tham sân si- tam độc và sinh ra muôn trùng chướng ngại, không cho ta trở về tính chân ngã. Do đó hành giả muốn trở về chân ngã không gì khác hơn là quay về với chính mình, loại trừ đi pháp chấp và ngã chấp, thì tất nhiên chúng ta trở về với chân tính. Thì trước mắt chúng ta mọi sự đều được sáng tỏ. Thường thì chúng ta chỉ thấy được cái bóng ở chỗ tướng, cái bóng ở vạn pháp đang trong qui trình chuyển hóa, nên chúng ta bị ngăn che tính tri kiến của Như Lai. Vậy chúng ta nên quay trở về chân tâm để loại trừ tất cả những hoặc lậu, thì lúc bấy giờ chúng ta mới có vô ngã.
Ngài dạy: Như Lai nói vô ngã là niết bàn, bản ngã là địa ngục. Như vậy, Càng nghiêm trọng về bản ngã thì địa ngục trước sau gì nó cũng sẽ hình thành trong bản ngã đó. Vì vậy mọi sự khổ đau được hình thành từ bản ngã.
Chúng ta xác định trong hệ thống kinh tạng thì Như Lai nói về chữ ngã rất nhiều. Như duy ngã, bản ngã, chân ngã, đại ngã… Chữ ngã ở đây nó gắn kết rất nhiều cụm từ khác nhau, ý nghĩa khác nhau. Như vậy, từ bản ngã chuyển qua chân ngã là phải trãi qua hệ thống ly tâm, do quá trình công phu kết tinh mà thành. Như vậy, loại trừ được bản ngã mới có chân ngã, mà chân ngã cũng có nghĩa là vô ngã. Và chân ngã là giá trị của niết bàn, còn bản ngã mà nghiêm trọng là nền tảng của địa ngục.
Nếu một ông vua có bản ngã càng lớn sẽ làm hại đến dân càng lớn. Vì bản ngã có thể đi ngược lại tất cả các dòng pháp tốt. Chính ông vua có bản ngã nên toàn dân phải chịu khổ đau, quân thần phải xa biệt và dẫn đến sụp đổ cả ngai vàng. Cho nên nói bản ngã là tiền thân của địa ngục cũng được.
Nhưng bản ngã cũng chính là nền để hóa, cho những ai biết chuyên luyện về chân ngã, vô ngã, thì nhứt định từ bản ngã ấy mà sinh ra thiên đàng và sinh ra giải thoát.
Như vậy, bản ngã là móc nối: một là chúng ta trở về; hai là chúng ta bị sụp đổ theo dòng nghiệp đã gây ra. Điều này đa số là biết mà không làm được. Nên Như Lai nói rằng: “Mọi ý thức biến động từ bản ngã mà ra”. Cho nên từ bản ngã sinh ra tham sân si, sinh ra tật đố, sinh ra lục dục thất tình, từ bản ngã sinh ra sự phân biệt- đối đãi- kiến chấp, và cũng từ bản ngã sinh ra tất cả mọi thứ trái ngược với chính pháp. Thế nên mọi ý thức biến động ở mình và người khác nói chung, đều ở trong phạm trù ý thức biến động, hể ai có ý thức là có biến động từ bản ngã mà ra.
Chúng ta nói về kinh điển có nghĩa là, tất cả nhân loại trên thế gian đều có ý thức, nhưng ý thức ấy từ bản ngã. Bản ngã càng lớn thì ý thức biến động càng to, bản ngã càng nhỏ thì ý thức biến động càng nhỏ. Như vậy, mọi ý thức biến động cũng từ bản ngã mà ra, hoàn toàn đúng.
Ngài bảo ông Chơn Minh Ứng Hội trình bày.
Ông Chơn Minh Ứng Hội: thưa Cha, mọi sự biến động của ý thức do bản ngã sinh ra, vì bản ngã con người chấp tất cả chung quanh mình, bản thân của mình đều là của ta. Vì thế ta sinh ra bảo thủ, ái nhiễm. Đó là nguyên nhân tạo ra hoặc lậu, nghiệp lực cũng đều từ bản ngã sinh ra. Vì vậy khi ta chấp ngã thì ta không thể nào hóa được chân ngã, tạo ra nghiệp lực ràng buộc tâm thức chúng ta, làm tổn hại cho mọi người xung quanh, làm tâm thức chúng ta càng ngày càng biến thức và rơi vào tội lỗi, có thể hóa vào tam đồ chịu mọi sự khổ đau, đày đọa, nặng hoặc nhẹ đều từ bản ngã nhiều hay ít. Vậy chúng ta phải quay về với chân ngã bằng cách phải có tình thương rộng rãi, bao dung. Nói chung trong Tứ Vô Lượng Tâm là phương án để chúng ta diệt đi bản ngã, trong sự lầm lẫn đó trở về chân ngã để được ân phước, phước báu đi đến giải thoát. Vì vậy, khi duy ngã mà lầm lẫn, có thể đi xuống tà ngã phải chịu khổ đau, còn khi chúng ta giác ngộ biến bản ngã thành chân ngã thì được giải thoát.
Ngài dạy: Ở trong đời sống Như Lai, Ngài đưa ra pháp hóa trị rất cụ thể, không phải diệt bản ngã một cách dễ dàng mà được. Diệt bản ngã thì phải biết tháo gỡ từng mối. Như mối từ thân là luôn luôn chấp thân này là của ta. Thì phải quán thân này là thân mượn, thân bất tịnh, hoàn toàn cửu khiếu bất tịnh, lục căn bất tịnh, thân thể chúng ta rất dơ bẩn. Nếu như thân chết đi trong 3 ngày thì hôi thúi cực kỳ, chôn gấp không thể để được. Như vậy thân này là mượn, là cái bóng của hạt tâm lý tính, nên nó không thiệt. Vì vậy Như Lai bèn dạy cho môn sinh niệm thân bất tịnh, và hãy biết thân bất tịnh ấy không phải là thân vàng, thân ngọc, không phải là bất biến thể trường lưu mãi mãi. Còn tâm là tư tưởng và ý niệm cũng rất vô thường; vô thường đến nỗi mới nói cái này quay ra nói cái khác, có lúc nói thuận, có lúc nói ngược. Vì Tâm vô thường nên hành vi cũng vô thường.
Như vậy, chúng ta phải xác định tâm rất vô thường, thì chúng ta mới lần lần quay về chỗ thường trụ. Nếu chúng ta không xác định tâm vô thường, thì khó có thể tìm con đường về với thường trụ được. Nếu không xác định tâm là vô thường, thì chúng ta sẽ sống trong vô thường, niệm nghĩ trong vô thường và không bao giờ trở về chân thường được.
Quan niệm của người tham lam luôn niệm thọ là sướng, thì mọi sự tham lam ấy lại chất chồng thêm tội lỗi. Nên đức Như Lai nói: niệm thọ là khổ, càng thọ nhiều, càng khổ nhiều. Ở đây Như Lai chỉ cần một sự qui túc, qui túc có nghĩa là đủ, mà Ngài không cho dư; vì dư cũng tạo ra khổ, mà thiếu cũng tạo ra khổ. Cho nên Ngài nói: qui túc các pháp; tức tròn đủ các pháp là đủ, không bị tư tưởng mơ hồ dư hoặc thiếu.
Như Lai nói: thọ là khổ. Đúng như vậy! Có nghĩa chúng ta thọ những điều chân chính ít khổ hơn thọ những điều không chân chính. Như Lai nói các ngươi cứ thọ những điều chân chính, thì mức độ khổ sẽ giảm, còn thọ những điều không chân chính thì khổ gia tăng. Ngay cả việc ăn chơi trác tán thì cũng sinh ra sự đau khổ. Ví như người nghiện nhậu sinh ra khổ đau, cứ quay theo vòng tua, hết tua này quay theo tua khác, không bao giờ sinh ra hạnh phúc. Cho nên Như Lai đưa ra phương pháp niệm: Niệm thân bất tịnh, niệm tâm vô thường, niệm thọ thì khổ và niệm các pháp đều không phải của ta, các pháp đều hư biến, trôi dạt. Nó luôn luôn không ổn định. Như vậy, niệm pháp vô ngã để dứt trừ bản ngã, đó là một sự hóa trị có tính khoa học.
Như Lai đưa ra Niệm pháp vô ngã để dứt trừ dần mọi ý thức biến động. Vì mọi ý thức biến động phát sinh từ bản ngã. Vậy khi chúng ta ổn định được bản ngã, thì mọi sự khổ đau cũng từ từ giảm xuống. Con người sống mà không bản ngã thì được an vui hạnh phúc và làm việc lúc nào cũng thoải mái. Còn phát sinh bản ngã càng nhiều thì mức độ dồn nén khổ đau càng lớn và sinh biến nhiều ý thức mưu đồ bất tương ưng càng lớn và khiến con người đi đến trầm luân.
Ngài bảo ông Chơn Đạt Pháp Trí trình bày
Ông Chơn Đạt Pháp Trí: Thưa Cha, mọi biến cố lầm lẫn cũng từ bản ngã mà ra, đó là hoàn toàn chính xác. Trong 4 tướng đó nếu chúng ta bị lầm lẫn càng nhiều, thì chúng ta bị đau khổ càng nhiều như lời Cha dạy. Cũng như chúng ta tưởng rằng: thọ là tốt, nên khi người khác có được mà ta không được thì sinh ra phiền muộn đau khổ. Chính ta lầm lẫn nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng và ngã tướng nên mới chịu nhiều đau khổ đó.
Ngài dạy, 3 thừa tạng của Như Lai làm nền tảng cho các cấp độ chuyên tu, thì 3 thừa tạng này là thang hóa, cực kỳ vĩ đại. Ngài đã chia ra nhiều phương thang rất cơ bản, Thí dụ: phương thuốc Thất Bồ Đề Chi, Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ và Tứ Vô Lượng Tâm.v.v… Những phương thang này nếu ai chịu uống thì nhất định sẽ lành bệnh tâm, bệnh thân. Bệnh tâm nó thuộc về bên trong rất đáng sợ, vì bệnh là nó thay đổi hạt tâm. Đối với những cái bên ngoài không có gì phải giữ nó, mà phải giữ gìn hạt tâm bên trong. Nếu hạt tâm chúng ta đang đi vào sự biến cố thì rõ ràng chúng ta sẽ bị mất gốc. Vì vậy đức Như Lai không sợ mọi sự biến cố bên ngoài, mà lại sợ sự biến cố bên trong.
Như vậy, mọi ý thức biến động cũng từ bản ngã mà ra. Nên Như Lai mới bảo chúng ta trở về ổn định, muốn ổn định thì chúng ta phải hóa trị bản ngã. Một khi hóa trị được bản ngã thì không mất mà lại hóa ra chân ngã, tức là thành tựu chân ngã. Trong chân ngã là đã kết tinh tinh hoa, hiện thị chân tâm, phát sinh vô lượng huệ, thì ánh sáng phát sinh từ chỗ này. Cho nên khi trở về chân ngã là thể hiện trí huệ bát nhã, trí huệ cao minh, trí huệ vượt trên mọi trí huệ bình thường trong đời sống của thế giới này.
Nếu chúng ta cứ học Cửu Kinh Minh Triết kết tinh công bản, hay công bản là hiện thân của thiên vạn hóa kinh bang, là những kinh lớn rất vĩ đại. Nhưng nếu bản ngã kia mà chúng ta không làm xong, thì dù có học kinh này cũng chỉ là để nghe thôi, mà không bao giờ làm được. Bởi vì khi chúng ta thăng cấp công bản lên ở cấp 3, cấp siêu học là công bản kết tinh từ cửu kinh. Và khi kết tinh từ cửu kinh rồi thì hiện thân của công bản là thiên vạn hóa kinh bang. Mà con đường thiên vạn hóa kinh bang là con đường trở về trục của trung tâm thì mới có thiên vạn hóa. Còn nếu ở biên bìa, ở độ lệch, ở chỗ không phải là trung tâm thì sẽ không hóa được. Bây giờ chúng ta xác định công bản không còn đứng riêng trên một hệ thống nữa, mà chính công bản được hóa thân từ cửu kinh mà ra. Ta có thể nói công bản kết tinh từ Cửu Kinh Minh Triết và công bản là hiện thân của thiên vạn hóa kinh bang.
Chúng ta học Công bản mà lại đem bản ngã ra làm có được không? Người đem bản ngã ra làm công bản, cũng giống như đem cái không công bằng để làm sự công bằng. Vì bản ngã là nó lấy về cho nó trước, toan tính cho nó trước thì làm sao có công bằng. Cho nên đem chân ngã làm công bản thì được, đem bản ngã là công bản thì không được.
Nếu đem bản ngã làm tư bản, làm cộng sản là được. Vì nó là biên độ hữu thủ trong giá trị hóa của các pháp và nó hoàn toàn chưa về trung tâm. Nó làm được nhưng biến giải về phân biến của xã hội rất lớn. Người mà làm công bản được, tức tập trung chân đức sức mạnh của giá trị tâm đức. Tập trung giá trị tâm đức tức trở về với chân ngã. Đây là một vấn đề khó. Cho nên nói cấp cao của minh triết. Cấp cao của sự nghiệp Công Luật, cấp cao của duy ngã đại thể, cấp cao của sự hóa thân trong chính vị, thì cái này hoàn toàn khó. Nhưng không lý chúng ta lại chấp nhận đi trên con đường phân hóa. Chúng ta là duy ngã đại thể mà chấp nhận đi con đường phân hóa, thì đồng nghĩa là không có chân lý. Như vậy, chúng ta phải tìm ra được một con đường đi vào sự nghiệp bảo trì. Thì đó là công bản, là sự nghiệp bảo trì đúng nhất. Vì nó không đi lệch, đi đúng trên cán cân của trung tâm, nên nó được bảo trì. Cũng như hôm nay nền khoa học đỏ hoàn toàn không có bảo trì gì hết, mà chẳng qua nó phát triển trên quy luật của thành trụ hoại không bất ổn định, tức một lúc nào đó thì nó hoại và trở lại thành không. Còn công bản vẫn chịu luật thành trụ hoại không nhưng được ổn định. Hai lẽ sống ấy khác nhau. Ví dụ một người sống theo con đường tu học cũng chịu luật sinh tử, nhưng sinh- tử- bệnh- lão ổn định. Còn người không tu học thì sinh- tử- bệnh- lão biến động, hai lẽ ấy khác nhau. Người tu học có hạt tâm lý tính ổn định cái sinh tử đó, có trí huệ để ổn định sinh tử đó. Còn người không tu học hoàn toàn vô minh không biết gì hết, thì sinh tử trở thành hoảng hốt và khủng bố bởi nghiệp thức đã gây ra.

NGŨ ĐỘN SỬ
Ngũ độn sử gồm có: Tham sân si mạn nghi, nó luôn sử 3 nghiệp: Thân khẩu ý; vì tham sân si mạn nghi nó liên quan đến thân khẩu ý; nó khiến ta nghĩ sai, nói sai và làm sai, từ đó nó dẫn ta xuống địa ngục.
1- Tham: Con người chúng ta luôn luôn có cái biết thì chúng ta phải biết tham, một là tham lam những điều xấu; hai là tham muốn những điều tốt, chứ không thể nào mất cái tham được. Như đức Phật thì Ngài tham độ sinh, tham hóa đạo, tham hóa thân để cứu độ chúng sinh và đem ánh sáng cho nhân loại. Tức Ngài tham thượng là tham muốn sự cao cả, tham cái tối siêu. Như vậy, đối với người Công Luật là quay sự tham muốn thấp hèn qua sự tham muốn cao cả, để tạo thành lực đẩy cho tâm thức chúng ta đi lên.
Tham thượng là bòn xén công đức, đức Phật dạy bòn xén công đức hơn là bòn xén tiền bạc. Bòn xén tiền bạc đức Phật gọi là tham hạ, mà bòn xén công đức đức Phật gọi là tham thượng. Hai cái tham này khác nhau, vì tham hạ thì bị phân hóa, mà tham thượng thì được hội tụ. Cho nên tham thượng thì được trở về, mà tham hạ tức là quay lưng ra đi. Như vậy, ta hóa thân trong sự nghiệp công đức là chính ta đã tham thượng. Vì tham thượng nên ta mới ráng sức đi cứu độ chúng sinh, đi bố thí, làm những việc từ bi, nhân ái và tất cả những điều phước thiện; thì đó là con đường mà chúng ta tiến hóa.
Còn nếu bảo rằng diệt tham thì không thể diệt được; vì nếu diệt đi lòng tham tức là phải diệt mất cái biết. Cái biết không thể diệt được, mà chỉ có tham muốn cao cả và tham muốn thấp hèn mà thôi.
2- Sân: Chúng ta vẫn có quyền nóng vì một sự nghiệp chính pháp, cái nóng đó không vì cho ta mà vì cho người, vì lòng thương yêu. Đức Phật nói rằng: Muốn thay đổi được phiền não, thì từ kiến tư phiền não ta chuyển hóa qua trần sa phiền não.
Thế nào là kiến tư phiền não? Không phải diệt phiền não có thể hết phiền não, mà phải chuyển hóa từ kiến tư phiền não qua trần sa phiền não. Vì khi lập nhị nguyên thì không ai tránh được phiền não, mà chỉ thay đổi từ phiền não trược qua phiền não thanh. Phiền não trược đức Phật gọi là kiến tư phiền não, tức là những phiền não còn hạn hẹp ở trong đời sống bảo thủ. Như mất tiền, mất con, hoặc cầu muốn không được thì phiền não; phiền não đó thuộc về lậu hoặc, thuộc về nghiệp bất tương ưng thì rất nguy hiểm, nó sẽ dày xéo và làm cho ta đau khổ. Nhưng nếu chúng ta biết thay đổi sự phiền não một chút thôi, thì tự nhiên chúng ta lại có sự sung sướng và hạnh phúc trong phiền não. Tức đó là trần sa phiền não, là hạnh phúc của Bồ Tát. Vì sao? Vì chất liệu phiền não này là thanh, còn chất liệu phiền não kia là trược. Ví dụ như tôi thương con làm sao cho có tiền để lo cho con ăn học, làm sao tôi cứu dân ra khỏi đời sống đau khổ, xây dựng những công trình cho người khác ở, mà tôi kiếm cách nào cũng không có nên tôi rất buồn, buồn đó là vì tha nhân. Nhưng sự hướng về tha nhân đó là từ trái tim của lòng nhân ái và bác ái, thì phiền não đó thuộc về chất thanh. Cho nên trần sa phiền não là bản chất của Bồ Tát.
Như vậy, ta lập trần sa phiền não để hóa giải cái phiền não kiến tư và chính trần sa phiền não đó nó làm giàu mạnh cho tâm thức công đức. Đối với kiến tư phiền não là làm cho tâm thức mình giảm đi, nhưng trần sa phiền não thì lại làm cho tâm thức chúng ta giàu mạnh, hai phiền não đó khác nhau hoàn toàn. Vì vậy mà đức Phật lấy trần sa phiền não để hóa trị kiến tư phiền não, dần đi đến vô dư và thành tựu chân như. Như vậy chúng ta cũng có quyền buồn vì tha nhân, thì cái buồn cao cả đó nó sẽ giúp ích cho tính trượng phu của người quân tử.
Đối với cái nhiệt độ ý thức cũng vậy, không thể nào diệt được. Mà chỉ quay ngược từ cái nóng của sự bảo thủ, của bản ngã, của sự thấp hèn phàm thế qua cái nóng của sự cứu độ. Tức là sự nóng lòng tu học, nóng lòng xây dựng sự nghiệp cho mọi người khác; như nóng lòng làm cái cầu cho người đi, xây dựng cái bệnh viện chữa bệnh cho mọi người, hoặc nóng lòng đi cứu giá minh chủ…; thì cái nóng lòng đó rất tốt, hoàn toàn không có tội lỗi, thì đức Phật gọi là nhiệt độ thanh cao, hay gọi là sân thượng thanh, làm cho chúng ta phát sinh được cái tâm trung nghĩa, hào khí chính nghĩa. Nhưng cái nóng khi người ta xúc phạm đến mình, đánh mình, thì mình phát sân lên đánh chửi lại họ thì nóng đó là nóng thấp hèn, đức Phật gọi là sân nhuế, nó sẽ đốt cháy tất cả những phúc âm và công đức của chúng ta.
3- Si: Nếu chúng ta si mê Công Luật, si mê kinh điển thì lại hóa pháp nhũ. Như vậy, từ cái si ái kiến là nước ái của sự cấu trược, chúng ta chuyển qua cái si của cam lồ pháp nhũ. Mà pháp nhũ là chúng ta đã tắm gội được mọi sự tội lỗi. Vậy sự đam mê của cấp thượng là pháp hóa trị cho sự đam mê của cấp hạ. Như đam mê tu học là chúng ta có một lập trình, một tiêu chí trên con đường giải thoát rất cơ bản; vì tu học là có được sự cơ bản của chính pháp và có được sự nghiệp giải thoát.
Vậy chúng ta có quyền đam mê những điều tốt, có quyền phát sinh thanh nhiệt trong đời sống, chúng ta có quyền tham muốn tất cả những điều cao quý. Diệt tham sân si của cấp hạ, chuyển hóa tam độc hạ đó qua được cấp thượng, thì chúng ta được sự tham chiếu của trí huệ, chúng ta được hóa tam muội kết tinh tâm pháp, chúng ta được pháp nhũ cam lồ pháp tính. Vậy lấy tham thượng hóa trị tham hạ, lấy nhiệt lượng thanh để hóa giải nhiệt lượng thấp hèn, sân nhuế xấu xa. Lấy cái đam mê của cấp thượng tức là đam mê chánh pháp để hóa giải những sự đam mê thấp hèn xấu xa. Đó là sự hóa trị chuyển hóa từ hạ qua thượng, thì chúng ta vẫn có quyền tham muốn mà không hạn chế sự tham muốn đó.
4- Mạn: Người ngã mạn luôn luôn cho mình là hơn người khác, từ đó đặt mình trong điều kiện sống mang tính lập dị, làm cho mình khác biệt giữa con người và con người, và không bao giờ hòa nhập với đại thể.
Nên hạng người ngã mạn là tự mình làm hẹp đi giá trị phát triển của đại thể duy ngã, tức đánh mất phương tiện để hóa, không học được cái hay của người khác.
Người không ngã mạn luôn luôn học được trong 3 tầng hạ trung thượng và học được tất cả những điều hay đẹp mà trong đại thể duy ngã có.
5- Nghi: Gồm có bốn cái nghi: một là nghi mình chết là mất; hai là nghi trời không công bằng; ba là nghi Phật không có; bốn là nghi người ai cũng xấu với mình.
– Bệnh nghi là làm chấm dứt mọi giá trị phát triển trong đời sống của chính mình và đại thể, chính mình và vũ trụ; vì nếu tự mình nghi lấy mình thì cuộc đời mình sẽ không làm được gì cả. Nghi ngờ cao nhất sẽ dẫn đến đoạn kiến là không còn ta nữa trong trời đất. Người nghi như vậy hoàn toàn sống theo cảm tính không có chủ thể; vì sống không biết trời đất, không biết nguồn gốc của mình từ đâu ra và đến đây để làm gì và đi về đâu. Họ mang hình thể người nhưng sống theo cảm tính, theo bản năng gần như các loài động vật như voi, bò, chó, ngựa… vì họ không còn ý thức nữa. Ví như con ngựa, con chó nó đang sống, nó biết cảm thọ sự sống nhưng nó không biết là ai sinh nó ra, chính vì vậy mà nó mới lấy lại mẹ nó. Nếu như nó có ý thức, biết nhận ra là mẹ, nó là con thì nó sẽ không lấy nhau; vậy các loài ấy nó đang có sự sống mà gần như nó không biết cái gốc của sự sống ấy.
– Chúng ta học Công Luật để biết rõ về Công Luật, định luật và qui luật là không còn nghi và tin nữa, thì sự hào phóng của trí tuệ và ý chí của sức mạnh tiến hóa sẽ không lùi bước đối với sự nghiệp vũ trụ trong không gian và thời gian và vượt ra khỏi không gian và thời gian để chúng ta có một địa vị chân tính hoàn hảo nhất mà vũ trụ đã cho chúng ta.
Như vậy nếu chúng ta không chịu phát triển mà lùi dần theo thời gian thì chúng ta sẽ rớt vào các loài đó, là do tham sân si mạn nghi nó sai xử về 3 nghiệp thân khẩu ý, gây ra các tội chủng làm giảm dần ánh sáng của tâm pháp và lùi vào bóng tối để chịu thọ nhận các thân thể thấp hèn hơn.
Nên đức Phật nói: nếu chúng ta không chịu chuyển hóa ngũ độn sử ở cấp hạ qua thượng, thì ngũ độn sử này nó sẽ dẫn ta vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu ngũ độn sử này chúng ta chuyển hóa qua cấp thượng thì thân lập của thân khẩu ý sẽ đi vào quy trình hợp nhất. Tức là chuyển hóa thân chúng ta vào chánh nghiệp; khẩu chúng ta vào chánh ngữ và ý niệm chúng ta vào chánh tư duy. Liền một lúc thân khẩu ý ấy sẽ gặp nhau một điểm thống nhất trong chân lý ánh sáng, để phát triển tạo thành lực từ trường đi lên và đưa chúng ta trở về chân tâm pháp vương.
Chúng ta học minh triết là không xem thường ngũ độn sử và luôn coi trọng về thân khẩu ý. Nghĩa là chúng ta phải dè dặt với nó, khiến nó theo con đường chính pháp.
Tóm lại:
o Tham cấp thượng là tham bố thí, tham cứu độ.
o Tham cấp hạ là tham lấy của người khác, bòn xẻn của người khác mà không bao giờ cho người khác.
o Sân cấp thượng là cái nóng vì cứu chúa, vì cứu cha mẹ, anh em, thì nóng giận ấy là nền tảng của tam muội, là dương quang của chất lửa thanh.
o Sân cấp hạ là cái nóng giận vì bản ngã thấp hèn, thì lửa sân đó sẽ đốt sạch mọi công đức chúng ta làm ra.
o Si cấp thượng là si mê về chính pháp, về học tập và rèn luyện Cửu Kinh Minh Triết.
o Si cấp hạ là si mê thấp hèn, chạy theo cái bóng của các sắc màu thế gian không thực.
Đối với đức Phật ngài dùng pháp chuyển hóa, chứ thật ra không có pháp nào hủy diệt cả, mà chỉ có pháp chuyển hóa và tinh lọc bản thể. Có nghĩa là khi đến với thế gian thì ai cũng phải uống nước tinh hoa để mà sống, vì nếu không uống nước thì chỉ chết mà thôi. Ngài dạy chúng ta không thể úp mặt vào con sông để mà uống, vì trong nước đó độc tố cũng có, bổ dưỡng cũng có, xấu và tốt lẫn vào nhau, nên chúng ta phải dùng nước lọc sạch mà uống; chứ chúng ta không thể tách rời con sông đó mà sống được. Như vậy, tính chất đời là một con sông và con sông của sự sống; chúng ta sống trong đời không phải là một sự trốn chạy, mà chúng ta biết tinh lọc ngay trong đời đó, để ta tìm ra cái lẽ sống của chính ta. Đến với thế gian chúng ta không bỏ, mà phải dùng phép tinh lọc, tinh lọc thật sự bằng công thức đức Phật đã dạy thì chúng ta sống trong đời thường, mà vẫn có hạnh phúc nhất định.
Nhiều khi chúng ta lại thấy rằng Thượng đế không có, Phật không có rồi chúng ta lại chối bỏ nhiều thứ. Nhưng thật ra nếu không có Thống hóa thì làm gì chúng ta sống được một ngày ở đây. Vì chúng ta không chấp nhận chịu sự khổ luyện nên mọi sự bẽ bàng và đắng cay nó sẽ đến với chúng ta và chúng ta phải chịu bềnh bồng ở trong định luật nhân quả đó.
Đức Phật nói rất rõ về nhân quả ba đời. Nếu đời này ta được hạnh phúc và sung sướng, nhưng lại không tiếp tục làm những nhân lành nữa thì khi ta hưởng hết cung đoạn này rồi, bắt đầu ta lại ăn cái quả xấu mà ta đã trồng trong đời này. Tức nhân đời trước thì quả đời này. Cho nên chúng ta phải luôn luôn xác định cuộc sống về nhân quả, muốn làm một việc gì phải suy đi xét lại, xem cái nhân đó nó ra cái quả gì, phải nghiên cứu cho kỹ rồi ta mới tạo nhân. Vì khi ta tạo nhân gì thì nhất định nó sẽ ra quả đó không thể khác được. Vậy sức mạnh tiêu chí của người Công Luật là nguyện không tham gia bất cứ một việc gì thuộc về ác, thuộc về bất nghĩa, bất chính, bất trung. Tức nguyện làm tất cả những điều trung chính, nguyện xây dựng tất cả những công trình thiện nghiệp và nguyện làm theo tất cả những nhân lành, để không bao giờ gặp những nhân quả xấu.
Chúng ta đừng tin về định mệnh như một sự áp đặt của đấng Thống hóa, của mười phương Như Lai. Vì Thống hóa và Chư Phật rất công bằng, mà chúng ta phải tin và thấy rằng:
Thứ nhất là do chúng ta tiến hóa thấp nên chúng ta ở vị trí thấp.
Thứ hai là do quá trình lầm lẫn nên chúng ta mới gieo trồng những nhân xấu và phải chịu nhận mọi quả xấu đó.
Thứ ba là người có tiến hóa cao hơn, họ đi trước chúng ta với thời gian và không gian ở nhiều kiếp hơn, nên họ có trí tuệ hiểu biết hơn và họ đã làm được nhiều điều tốt lành.
Đối với người có tiến hóa thấp, như họ từ kiếp thú mới lên kiếp người thì mức độ hiểu biết còn nhỏ, nên trí tuệ còn nằm trong quá trình của tiểu cơ và chịu nhiều sự thiệt thòi hơn. Cũng như có những người ngu đần và dại dột vì họ mới được tăng trưởng lên kiếp người, hoặc là họ từ cấp thượng không khéo tu nên trụt rớt xuống cấp hạ. Thì chính họ là những người thiếu nhân duyên, thiếu sự may mắn để gặp được minh sư, gặp được Bồ Tát, hoặc thiện tri thức…nên họ không được phát triển. Chứ không phải Trời Phật áp đặt cho những con người đó phải chịu như vậy. Cho nên thuyết định mệnh chúng ta không nên nghe theo, rồi lại chấp nhận cái định mệnh đó, rồi nảy sinh ra tiêu cực. Mà phải hiểu rằng chúng ta có thể thay đổi được từ cái xấu qua cái tốt, từ cái tội qua cái phúc, từ cái thấp qua cái cao và từ ngu dốt qua trí huệ được.
Như vậy ngũ độn sử có thực trong đời sống của chúng ta, khi chúng ta lầm lẫn nó, sử dụng nó, mà không hàn phục nó, thì nó dẫn ta đi vào địa ngục; nhưng khi chúng ta chuyển hóa nó, hàn phục nó, thì nó không có thực trong đời sống chúng ta. Như bệnh có thực trong đời sống chúng ta, nhưng khi chúng ta có thuốc trị liệu và bệnh chúng ta hết, thì bệnh cũng không có thực trong đời sống của chúng ta.

LỤC ĐỘ (6 PHÁP) THƯỜNG NHẬT
Hằng ngày chúng ta phải chuyên tu 6 pháp này xem nó như cơm ăn hàng ngày không thể lãng quên, vì nó là công thức, là phương pháp hóa trị để không làm tiêu hao phúc lành và công đức của tự tính. Vì tính vốn dĩ là giá trị của ngọc, nó quý hơn tất cả mọi thứ trên đời này, đó là chân tính. Nhưng chân tính chúng ta chưa được kết tinh chưa được hình thành hoàn hảo về tinh hoa của ngọc. Chúng ta có tánh ngọc và chất liệu ngọc nhưng chưa thành tựu được tinh hoa đầy tròn và già chín của ngọc. Vì vậy mà chúng ta phải hành dụng lục độ thường nhật để nuôi dưỡng ngọc tự tính, làm cho tính ngọc được tăng trưởng. Chân tính là ngọc mà Như Lai là ngọc đã thành, còn chúng ta là ngọc chưa thành.
Lục độ gồm có:
1- Bố thí: Chúng ta phải thấy rằng do lòng tham muốn thấp hèn mà làm ngưng trệ sự phát triển tăng trưởng của giá trị ngọc trong chúng ta. Vậy bố thí là diệt trừ lòng tham muốn thấp hèn, tức là tập hành ý niệm phát ra về lòng bố thí; là cho tất cả những thứ chúng ta có để cho phần tánh chúng ta được tăng trưởng; vì cho để hóa trị lòng tham muốn thấp hèn. Vậy chính cái cho là phát sinh sự tham muốn cao cả, và bù lại tất cả những giá trị bên trong. Vì một khi ý niệm phát sinh sự ban cho là phần tánh bên trong được tăng thêm lên. Còn phát sinh sự thu vào tức là tham muốn vật chất của người khác về mình, thì nhất định chúng ta sẽ có những hành vi trộm cắp hoặc dùng nhiều thủ đoạn khác để lấy của người khác; mỗi khi ý niệm phát sinh lấy của người khác thì phần ngọc tính chúng ta sẽ bị giảm.
Như vậy sự tham muốn thấp hèn thì tạm thời được phần ngoài trong một giai đoạn nào đó, nhưng phần ngoài không có chủ thể nên nó sẽ bị mất đi; như vậy được phần vật chất phi nghĩa nhưng giá trị chính nghĩa của phần tính thì bị giảm đi. Vì vậy mà Đức Phật đưa ra pháp bố thí để chúng ta phục hồi lại phần tính bên trong.
Bố thí gồm có hai phần: về phần tướng thì chúng ta cho pháp bảo và cho vật chất. Về phần tánh thì chúng ta không tham muốn các sắc pháp không chính đáng đối với mắt; không tham muốn âm thanh không chính đáng đối với tai; không tham muốn hương vị không chính đáng đối với mũi; không tham muốn các vị xúc không chính đáng đối với miệng và thân; không tham muốn các pháp bất tương ưng không có lợi cho chính pháp, không có lợi cho tâm, đó là bố thí phần tánh.
Tóm lại, bố thí phần tướng thì cho pháp, cho gạo, cho tiền và thuốc men..v.v. Còn bố thí phần tánh là các căn ấy đều cho cả. Tức là mắt không nhiễm sắc là cho mắt, tai không nhiễm âm thanh là cho tai, mũi không nhiễm hương là cho mũi…vv.. Đó là 6 căn không nhiễm trước, là bố thí phần tánh. Chính cái không nhiễm trước thì bên trong chúng ta lại tăng trưởng giá trị tinh hoa, vì nó không nhiễm nên không làm rối loạn, và không bị phân hóa, vì nó không nhiễm nên không làm hao mòn tâm phúc.
2- Nhẫn nhục: Thường trong đời sống những điều chúng ta không ưa thích thì nó lại đến và tạo nhiều sự rối ren cho ta, và có thể ta là người bị hại. Một là ngôn ngữ và hành vi gián tiếp, hai là hành động đối kỵ và xung đột có tính chất lăng mạ và đánh đập chúng ta trực tiếp. Những trường hợp này là xúc phạm đến bản ngã nếu chúng ta không nhẫn mà phát sinh ra lòng căm giận thì Đức phật gọi đó là sân uế. Tức là lửa cấu uế sẽ đốt cháy mất tất cả những tinh hoa tâm phúc chúng ta. Nên Đức phật lập ra pháp nhẫn nhằm mục đích để giữ không cho tinh hoa bị băng hoại và tiêu hao do quá trình tác động của người khác.
Vậy khi người khác họ nói một lời nói ác gì, thì Đức phật nói là: chính nó dùng cái miệng nó nói, nó lấy cái tâm nó khởi, nó không liên can gì đến ngươi. Nhưng vì do ngươi duyên khởi và chấp ngã cho rằng nó chưởi ngươi cho nên lời nói đó mới truyền qua ngươi; tức do ý phân biệt đó mà sinh ra sân giận và lửa sân đã làm tiêu hủy hết phúc đức của chính ngươi.
Như vậy, nhẫn nhục là mục đích để giữ yên những phúc đức mà hằng ngày chúng ta đã làm ra, đó là cái nhẫn của hình tướng. Còn cái nhẫn của tâm là mọi việc khó trong đời sống của sự tiến hóa chúng ta luôn luôn gặp phải những điều khó khăn thì chúng ta phải tự nhẫn, chế nhẫn và hóa nhẫn. Tức là chúng ta hàng phục mọi cái khó mà có thể phát sinh từ tính khách quan và chủ quan chứ không phải người nào đó chọc phá ta. Vậy chúng ta luôn luôn tránh những ý niệm bất tương ưng, tức gọi là tánh nhẫn.
Thí dụ như chúng ta đang tụng kinh mà do thời tiết nóng bức, cộng với mỏi gối và đau lưng. Nếu chúng ta không có nhẫn tánh để hàng phục nó thì nhất định ta sẽ phát ra ý niệm là dẹp kinh pháp đi nghỉ cho xong.
Tóm lại, tướng nhẫn là người khác chọc phá mình mà mình không bực tức. Tánh nhẫn là không ai chọc phá mình mà do hoàn cảnh khách quan hoặc chủ quan mà chúng ta phải kham nhẫn để vượt qua. Còn nếu chúng ta không kham nhẫn thì sẽ bộc phát sự bực tức, mà bực tức là lửa cấu trược sẽ đốt cháy mọi công đức của chính ta.
3- Trì trai: Trì trai là thanh khiết của tâm; như giữ được tam thanh liêm hoặc giữ được trung hiếu nghĩa là thanh khiết của tâm; luôn niệm tưởng về các Phật, tưởng về minh triết; tức luôn luôn tư tưởng chúng ta hướng về chính pháp, thì đó là trì trai. Vì lúc nào chúng ta cũng ăn chính pháp, ngủ chính pháp, ở trong chính pháp và vui chơi trong chính pháp, thì đó là trì trai rồi. Còn việc ăn chay chẳng qua là hình thức thuộc về tướng chay; chứ đúng nghĩa của trì trai là sự thanh khiết của tâm thức.
Nếu chúng ta ăn chay mà không giữ được tâm thanh khiết đó, thì ăn đó cũng là vô nghĩa. Nhưng nếu hàng ngày chúng ta luôn ở trong một phạm trù đạo luật, không để tâm vọng tưởng nghĩ đến những việc đen tối thì dù có ăn gì cũng gọi là trì trai.
4- Tinh tấn: nghĩa của tinh tấn cũng có 2 phần. Về phần tướng là trong sạch về nhân cách, phong cách bên ngoài trong việc ăn, ở đối xử với mọi người; đó thuộc về hình thức. Còn về phần tánh là làm trong sạch bên trong, tức sự tinh cần tu học không đứt đoạn và luôn giữ tâm thanh tịnh ở trong chính pháp, đó thuộc về nội dung của tinh tấn.
5- Thiền định: về phần tướng của thiền thì chúng ta tìm chỗ yên lặng ngồi theo những phương pháp, những công thức nào đó để được định tâm. Còn tánh thiền thì chúng ta đi, đứng, ngồi, nằm trong mọi hoạt động lúc nào chúng ta cũng giữ được tâm thanh tịnh; vì khi tâm chúng ta luôn luôn ở trong sự yên tịnh thì trí huệ chúng ta nhất định phát sinh. Dụ như hàng ngày chúng ta vẫn làm việc, vẫn chẻ đá, vẫn xây nhà, vẫn cưa bào cây v v…. Nhưng trong lòng chúng ta luôn nghĩ về chính pháp và hướng về một ý chí cao cả, thì đó gọi là thiền định. Tuy nhiên đó chỉ là sơ thiền và từ nền tảng sơ thiền chúng ta mới tiến lên nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
6- Trí huệ: Nếu chúng ta không có quá trình công phu rèn luyện tu chính, không hành dụng các pháp bố thí, nhẫn nhục, trì trai, tinh tấn, thiền định thì chúng ta sẽ không bao giờ có trí huệ. Vậy đức Phật Ngài đưa ra lục độ mục đích cuối cùng là muốn cho chúng ta đạt được trí huệ.
Ở đây chỉ nói về lục độ thường nhật mà chúng ta phải làm trong các pháp cơ bản chứ chưa nói về ba la mật. Ba la mật là thân khẩu ý hợp nhất, là hành động của Bồ tát, là làm những thứ người ta không thể làm được mà chúng ta làm được.

KINH TÂM VẬT TƯƠNG TÁC
NHÂN QUẢ BÁO ỨNG
Chúng ta ở trong thế giới nhị nguyên của ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới đều nằm trong phạm trù nhân quả, vì còn tiến hóa là còn nhân quả. Khi chúng ta vượt ra khỏi nhân quả thì mới hết báo ứng. Đối với Như Lai là ứng cúng, chánh biến tri minh hạnh túc, thì Như Lai không còn bị báo ứng. Ngài vì sự nghiệp hóa thân trong tam giới mà ứng cúng chánh biến tri minh, chứ không phải bởi nhân quả mà đưa Ngài vào trong cuộc của tam giới đó.
Như vậy, phạm trù của chúng ta là phải chịu về tính chất của quy luật tâm vật tương tác nhân quả báo ứng, vì nếu tách cái tâm ra mà nói rằng: vật chất báo ứng nhân quả thì hoàn toàn sai, vì động cơ báo ứng là cái tâm. Vậy đứng trên cái tâm của chu trình thượng là Trung tâm vạn năng, vạn hóa vạn pháp thành lập nhân quả. Nếu không có Trung tâm vạn năng thành lập nhân quả, thì không có quả xoài, quả bưởi, quả cam và không có một loại quả gì hết. Còn về cái tâm hạ tầng thì sao? Nếu con người không có ý thức tương tác tác động vào đời sống vậy chất, để thiết lập quy trình tương ưng và tương khắc, thì không tạo ra nhân quả. Không có sai biệt về ý niệm, không có tư niệm thì không tạo ra nhân quả. Nếu đứng trên nhân sinh quan thì chúng ta chịu những luật nhân quả về sự phát triển và tiến hóa của các cấp độ khác nhau. Còn đứng trên vũ trụ quan thì chúng ta là một hạt nhân được tiến hóa trong định luật của Trung tâm vạn năng và chuyển dịch hóa trong vạn pháp, để chúng ta thiết lập những quá trình tiến hóa trong nhân quả. Vậy do ý niệm sai biệt mà rớt vào nhân quả xấu. Còn chúng ta chỉnh đốn trở về để ổn định sự tu chính, thì chúng ta sẽ thiết lập được những nhân quả tốt.
Chân địa tâm pháp là một sự phong phú về chất lượng tổng hợp, nó sẵn sàng nuôi dưỡng bất cứ một thứ gì mà chúng ta gieo trồng. Vì chân địa nó là tính chí tông và tổng hợp tinh hoa, nó không có tính phân biệt về các loại giống.. Ví dụ: Tâm địa chúng ta nó là a lại da thức, nó là chân thức. Nếu gieo vào lòng chúng ta một ý niệm xấu, thì nó sẵn sàng nuôi và hình thành ý niệm xấu đó và kết quả sẽ ra một cái quả xấu. Còn nếu gieo vào lòng chúng ta một tư tưởng tốt đẹp, thì nó sẵn sàng nuôi cái nhân tốt đó để hình thành ra một quả tốt. Như vậy tính chân địa của pháp tâm là tính công lý và khách quan hoàn toàn chớ không có cái nghiêng lệch giữa cái ta và không ta. Tức là chân địa không còn cái thân kiến, mà ý thức sai biệt nó phát sinh ra thân kiến, biên kiến và tà kiến. Như vậy, tâm vật tương tác nhân quả báo ứng, nó có nhiều loại báo ứng khác nhau, báo ứng gồm có thiện nghiệp và ác nghiệp. Báo ứng là một cụm từ tất yếu, nó sẽ báo ứng những thứ mà ta đã gieo trồng.
Công Luật học chúng ta có đề tài là minh phân giá trị hội tụ, sức mạnh của tính và thể lập trình, minh phân giá trị công đức và sức mạnh của Trung tâm vạn năng đối với vạn hữu trong quá trình phát triển, thì không thể tách lĩnh vực chân tính ra, vì tách rời ra là không có chủ thể, mà không có chủ thể thì vạn vật không có con đường hoạt động. Vậy tâm vật tương tác nhân quả báo ứng là pháp hội tụ, thì chân lý ánh sáng của chúng ta nói trong vạn kinh ấy, cái cốt lõi về giá trị cũng trở về hội tụ. Vì trở về hội tụ để có tất cả những tổng thể đó mà không bị chia cắt. Trở về hội tụ để tìm ra sự công bằng trong hội tụ. Bởi vì gốc là sự hội tụ, nếu xa lìa gốc hội tụ có nghĩa là đánh đổ sự cân bằng ở ngoại biên và giá trị biến cố về các pháp ở phần ngọn. Vậy chúng ta trở về hội tụ để làm phép cân bằng. Vì sao? Vì hội tụ có tổng tinh hoa tính và thể, là khép kín giá trị hạt nhân của sự chuyển động về trục, không ly trục của giá trị Công Bản hóa trong vạn pháp và trục Trung tâm vạn pháp đó mà ứng dụng vạn pháp, thì nhân quả sẽ được bình yên trong vạn pháp.
Hội tụ là bản chất của bát nhã, là bản chất của tận định, là tột cùng của giá trị tinh hoa. Như vậy, nếu giải quyết được phần này, thì mọi xanh tươi của phần ngọn tự nó hiện ra. Lúc bây giờ chúng ta chỉ cần bon sai lại, nhánh nào dư bỏ bớt.
Tóm lại: Tâm vật tương tác nhân quả báo ứng, nếu chúng ta càng quay về với gốc hội tụ càng cao thì cái chân thật và giá trị của chân lý càng cao. Còn nếu chúng ta không quay về được, thì giá trị ảo phát sinh nhiều và hạn chế giá trị chân thật của chúng ta ở trong sự nghiệp nhân quả đó.
Ví dụ: Tâm vật tương tác nhân quả báo ứng ở chu trình hạ, thì chúng ta dùng tư duy và sức mạnh tu chính để chuyển hóa qua chu trình thượng, thì chúng ta sẽ có nhân quả chu trình thượng.
Nhân quả chu trình thượng là nền tảng để cất cánh giá trị sự nghiệp tiến thân vào vũ trụ và đi vào vô cực, là lập trình của nền thiện nghiệp được hóa thân trên một nền tảng vững chắc, tránh khỏi mọi nhân quả tự báo vô lý có thể xảy đến trong đời sống của chúng ta.
Như vậy, đời sống mà các vua Chuyển Luân có, các Bồ Tát có, các Thánh nhân có, là do biết chuyển hóa nhân quả cấp hạ qua lập trình của cấp thượng, là vì các vị ấy biết gieo trồng các công đức, giá trị giữa ý thức và vật chất, giữa tâm và vật tương tác và quyền biến sức mạnh tôi luyện đó để đi ngược về chu trình thượng mà có được phúc báu đó.
Nhân quả của tâm vật tương tác nó chịu cái luật của ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Tức quá khứ là cái nhân để quyết định cho cái quả hiện tại và cái quả hiện tại nó lập trình cho giá trị tương tác hình thành cái nhân hiện tại để có cái quả của vị lai. Như vậy, nhân quả tương tác nó nằm trong luật quay trong chu trình quay của ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nếu quá khứ chúng ta gieo trồng những nhân quả tốt, thì hiện tại chúng ta gặt hái những quả tốt. Nên đức Phật nói rất rõ: Nếu ngươi muốn biết được đời trước, thì ngươi hãy nhìn ngay cái cuộc sống của ngươi đó, vì cuộc sống của ngươi là biện chứng pháp về sự tập hợp tất cả những giá trị ngươi đã làm, nó đã trở về với ngươi hôm nay. Nếu đời trước ngươi không biết tu, thì đời này cũng không biết tu. Nếu đời trước ngươi chưa từng nghe pháp, thì đời này không bao giờ biết nghe pháp. Nếu đời trước ngươi không biết làm công đức, thì đời này không thể trở thành giàu có được. Mặc dầu ngay trong đời này còn có sai trái, vì ngươi còn lậu hoặc, còn nghiệp thức, còn chịu luật vô thường giữa tâm thức và vật chất. Nhưng vì phúc báu đời trước có gieo trồng, nên hôm nay mới được kết quả đó. Như vậy, đức Phật nói những nguyên tắc biện chứng về giá trị tất yếu của nhân quả thuộc về các loại một cách chính xác không thể sai chạy.
Sự gây tạo nhân quả, luật thưởng phạt luôn luôn xuất hiện những giá trị rất công bằng đối với nhân quả đó. Luật nhân quả tự tính là sự trừng phạt trực tiếp, mà không phải mời gọi luật sư hay tòa án, điều đó mới đáng sợ. Vì thế chúng ta đừng để ông tòa án của luật nhân quả đích thực nhất tự tính nó đến xử mình. Trong đời sống chúng ta có thể trốn chạy luật pháp nhà nước, nhưng không thể nào trốn chạy được luật nhân quả tự tính của chính chúng ta gây ra. Vậy thì ta không sợ tòa án ở bên ngoài, mà ta sợ tòa án bên trong của chính ta.
Đây là nói về những giá trị siêu thực của đời sống hóa thân trong vũ trụ, là không nói một sự hứa hẹn, mà nói trong định luật tiến hóa, tiếp tục tiến hóa chứ không thể dừng lại. Đây không phải nói là mọi giá trị giả tướng, hợp thành để rồi tan vỡ, mà nói giá trị thực tướng để kết tinh chân tâm và có một đời sống vĩnh cửu trong đời sống vũ trụ đó. Như vậy nói chỗ này là nói về con mắt của Trung Tâm ánh sáng và nói con mắt của Cự Nhật Đại Quang ánh sáng rồi. Vậy chúng ta phải biết thương yêu và xót xa cho linh hồn mình, đừng để dòng nghiệp của ý thức tội ác nó tự âm thầm xây dựng và phát ra những ý niệm tội ác đó, mà nó kết thành những nhân quả để rồi nó lôi chúng ta đi vào dòng nghiệp đau khổ đó.
Chúng ta hãy thực tế về giá trị tính và thể hợp thành, tâm và vật tương tác thành nhân quả đi. Hãy thực tế trong tính thiên đàng, đừng nên ảo vọng đến một thiên đàng xa xôi vạn dặm đó. Hãy thực tế và biết sợ về địa ngục tánh của mình hình thành, về địa ngục tánh nó theo chúng ta như hình với bóng, vì tính nó ký ở trong chúng ta rồi. Như vậy ta sợ địa ngục tánh hơn sợ địa ngục tướng và hạnh phúc thiên đàng tánh hơn gấp nhiều lần của thiên đàng tướng.
Chúng ta muốn dứt được mọi sự khổ đau của các tướng địa ngục thì chúng ta hãy dứt tất cả những ý niệm bất thiện trong đời sống của tư tưởng thì chúng ta sẽ có một thiên đàng tánh tức khắc.
Đối với định luật nhân quả thì phải có nhân quả thiện và ác, nhân quả tốt và xấu, nhân quả vui và buồn, nhân quả hạnh phúc và đau khổ.
Như vậy tất cả là do chúng ta tạo ra, nếu con người đã làm những việc ác thì Phật Trời cũng không thể cứu được. Vì Đức Phật không thể thắng được công lý, khi công lý đã kết rồi thì đành phải chịu mà thôi. Nên Đức Phật đã nói “ Phật bất độ định nghiệp, Phật hữu độ nhân duyên”.
TÍNH BIỆN CHỨNG VỀ GIÁ TRỊ HÌNH THÀNH
ĐỊA NGỤC TÁNH VÀ ĐỊA NGỤC TƯỚNG,
THIÊN ĐÀNG TÁNH VÀ THIÊN ĐÀNG TƯỚNG TRONG ĐỜI SỐNG CHÚNG TA
Địa nguc tánh và địa ngục tướng báo ứng trong sáu đường của tính biện chứng và hình thành nhân quả tất yếu của cộng nghiệp đối với đại thể. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai nói sáu đường đều có địa ngục cả. Ở địa ngục thì mức độ địa ngục thâm trọng và giá trị khổng lồ lớn hơn. Ở ngã quỷ cũng thế, ở súc sinh, a tu la, nhân, thiên cũng thế. Nhưng tỉ trọng và giá trị sự báo ứng của địa ngục cõi nhân, thiên, thì nhẹ hơn cả. Như vậy, lấy cõi nhân thiên mà nói cái tính và tướng địa ngục của nhân thiên.
Bây giờ mình cụ thể hóa về đời sống của nhân, để thấy loài người có địa ngục của loài người ngay trong đời sống thực tế. Chứ không phải loài người thấy địa ngục của địa ngục, hoặc địa ngục của ngã quỉ và súc sinh.
Địa ngục của loài người là địa ngục của mọi dãy đầy sự chết và khủng khiếp nhất trong những biến cố hoảng hốt có tính tổng thể. Ví dụ như biến cố sóng thần của In đô nê xia hơn 200.000 người chết một cách khủng khiếp, hoặc như Billaden đánh hai tòa tháp đôi của Mỹ làm hàng ngàn người chết. Địa ngục của loài người là khi loài người biết đấu tranh, biết hình thành tất cả mọi sự sống, biết bảo vệ sự sinh tồn của mọi quốc gia và quyền lợi của mọi quốc gia, đã gây ra bao chiến tranh bởi những ác nghiệp ấy. Có nghĩa là máu đã đổ thành sông và xương đã chất thành núi. Đó là địa ngục của loài người.
Vậy địa ngục của loài người từ đâu mà lập ra?
Từ tính thể tương tác của giá trị nhân quả tất yếu hình thành địa ngục và chính nó hình thành cái quả của loài người. Tức là trong phần quả của loài người có phần địa ngục của loài người. Địa ngục của loài người trong giá trị của sinh lão bệnh tử và khủng khiếp các loại bệnh chết, chết dãy đầy trong các loại nhà thương khổng lồ. Địa ngục của loài người là trãi rộng ở trong giá trị kết quả của những địa mộ và nằm khắp trên địa cầu chúng ta. Địa ngục của loài người là sự khóc than bởi những cuộc chia ly mất mác và không còn giữ được tất cả những giá trị của chính mình nữa.
Như vậy, loài người có địa ngục thì loài người cũng có phần thiên đàng ở trong đó. Mặc đầu ở trong định luật của thành trụ hoại không, của sinh trụ dị diệt, của sự sinh tử. Nhưng loài người cũng làm nên được những vinh quang. Chẳng hạn như xây dựng những tòa lầu, những đất nước trang nghiêm để đem lại sự hạnh phúc và hưởng thụ được tất cả những giá trị về văn học nghệ thuật, về ánh sáng, về trật tự cho xã hội để xã hội được hạnh phúc. Đó là thiên đàng của loài người. Vậy cái lấn ác về thiên đàng địa ngục của loài người là do ức chế về giá trị tính thể lập thành của tội và phước. Nếu trong tội của loài người cao hơn, thì hình thành địa ngục của thế gian giải cao hơn. Nếu loài người hướng về cộng nghiệp thiện thì thiên đàng hóa trong thế gian giải của loài người có thiên đàng cao hơn.
Như vậy, chứng minh tính tướng địa ngục ở trong đời sống của nhân loại đã có trước mắt luật nhân quả ba đời đang chuyển động và hình thành tính – thể lập trình của địa ngục mà loài người đang hiện hữu. Vậy muốn tránh địa ngục thì chúng ta phải dẫn độ theo chính pháp, đưa ánh sáng từ thiện vào đời sống, đưa ánh sáng lương tri vào đời sống, đưa ánh sáng nhân ái thiện nghiệp vào đời sống, đưa ánh sáng chuyển hóa các nghiệp tội ác vào đời sống, tất cả những nền văn hóa đỉnh cao vào đời sống, thì hạn chế giá trị địa ngục tướng và địa ngục tánh của thế gian giải. Mà hạn chế được địa ngục tướng và tánh của thế gian giải, thì lập trình thiên đàng có ngay trên đời sống đó, nên gọi là trang nghiêm quốc độ. Như vậy, tướng của thiên đàng là trang nghiêm quốc độ, là từ tính pháp thánh thiện của nhân chủng, tức là từ tánh của thiên đàng lập ra tướng thiên đàng. Vậy thì, tính của thiện nghiệp lập ra thiên đàng, tính của ác nghiệp lập ra địa ngục.
Địa ngục vốn gốc từ tính của tội ác. Tính của tội ác có nhiều loại. Từ sự sai biệt làm mất đi tính cơ bản của đạo đức dẫn đến tội ác. Còn cơ bản hóa tính tương ưng và hồi phục tất cả những giá trị thánh thiện trong đời sống, theo cuộc sống văn hóa đúng mức và giữ những qui phạm về đạo luật, trật tự hóa trong đời sống và hàn phục tất cả những ý niệm tội ác, chuyển hóa tính chất và giá trị tội ác qua tính thánh thiện thì thiên đàng tính nó sẽ hình thành, thì tướng quốc độ trang nghiêm, tức là thiên đàng tướng nó sẽ hình thành.
Như vậy, tính biện chứng của tội ác là địa ngục, tính biện chứng của thánh thiện là thiên đàng. Thì địa ngục và thiên đàng ở trong đời sống đó, chứ không phải đợi chết mới có. Chết chẳng qua là một định luật chuyển tiếp mà thôi. Chứ thực ra lúc sống nó mới quyết định cho thiên đàng và địa ngục rõ ràng hơn, còn lúc chết là kết quả của việc sinh về đâu,ở đâu, do nghiệp thức nó chuyển. Chứ thực sự là tính thiên đàng và địa ngục nó hằng ở trong chúng ta từng giờ, từng phút và không tách rời chúng ta, thì việc đợi chờ thiên đàng và địa ngục là sai hoàn toàn. Vậy thiên đàng và địa ngục là do giá trị chuyển động và hình thành của tâm pháp mà có tướng thiên đàng và địa ngục.
Bây giờ chúng ta thấy rằng nhiều con người là một gia đình, nhiều gia đình là một xã hội, nhiều xã hội là một quốc gia. Nếu một con người thiện thì kết quả là sự an vui của một con người, nếu có hai người thiện thì sự an vui của hai người, nếu gia đình có năm người thiện thì kết quả là sự an vui của năm người, thì gọi là một gia đình thiên đàng. Còn ngược lại từ một con người tội ác, rồi lây ra nhiều người tội ác, thì thành ra một gia đình địa ngục, tùy theo mức độ tương tác của tính tội ác mà hình thành ra địa ngục. Ví dụ như: Tội ác anh lớn quá, anh thả lựu đạn làm nổ tung cả một gia đình chết sạnh, kết quả là tướng địa ngục của gia đình đó hiện ra. Còn nếu trong một quốc gia chiến tranh đánh giết nhau, sự chết chóc có thể dẫn đến con số ngàn, thì tướng địa ngục của xã hội đó hiện ra. Như vậy, tùy mức độ trong lực và tính chất của giá trị cộng nghiệp tội ác mà địa ngục của gia đình và xã hội đó hiện ra lớn hoặc nhỏ.
Đây là sự biện chứng mang tính bác học, còn huyền học là một sự hẹn hò, địa ngục bên kia! hoặc thiên đàng bên kia! mà không giải quyết những vấn đề địa ngục và thiên đàng ở trong đời sống hiện hữu thì giá trị chân lý ấy chưa rõ.
Chúng ta muốn triệt tiêu phần tướng của địa ngục, thì dứt khoát phải giải quyết phần tánh địa ngục. Vì nó phát xuất từ tiềm năng tội ác do tánh mà hình thành ra tướng. Vậy định nghĩa của địa ngục, là lập trình giữa tánh và tướng chuyển động giá trị nguyên lý từ ác tính mà ra, để hình thành những giá trị hiện hữu và biện chứng thế gian pháp của các loại cấu trúc hình thể về địa ngục từ cá nhân đến gia đình và cộng đồng xã hội. Ngược lại thiên đàng cũng thế. Nếu chúng ta có tính chất và giá trị thiện nghiệp cao do những quá trình hoạt động công đức, năng lực cao về công đức và giá trị ý niệm thiện nghiệp cao, sức chánh kiến cao, sức chánh niệm cao, ánh sáng cao, thì mọi hoạt động giá trị thiện nghiệp đó sẽ hiện ra thiên đàng tướng. Như vậy, tính và tướng của thiên đàng và địa ngục đã có trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta giải quyết được phần này, thì ở chu trình nào nó cũng theo ta cả. Bởi vì ký tính của thiên đàng và địa ngục, lập trình của vũ trụ hóa sinh trong định luật đó thì không có thêm bớt, vì nếu chúng ta gây nhân bao nhiêu thì kết quả bấy nhiêu, đó là định luật.
Bài học tâm vật tương tác nhân quả báo ứng, nó liên kết chặt chẽ với bài này. Vì nó không thể tách rời tâm vật để hình thành thiên đàng và địa ngục, tâm và vật tương tác thành nhân quả, thì tính chất tâm và vật là cái yếu tố để kết thành giá trị của sự hạnh phúc an vui hay đau khổ đầy ải.
Địa ngục cõi trời, vì cõi trời không có sự vĩnh cửu, không có trường sinh, vẫn còn bị sinh tử. Địa ngục cõi trời là khi hưởng hết phước thì bị sinh lại vào những cõi thấp hơn và rơi vào những cảnh giới khổ đau, vì khổ đau là địa ngục rồi. Cõi trời vẫn còn bị biến đổi nên vẫn có cái nhân quả của địa ngục trong cõi trời đó.
Tóm lại, tính biện chứng của thiên đàng và địa ngục, tính và tướng đã có thực trong đời sống hiện hữu của loài người. Vì nguyên lý của nó là khi có tâm, có vật, có tương tác thì ắt có nhân quả. Vì sự cấu thành của nguyên lý ấy nó đã tạo thành nguyên lý của tính chất tác động và hình thành giá trị nhân và quả trong đời sống đó. Nếu nhân lành thì quả lành. Nhân ác thì quả ác. Chính vì lẽ đó mà lập trình ra thiên đàng và địa ngục. Do tội và phước, do ác và thiện, mà quá trình chuyển động của tính và thể lập thành loại nhân quả nào ra loại nhân quả đó và được kết tinh một cách chặt chẽ. Vì vậy cho nên thiên đàng và địa ngục cũng được kết chung tính nhân quả biện chứng vậy.
Nếu chúng ta không có thiên đàng tính thì lập trình của thiên đàng tướng được hóa sinh trong sắc giới không bao giờ có. Vì tính thiên đàng là tính chân thiện mỹ. Cho nên tướng thiên đàng là do sự hiệp thông của tánh thiên đàng mà hiện ra các tướng đó. Khi chúng ta thấy được các tướng đó nó chuyển động rất tốt lành và hạnh phúc từ trong ký tánh đó. Tức quang hóa ra thiên đàng hạnh phúc, đó là gốc từ tánh thiên đàng mà ra.
Địa ngục cũng phát sinh từ tính. Đức Phật nói thế này: Địa ngục tướng và địa ngục tánh đã hiệp thông trong giá trị nhân quả tương tác tâm vật mà loài người và các loài đang chịu cái luật đó. Địa ngục là sự khổ đau và khổ đau đã có dãy đầy trên đời sống của thế gian này. Vì tính tàn ác nên khi chết đi thì tất cả mọi sự đau khổ nó quay về tính, mà khi nó quay về tính với một mức độ khổng lồ như vậy thì gọi là A tỳ vô gián. Vô gián tức là không có gián đoạn. Ví dụ như người ta đánh mình một giờ, người ta cho mình nghỉ một giờ thì có gián đoạn, còn cái này đánh luôn suốt ngày đêm không cho nghỉ thì gọi là vô gián. Tại sao có vô gián? Vì quá trình ác nghiệp nó chuyển động nó không cho nghỉ, cho nên gọi là địa ngục vô gián ký. Địa ngục ký từ tánh và tánh đó hiện ra tướng. Mà khi tánh đoạn thì tướng tự mất. Tức là đoạn tánh địa ngục thì tướng địa ngục tự mất, thiên đàng cũng vậy, nếu chúng ta đoạn tính thiên đàng thì tướng thiên đàng cũng không bao giờ hiện ra. Như vậy thì thiên đàng địa ngục nó đã lập trình ký tánh chớ không phải ở bên ngoài hình tướng. Vậy tướng là cái ngọn mà tánh là cái gốc, thì địa ngục và thiên đàng đều có cái gốc của nó.
Tánh thiên đàng là chân tâm, là chân thiện mỹ, là sự an trụ không có biến đổi, tánh thiên đàng là vô lượng thiện nghiệp mà không có nghiệp nào dữ cả. Nếu hàng trăm nghiệp thiện chúng ta đã làm như một sự tinh lọc không còn có nghiệp dữ thì gọi là toàn thiện, mà toàn thiện là tính của thiên đàng, thì tất cả các tướng đẹp như ao thất bảo, các hàng cây báu và các sự rung chuyển trong vũ trụ đều là sắc quang hết. Cho nên các sắc quang hiện ra là từ tính thiên đàng. Đời sống của pháp tính đã có thiên đàng thì ở trong tam giới có thiên đàng. Nếu ta đi vào trong địa ngục thì ta vẫn có cái thiên đàng của chính ta, còn địa ngục ấy là của người khác. Cái cảnh giới đó nó có địa ngục, nhưng với ta không có địa ngục, vì trong ta không có tánh địa ngục nên các địa ngục tướng không hiện ra với chúng ta .
Như vậy, địa ngục và thiên đàng vẫn có tính độc lập triệt để đối với giá trị nhân bản và nhân bản đã thực hiện được tính thiên đàng và địa ngục, chớ không phải là xin cho. Vì Thống hóa đã cho chúng ta trọn đủ những thứ đó. Đó là minh triết lập trình tính của thiên đàng và tướng của thiên đàng trong đời sống của loài người, chớ không phải đợi đến thế giới khác. Còn thế giới khác thì nó có thiên đàng và địa ngục của thế giới đó. Ví dụ như chúng ta hình thành tính tội ác thì ngay trong đời sống chúng ta có địa ngục rồi, khi chúng ta chết nó chuyển qua cái địa ngục ngạ quỷ. Vậy từ địa ngục loài người nó xuống địa ngục ngạ quỷ. Địa ngục của loài người thì mức độ tội ác nó nhẹ hơn là địa ngục của A tu la, ngạ quỷ.
Chúng ta muốn giải quyêt được cái địa ngục của địa ngục, thì hôm nay chúng ta phải giải quyết ngay cái địa ngục từ tánh. Tức là chúng ta phải có một lập trình về tánh thiên đàng. Yếu tố nào để lập trình tánh thiên đàng? Đức Phật dạy chúng ta phải thực hiện vô lượng thiện nghiệp là có tánh thiên đàng. Khi có tánh thiên đàng thì tánh pháp kinh điển của người đó cũng sẽ có. Chính từ thiện nghiệp đó mà phát sinh kinh điển, chính từ thiện nghiệp đó mà phát sinh ra pháp tính tốt đẹp.
Chúng ta phải biết rằng địa ngục và thiên đàng có ngay trong đời sống của chúng ta chớ không phải đợi chết đi mới thấy, còn chuyện chết đi thấy là chắc chắn rồi. Vì sao? Vì khi chúng ta đang sống có địa ngục tánh thì khi chết cũng mang địa ngục tánh đi theo, hoặc khi sống anh có thiên đàng tánh thì khi chết cũng mang thiên đàng tánh đi để hóa thân vào các thiên đàng tướng ở bất cứ một hành tinh nào. Nếu có thiên đàng tánh rồi thì chúng ta lập trình ở bất cứ trong 3 cõi đều có thiên đàng tướng hết chứ không mất.
Thiên đàng và địa ngục từ một tâm đó mà ra.
Thiên đàng là hóa trị cho địa ngục.
Thiện nghiệp hóa an vui, ác nghiệp hóa khổ đau.
Nhân quả là tính tất yếu không thể sai chạy. Chúng ta hãy lập trình những nhân quả tốt, thì nhất định khổ đau sẽ không bao giờ đến với chúng ta ..
Nhân quả thuộc về định luật tất yếu. Trong nhân quả có nhân quả cấp thượng và nhân quả cấp hạ.
Thượng đế đã cho chúng ta có cái quyền tột đỉnh là muốn làm gì cũng được, ta làm cái gì thì nó ra cái đó.
Các đấng thế vì đến thế gian đã đưa ra những nhân quả cấm. Đức Phật đã đưa ra giới cấm là nhằm cấm làm những loại nhân quả xấu. Đó là một ranh giới giữa trắng và đen, giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu mà đức Phật đã rạch ròi trong thế giới nhị nguyên đó.
Nhị nguyên là gì? Là thơm và thối, sáng và tối, sinh và tử, có và không. Đối chấp giữa ý thức phân biệt, là vật lượng hiện hữu trong quá trình chuyển động và chịu định luật thành trụ hoại không. Nhị nguyên là cái biến đổi và không có thường trụ. Mà biến đổi để trao chất, để tăng hóa tinh hoa. Nên định luật biến đổi cũng đồng nghĩa với chuyển hóa tinh hoa và kết tinh tinh hoa. Đỉnh cao của tiến hóa là vô cực, là trung tâm linh quang hiệp tụ ánh sáng. Vậy, nhị nguyên là người thầy lớn nhất của chúng ta, là nền tảng cho chúng ta hóa thân và nhị nguyên cũng là thằng giặc dữ.
 Chứng minh về thiên đàng và địa ngục mang tính minh triết
Như thời gian và không gian giống nhau, cảnh trí giống nhau và điều kiện vật chất giống nhau. Nhưng tại sao con người thì lại có đau khổ và có an vui. Vậy đau khổ và an vui là có thực trong cái biết. Thì cũng chính từ cái biết đau khổ và biết an vui đó mà hiện ra thiên đàng và địa ngục. Còn cảnh vật thì không biết đau khổ và cũng không biết an vui thì làm sao có địa ngục và thiên đàng ở ngoài cảnh vật đó. Vậy thì địa ngục và thiên đàng có thực thể trong pháp tính hóa pháp thể, tức là cái biết đau khổ là địa ngục, cái biết an vui là thiên đàng.
Chúng ta không thể đem huyền học, thần học mà ký gởi thiên đàng và địa ngục ở một phương hướng nào đó thì thật hư huyễn, sai biệt.
Chúng ta có ý niệm thánh thiện là đã có tính chất thiên đàng, còn có ý niệm ác độc thì đã có tính chất địa ngục rồi. Thì chúng ta đã có thiên đàng và địa ngục ngay trong ý niệm chứ không phải đi tìm ở đâu khác hơn.
Phép rửa tội chỉ là một cầu nối, là cách hỗ trợ để cho chúng ta có ấn tượng mà tự quay vào giải quyết vấn đề tính chất bên trong phần tính. Chứ tội mà lấy nước rửa thì làm sao rửa được. Nếu đem Chú đại bi tụng suốt 3 ngàn biến mà không trở về chân tâm thì cũng không rửa được tội, thì huống hồ là đem nước để rửa thì làm sao rửa được.
Muốn rửa được tội là phải sám Thủy Kinh chiếu, là thể nhập nước pháp cam lộ và dùng pháp tính cam lộ đó mới rửa được tội. Muốn rửa được tội phải có tiêu chí ý thức công phu để chuyển thức, tức là tập hợp về ý chí và sức mạnh của tâm đức, của thiện nghiệp mới chuyển được ác nghiệp. Là dùng cái biết thiện để giải quyết cái biết ác, dùng cái biết thanh để giải quyết cái biết trượt.
Như vậy tính bác học của thiên đàng tánh và địa ngục là mối chốt giá trị thực trong đời sống của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Một khi giải quyết được tính địa ngục và tính thiên đàng rồi thì bất cứ trong tam thế đều có thiên đàng hết. Nên Như Lai nói: “Ta đã có tánh thiên đàng rồi, thì ta đi vào thẳng trong địa ngục của cộng nghiệp chúng sinh thì ta cũng không thấy địa ngục”.
Vậy thiên đàng và địa ngục là có ngay trong đời sống của chúng ta, còn việc chết nếu ta có địa ngục tánh thì nó dẫn ta đi đến chỗ báo quả địa ngục tướng. Còn nếu ta có thiên đàng tánh thì nó cũng dẫn ta đi đến chỗ báo quả thiên đàng tướng. Tóm lại, tánh thiên đàng sinh ra tướng thiên đàng, tánh địa ngục sinh ra tướng địa ngục. Còn nghĩa của thiết vi là thành quách của núi sắt, thật ra hoặc lậu ác nghiệp đã kết thành sắt là thiết vi, chứ không có tướng thiết vi nào cả.

TÂM BẤT THƯỜNG TRONG HẠNH NGUYỆN HƯỚNG THƯỢNG, Ý BIẾN ĐỘNG TRONG NGHIỆP THỨC CƯU MANG
Chúng ta xác định hạnh nguyện hướng thượng là có thực, nhưng mà rất bất thường. Ta giác ngộ trên chúng ta có chiều thượng, có ánh sáng chân tướng chiều thượng thật sự nên ta hướng về. Nhưng lại hướng rất bất thường, là do bởi ý biến động trong nghiệp thức cưu mang, là mang nặng dòng biến động của ý thức ấy; nó không bao giờ bỏ ta mà luôn luôn quanh quẩn bên ta trở thành quỹ tích ràng buộc, nên gọi là cưu mang. Phần nội là cưu mang ý thức và những thứ xung quanh liên quan với ý thức như: vợ chồng, con cái, cha mẹ và nhiều thứ khác móc xích trong nhiều đời mà chúng ta đã đi qua. Cưu mang đối với dòng nghiệp mà chúng ta đang phát triển, ví dụ việc sinh cũng là cưu mang, cưu mang là sức nặng, giống như người đàn bà đang mang thai, phần dưới là nặng, là cưu mang (ta dùng từ cưu mang là có tính ân sủng khách quan).
Chúng ta thừa nhận sự cưu mang ấy là do ý biến động, ý biến động thuộc về tâm viên, ý mã nó luôn luôn chuyển động không bao giờ dừng lại, vì chúng ta chưa thắng phục được nó. Muốn đánh bật tâm viên, ý mã để trở về tâm vương chủ, ta phải có một sức mạnh chiến thắng. Như Tôn Hành Giả trong Tây Du Ký, ông ta đã chiến thắng hoàn toàn tâm viên, ý mã; thắng phục tam độc, ác thức và khôi phục được tam tạng, thành tựu được chân tâm và trở thành một vị Phật ra khỏi tam giới và đến tam giới một cách tự tại.
Đối với các trưởng tử hóa thân từ Bồ Tát, từ A La Hán là giàu nhất và hóa thân vào các ngôi đế chế để làm những công việc thế vì ngôi vua là giàu nhất. Cái giàu này là do trước đây các vị ấy không cưu mang về bá nghiệp phi nghĩa vô lý, mà lại cưu mang những ân sủng của chính nghiệp, chính khí, chính nghĩa và luôn luôn có thường tâm trong sự nghiệp tiến hóa và thăng hoa trong hạnh nguyện hướng thượng.
Một khi ta đã cưu mang những nghiệp hoặc thì nó trở thành sức nặng nên ta khó mà vượt lên được và ta cũng không dìu dắt được vợ ta, con ta, cho nên trong nghiệp tu luôn luôn có phần tu của chồng, vợ, con cái và những người thân, đó là phép đồng tu. Vậy đồng tu là liên kết sức mạnh đại thể trong một khu tập thể, một tổ hợp hoặc một gia đình, là phép đồng tu hóa đạo tràng.
Chúng ta muốn được thường tâm trên đỉnh cao của sự nghiệp tiến hóa trong hạnh nguyện hướng thượng, thì phải diệt tất cả ý biến động và các hoặc nghiệp cưu mang; phải bức phá các nghiệp thức cưu mang để tháo gở lần sức nặng phía dưới và tất nhiên sẽ được bốc bay lên. Vì từ lâu chúng ta bị níu giữ lại là do ý thức biến động trong nghiệp thức cưu mang nhiều thứ. Như người đàn bà mang thai là đại diện cho phần âm, thì chính đó cũng là sức nặng trĩu, âm trập và không cho chúng ta thăng hoa trong hạnh nguyện hướng thượng. Vì vậy nói tới hướng thượng là một sự xa vời nghìn trùng đối với chúng sinh còn cưu mang quá nhiều hoặc nghiệp và hoặc nghiệp đang bao vây, thì đối với chúng sinh ấy hướng thượng là một điều vô tưởng, hoàn toàn không thực tế đối với ý thức biến động đó.
Chính vì vậy mà Đức Phật mới chia ra 3 cấp gọi là thượng căn, trung căn, hạ căn và mỗi cấp cũng được chia ra 3 phần thượng, trung, hạ. Đó là thượng thượng căn, trung thượng căn, hạ thượng căn; thượng trung căn, trung trung căn, hạ trung căn và thượng hạ căn, trung hạ căn, hạ hạ căn. Như vậy hạ hạ căn là đần độn, ngu si, nghiệp lực vô cùng mãnh liệt giống như mới vừa thoát thân hình thú được lên làm người mà bao nhiêu sự cưu mang còn tập hợp nơi chính nó và chính nó cũng chưa bao giờ thoát ra được.
Tuyệt đối có hướng thượng mới có tâm bất thường, còn nếu không có hướng thượng làm sao có tâm bất thường và ý biến động trong nghiệp thức cưu mang. Khi nào ta dọn dẹp, tháo gỡ và ổn định phần dưới. Tức là ý thức phải ổn định từ trong ra ngoài, ổn định có tính liên quan. Ví dụ chính vợ hoặc chồng hoặc con cái làm cho mình biến động, thì mình phải giải quyết làm sao cho tất cả đừng làm biến động nữa và phải làm ổn định từ trong ra ngoài những gì có liên quan đến ý thức biến động trong phạm vi nhất định mà mình phải giải quyết. Khi giải quyết được những ý thức biến động thì nghiệp thức cưu mang cũng được giảm dần.
Chúng ta thấy tâm bất thường có liên quan đến ý thức biến động. Nên chiều trên có liên quan chiều dưới, chiều thượng có liên quan chiều hạ. Nếu chiều hạ bị trói buộc, ta sẽ mất chiều thượng; nếu chiều hạ không bị trói buộc, ta sẽ có chiều thượng ngay. Cũng như hai người đi, người gồng gánh nhiều sẽ nặng nề hơn người đi không. Đức Phật nói: “ Đá vàng quá nặng ư, nhưng nghiệp kia còn nặng hơn cả đá vàng”. Như núi dù có cao lớn bao nhiêu cũng lấy sức duy ngã đại thể có thể biến đổi được nhưng khi định nghiệp đã kết rồi thì nó lại còn to hơn cả núi và không thể biến đổi được, tức là định nghiệp bất độ.
Định nghiệp có liên quan đến hạt tâm vì hạt tâm là chủ quyền của đời sống chính nó đã cấu trúc, nên đổi được nghiệp cũng có nghĩa là đổi được hạt tâm; nếu không đổi được hạt tâm thì cũng không đổi được định nghiệp. Đó là độc lập của tính hệ thống công lý mà Đức Phật không thể bẽ gãy cán cân công lý ấy. Vì vậy Đức Phật phải thua tất cả những định nghiệp và định nghiệp bất độ. Vì nếu độ được là mỗi khi có dấu hiệu bị đọa là cứu ngay; nhưng than ôi! định nghiệp đã kết tội địa ngục sâu dày đó, giờ nhắm mắt Đức Phật cũng đành phải chịu. Vì khi nói người ta có tin đâu, bởi những cái chết đã khuất đi, kể cả những người hôm nay sống, ngày mai chết đi thì cái khuất ấy không biết là gì cả. Tức hoặc lậu là sự che khuất của hệ thống vật lý và tâm lý, chính họ chưa chiến thắng được vạn nghiệp thì tính chất giá trị bất lậu của đời sống siêu vô vẫn còn là hư vô đối với chúng sinh. Chết chúng ta tạm nói về bên kia, hoặc bên trên hoặc vô cùng đều có giá trị thực của nó. Biện chứng cho giá trị đó Đức Như Lai nói: “ Nếu ngươi không quan tâm thì ta không nói tâm ngươi bất thường hoặc nếu ngươi không có hạnh nguyện hay quy trình hướng thượng thì ta không nói hướng thượng làm gì”. Như vậy, hoàn toàn là có, mặc dù tâm chúng ta bất thường và ý biến động. Đức Phật nói “ hoàn toàn thân ngươi chưa tan biến, còn nguyên hệ thống lập thể nhưng mà tâm ngươi đã biến động dữ dội, vậy ngươi có thấy điều đó hay không?” Thì ngài Xá Lợi Phất nói “ Thưa ngài, thân con còn nguyên vẹn thế này mà tâm con thì đã bời bời nát vụn. Ngài ơi! lập thể của con còn sao tâm con nát vụn?” Vậy hai cái không giống nhau, lập thể là hệ thống vật lý, con tâm là dòng nghiệp của ánh sáng, vì ý thức phân biến, biến động, chính ý thức biến động làm nát cả hệ thống hạt tâm lý tính. Nó không cưu mang ánh sáng vinh quang của sự nghiệp, mà lại cưu mang những dòng nghiệp từ ý thức biến ra rồi đổ xuống đầu nó. Những thứ đó là sẽ không khuất đi, là tâm của ta và ý niệm của ta đó, nó sẽ không khuất đi và mãi mãi trường lưu trong vũ trụ, thì những thứ đó đã bị trói rồi. Còn cái bị khuất đi thì biến thành tro bụi, đó là phần lập thể, tức ta đã trả về cho đại thể rồi.
Như vậy, khi giác ngộ được chỗ này thì chúng ta vô cùng sợ sệt, không phải vì sợ mất hệ thống lập thể mà là sợ mất hạt tâm lý tính và ánh sáng tri thức ta không đóng vai trò hướng thượng mà lại biến động trong đời sống làm cho thực tướng giảm đi.
Đây là bài học giải quyết và thanh lý tâm pháp, thanh lý thật kỹ để đời sống được thanh bạch, được nhẹ nhàng hơn như những chất liệu mây trắng được bay khắp trong bầu trời xanh và luôn luôn hưởng thụ ánh sáng trong lành.
Con người nhiều thứ bệnh nên phải có nhiều phương than để chữa bệnh. Đối với chúng ta là người công luật là phải chuyên môn hóa pháp môn trong hệ thống cửu kinh minh triết. Phải lấy 3 tạng kinh cơ bản của Đức Phật Thích Ca để làm trường lớp, nền tảng thăng hoa cho sức mạnh của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh. Duy ngã có thành tựu chân ngã, thì 3 tạng kinh là chất liệu bổ dưỡng nhất để nuôi dưỡng duy ngã và duy ngã đủ điều kiện hóa thân. Ba tạng kinh rất quan trọng trong trường lớp tiến hóa mà Như Lai đã chế biến chẳng hạn như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Thất Giác Bồ Đề, Bát Chánh Đạo,…Đó là những phương than trị liệu về các bệnh nghiệp của tâm pháp rất nghiêm trọng đối với thế giới dục giới và các thế giới thấp hơn.
Như vậy, hoàn toàn có thật đối với đời sống kho tàng tam tạng kinh mà Đức Thích Ca đã chế biến ra các phương than. Đức Phật nói “bệnh phát sinh từ tâm là bệnh do các hoặc lậu và hoặc lậu có liên quan hệ thống lập thể, nghĩa là bệnh luôn gắn kết giữa thân và tâm. Đức Như Lai trị liệu bệnh tâm cũng là trị liệu bệnh gốc của thân pháp. Như vậy Đức Như Lai đưa ra hai phương pháp trị liệu đó đều có những nguyên tắc của nó, vì gốc bệnh tâm sinh ra bệnh thân. Khi trị liệu được tâm bệnh thì thân bệnh cũng sẽ giảm đi. Như người có tâm lý khỏe thì sinh lý khỏe; người có tâm vững chắc, ổn định, mạnh mẽ thì có một đời sống rất khỏe mạnh. Ngược lại nếu tâm biến động phiền não thì thân liền mệt mỏi, bệnh hoạn. Vậy tâm thể và hình thể luôn luôn gắn liền với nhau. Vì khi phiền não càng nhiều thì bệnh hoạn càng tăng và già lão càng mau chóng. Vậy phiền não là mối chốt của bệnh lão. Nhưng nếu ta dứt trừ được các ý thức biến động và dứt trừ được những mối nghi đã từng cưu mang thì sẽ được nhẹ nhàng thanh thản. Vậy tâm an mà Như Lai muốn nói hoàn toàn có tính hóa trị để được cứu trị và cứu trị để được bình an tốt nhất trong đời sống của chúng ta./.

Ý THỨC KIẾN CHẤP TRONG HỆ THỐNG PHÁP VÀ PHÁP HÓA TRONG HỆ THỨC KIẾN CHẤP
Chúng ta xác định kiến chấp là không thuộc về thực tướng, vì kiến chấp là thuộc về tư tưởng và ý thức vọng động.
Con người mắc bệnh kiến chấp là vì chưa giác ngộ được chân lý, chưa thấy rõ được tính ánh sáng vô cùng. Nên con người còn theo các pháp hữu lậu, các pháp hữu vi nên sinh ra nhiều kiến chấp. Đó là chấp ngã và chấp pháp.
Nếu con người sinh ra nhiều kiến chấp như vậy thì sẽ không bao giờ trở về thực tướng được. Một khi chúng ta phóng thức lao ra ngoài và nhập các hình tướng bên ngoài làm thực, thì chính ta đã tự đánh mất cái thực của chính mình. Như vậy, nếu phát sinh ý thức kiến chấp thì sẽ dẫn đến cơ nguy là đánh mất bản thể.
Trên con đường tu học một khi chúng ta chưa đoạn lìa được bản ngã, thì mức độ kiến chấp còn phát sinh về bản ngã. Ví dụ như kiến chấp thân thể của ta, nhà của ta, chồng, vợ, con cái là của ta và của cải vật chất mọi thứ là của ta. Nhưng khi các pháp ấy biến đổi thì hoàn toàn cái thực thể của ta không còn nữa, thì tất cả những kiến chấp đó đều trở thành vô nghĩa. Ngay cả sự kiến chấp về sai và đúng, xấu và tốt giữa mình và người khác cũng không có thực tướng. Thì tất cả những sự kiến chấp đó không có giá trị giải thoát mà lại trở thành rào cản và đóng khung với ý thức và khó có thể hóa thân trong chân tính được.
Nên các Phật nói rằng: Hãy dẹp bỏ tất cả mọi kiến chấp đối với người, đối với mình thì may ra mới có được sự giải thoát. Về kiến chấp sinh ra thù hận, sinh ra chia rẽ, sinh ra phân biệt và sinh ra sụp đổ tính chân lý. Vậy kiến chấp là cơ nguy đánh đổ và mất đi tất cả giá trị thực tướng của chính ta.
Trên con đường tu học một khi chúng ta đạt được giá trị chân thức thì mọi kiến chấp không còn có trong chân thức đó.Vậy, kiến chấp nó thuộc về rác rưởi bên ngoài; nó không thuộc về tinh hoa, nó luôn tạo thành mọi sự nặng nề và xung đột của ý thức.
Bản chất của các pháp trên thế gian là luôn luôn quay cuồng và đảo lộn, hoàn toàn không có thực tướng. Vì nó là hệ thống lập thể mà con người mượn tạm nó trong ba mươi năm, năm mươi năm hay một trăm năm chẳng hạn. Rồi tất cả những thứ lập thể đó đều phải bỏ hết.
Như vậy, nếu đem ý thức mà kiến chấp về hệ thống lập thể của thọ gĩa tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng và nặng nhất là ngã tướng thì rất là nguy hiểm, khó có thể thăng hoa và hóa được chân thức để thành tựu chân tâm.
Một khi con người yếu ớt về sức mạnh của tu chính và thanh lọc hóa tâm pháp, thì bị giòng nghiệp chuyển động cực mạnh làm cho con người đó chới với trong cõi thế gian này. Từ đó mới phát sinh ra mê tín, tin vào những điều không có thực, là cậy nhờ vào thần linh hoặc cậy nhờ vào các thân trung ấm, cô hồn các bác, ông lên bà xuống…Thì những sự tin cậy ấy hoàn toàn đã đánh mất thực tướng không thể giúp gì được cho chúng. Mà chúng phải tin rằng: mình trở về tu chính bằng ánh sáng minh triết kinh điển để tinh lọc bản thể và thành tựu chân tâm. Nếu có gốc đức tin là tin đấng Thống Hóa, tin mười phương Như Lai, tin Quán Thế Âm, là nguồn ánh sáng vô cùng thì may ra còn có thể nương tựa được.
Nếu tham lam những điều không thực tướng thì chính ta tự đánh mất bản thể, thì cái tham ấy hoàn toàn sẽ sụp đổ. Nếu si mê những điều không thực tướng là chính ta dối trá chính ta. Những cơn nóng giận mà không có chính khí thì nó sẽ tiêu hủy cả âm phúc chúng ta.


CÁC PHÁP BẤT NGHĨA,
CHÍNH NGHĨA BẤT LƯU NHẬP
Con người khi giác ngộ được luật sinh tử, là biết được đường nào rồi cũng phải chết. Nên họ trông cho có một điểm son vàng để được chết trong lúc đó. Như cái chết của Thích Quảng Đức, hoặc cái chết vì bảo hộ chính pháp quên thân, hay cái chết vì một sự nghiệp chính nghĩa. Thì cái chết đó cũng giống như mình được nhập kho vàng vậy.
Nếu tự nhiên mà chết thì không dại gì chết, nhưng nếu có một sự cố vì cứu giá, cứu chúa, cứu Phật, hoặc cứu cha cứu mẹ, hay vì anh em đại cuộc đang gặp nguy khốn thì chúng ta không bao giờ bỏ, mà lại nhảy vô để cứu giúp. Thì lúc đó là lúc hồi lưu.
Còn ngược lại là khi bình sanh vinh hiển thì cùng nhau tụ lại ở, mà khi có sự cố biến động thì lại bỏ nhau rất dễ dàng.
Nên trong kinh nói: Muốn xác định được chân trung một cánh triệt để thì khi: “Đạo loạn kiến chân tăng, quốc loạn kiến trung thần, gia bần tri hiếu tử, đạo bần tri hiếu tăng”. Đó là những định luật của đời và đạo luôn luôn là một cặp bộ như vậy.
Hôm nay chúng ta về được Bia Sơn thì gần như là chúng ta đã về trên đỉnh cao của ánh sáng, cũng là chứng minh được sự kết tinh về chính nghĩa của chủ thể, chính nghĩa của nhân kiệt và chính nghĩa của các bậc hiền tôn.
Đã là lịch sử thì nó phải có thăng có trầm, có tốt có xấu, có suy có vượng và có những sự trắc ẩn nhất định của lịch sử. Thì lịch sử Hồng Ân chúng ta cũng có như vậy. Nói chung về lịch sử là luôn gắn liền với giá trị sống và sự sống chuyển động thì luôn luôn thể hiện có hai mặt tốt và xấu, lành và dữ, mặt trung và mặt bất trung. Trong một triều đại nào cũng có một tỷ lệ nhất định như vậy; ngay cả triều đại ông Thuấn cũng có một số ít người nghịch thần và trong thời kỳ Hồng Ân Công Luật ra đời cũng phải có những sự trái nghịch đó. Tôi mong rằng toàn thể dòng Chơn cùng hàng Ni tử, gọi chung là hàng Thiên Sứ Thần Đức; khi chúng ta ra đời thì đường nào cũng phải bỏ lập thể này để đi trở về với nguyên lý ánh sáng tột cùng của chúng ta, vì biết chắc như vậy nên chúng ta đừng bao giờ bỏ nhau khi có biến loạn, như vậy mới thể hiện được tính bất biến về giá trị chân tu của chúng ta.
Trong đời sống bình yên khi không có gì xảy ra thì chúng ta chưa thấy được ai bỏ ai, nhưng khi có biến cố thì chúng ta mới thấy rõ là con bỏ cha, anh bỏ em… Vì chúng ta bị nghiêng lệch về nhân tướng quá nặng, vì chúng ta chưa vượt qua được bản ngã bình thường của đời sống, nên chúng ta có thể trở thành bất trung và bất nghĩa chỗ này. Khi phàm mà bất nghĩa thì nhất định là bất hồi lưu. Vì sao? Vì chính nghĩa vạn lưu nhập mà bất nghĩa bất hồi lưu. Bởi khi ta đã bất nghĩa thì dù thân mạng chúng ta có sống trên đời này đi nữa thì cũng không có được sự hồi lưu đó. Sự sống đó rồi cũng tan biến theo thời gian và không gian, phải chịu thăng trầm chìm đắm trong ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
Chúng ta phải thấy rằng cái chết được vinh hiển nhất là khi chúng ta độ thế quên thân, tức là chúng ta hiến dâng thân mệnh đi vào chính nghiệp, chính mệnh cho sự nghiệp Công Luật vũ trụ và 10 phương Như Lai, cho ánh sáng của Quan Thế Âm thì lúc đó chúng ta mới thực sự được giải thoát.
Ngày hôm nay, chúng ta có được quả núi này cũng do 10 phương Như Lai cho, cũng do ánh sáng tuyệt đối của Quan Thế Âm Bồ Tát đã dựng lên. Cho nên trước đây 30 năm Ngài đã tiên tri cho chúng ta là “Sao mai tỏ mọc dựng Thiền Môn” thì ngày hôm nay đã rõ bày. Vậy, Bia Sơn là do Quan Thế Âm và 10 phương Như Lai dựng lên chứ không phải bởi Ngài Ngọc Đảnh dựng lên. Vậy đức Quan Thế Âm dựng lên để thực hiện sự nghiệp Công Luật đại hóa, để thực hiện sự nghiệp phá hoang lập nguyên. Nên đòi hỏi tính chân trung của toàn thể dòng Chơn và hàng Thiên nữ phải mang tính triệt để. Dù bất cứ ở một hoàn cảnh và sự cố nào thì trái tim chúng ta sẽ không bao giờ thay đổi. Chúng ta nguyện hiến dâng và hy sinh đúng lúc, đúng mức nhất ở trong những hoàn cảnh ấy thì chúng ta mới có thể đắc đạo. Còn đối với những ai trốn chạy và bất nghĩa thì họ chỉ sống được với xác thịt còn phần tâm linh thì họ đã chết rồi. Vì bất nghĩa là ta đã làm chết cái chân lý của ánh sáng chính nghĩa, ta làm chết những giá trị của trái tim cứu thế.
Chúng ta hèn nhát và khiếp sợ trước những sự vô thường của chúng sinh ma quỷ nên mất đi tính úy thí, mất tính uy linh và mất thần lực. Vì vậy nên chúng ta phải thấy rằng thân mạng này ta không dại gì chết, nhưng ta khôn ngoan với cái chết khi cần chết để ta được siêu hóa. Nếu chết vì sự cứu độ anh em, cứu độ bào tộc tứ chúng thì dù cho có chết 100 thân này đi nữa chúng ta cũng sẽ được nhân lên hàng ngàn lần đối với thân khác.
Các pháp bất nghĩa bất hồi lưu, các pháp chính nghĩa vạn lưu nhập. Vậy chúng ta hãy thực hiện các pháp chính nghĩa để được vạn lưu nhập và không bị phân biến trong quá trình chuyển động và hình thành tinh hoa để hồi nhập trở về với chân tính. Để được sống và không còn bị mắc kẹt trong các pháp biến đổi vô thường và ân hận đó.
Hôm nay, chúng ta phải học lầu, học thuộc về kinh Nhiệm Thức Pháp. Là ý thức và trách nhiệm đối với sự nghiệp Công Luật cao nhất, ý thức và trách nhiệm đối với toàn thể sự sống cộng đồng trong đại thể là cao nhất, ý thức trách nhiệm trong sự cứu độ và tu học, là không để cho các pháp bất nghĩa làm xói mòn tri thức ánh sáng của chúng ta. Đó là kinh Nhiệm Thức Pháp mà chúng ta cần thuộc lòng.
Hôm nay, chúng ta đã đi vào học cửu kinh minh triết thì chúng ta phải thấy sự khôn lớn của chúng ta so với 3 năm, 5 năm, 7 năm hoặc 10 năm về trước. Đối với tổ đình Bia Sơn là một trong những cơ dựng võ lớn nhất và quan trọng nhất hơn hẳn những ngày tháng mà chúng ta khai đạo ở bên con sông Đà. Chúng ta phải biết lấy những tấm gương đàng trước để nối bước đàng sau, để tiếp tục tinh nhuệ giá trị Công Luật và làm tăng trưởng sức mạnh chính nghĩa để tránh khỏi những điều bất nghĩa đối với tinh thần chung cũng như đối với tinh thần riêng. Vì các pháp chính nghĩa sẽ là sức mạnh để hồi trả lại và nhập sâu vào lý tính để kết tinh và giữ được tinh hoa, đó là sự sống cao nhất của chúng ta.

GIẢNG NGHĨA PHẬT PHÁP TĂNG
Hôm nay chúng ta xác định về cái lõi của Phật Pháp Tăng để chúng ta thấy được hình tượng của Phật Pháp Tăng qua cái lõi đó, nếu không thì chúng ta sẽ bị vướng vào Phật Pháp Tăng lập ngoại.
Nói về Pháp Tăng thì liên quan đến Phật. Phật nếu dịch ra về nguyên bản của hóa là tinh đởm tinh hoa xá lợi phất, còn gọi là ngọc. Vì nếu không thuộc về kết tinh tinh hoa của ngọc thì làm sao gọi là Phật. Nên chữ Phật là sự kết tinh tinh hoa của ngọc, nên gọi là ngọc xá lợi phất. Định nghĩa về tính biện chứng của Phật thì xá lợi là bản vị của ngọc, vậy Phật là hồi lưu bản vị của Ngọc. Về siêu chứng pháp của Phật: Chữ Phật còn có nghĩa sâu sắc là vạn năng; Tức là năng động của sức mạnh lớn nhất để kết tinh tinh hoa chân tâm; Là vượt trên mọi địa vị để đạt được chính vị cao nhất đó. Như vậy Phật là mang tính hồi lưu, mang tính kết tinh, mang tính chuyển động tổng thể tinh hoa về não để kết cứng về ngọc xá lợi và cũng nhân ngọc xá lợi đó mà có Phật. Đó là thực hiện công trình phản bản hoàn nguyên, mà sự phản bản hoàn nguyên được cụ thể nhất là sự kết cứng ngọc xá lợi trên não bộ của hệ thống lập thể, nên khi hỏa táng ra thì thấy hàng vạn viên ngọc trong đó. Thì chính khối ngọc viên trên não bộ của Phật, đó là xá lợi phất. Về xá lợi phất thì Phật cũng đặt ra một vị Bồ Tát Xá Lợi Phất để đại diện cho các loại ngọc quý nhất trong đời sống của Như lai. Vậy là có liên quan đến pháp tăng nội cốt.
Thường thường là chúng ta hiểu pháp là mặt bằng của hóa pháp, tăng là mặt bằng của hành giả, thì đó không thuộc về cốt lõi của pháp tăng. Vậy pháp tăng về kinh điển minh triết hóa thì như thế nào là tăng? Tăng là hạt tâm tăng tính hóa lập thể; đó là cái mối chốt quan trọng nhất của vạn loại. Vì nếu phần hạt tâm mà không tăng tính thì không hóa được các lập thể khác biệt về cao thấp và các hình tri khác nhau về các loài. Bây giờ lập thể huân tập để tăng pháp tính. Đó là hạt tâm tăng tính hóa lập thể và ngược lại lập thể huân tập để tăng pháp tính. Như vậy chữ tăng và pháp luôn luôn dính liền với nhau trong trục hóa pháp giữa tính và thể, tâm và vật, chính đó là mối chốt của tăng và pháp.
Nếu chúng ta chạy ra ngoài để tìm tăng và pháp thì chỉ có cái vỏ mà thôi. Nhưng tại sao lại đa số phật tử hiện nay cứ chạy ra ngoài tìm tăng và pháp, kể cả các ông Hành giả được gọi là tăng ấy cũng chạy ra ngoài, chạy từng đoàn, từng đoàn và cả những đạo tràng khổng lồ cũng đều chạy như vậy; và đã chạy suốt cả nghìn năm và nhiều nghìn năm cũng không có tăng và pháp. Như vậy nếu học trò Công Luật mà không hiểu được mối chốt này thì cũng tiếp tục chạy như thế để tìm tăng và pháp. Nhưng cuối cùng không có tăng và pháp mà lại bị triệt tiêu tăng và pháp.
Như Lai nhân ở cốt lõi về tăng và pháp, thiết lập hình thể tăng và pháp để tri kiến cốt lõi tăng và pháp và hình thành mối chốt tăng và pháp để hóa tăng và pháp thành Phật. Như vậy sự nghiệp chúng ta đang đi vào nội cốt của tăng và pháp và thực hiện những công trình huân tập pháp hóa lý tính và thành tựu hạt tâm lý tính trong giá trị tăng và pháp ấy để trọn vẹn giá trị sự nghiệp về tăng và pháp đối với chân tính. Vậy tăng và pháp không ly chân tính và chân tính hoàn toàn chiếm lĩnh tăng và pháp. Khi qua quá trình hạt già đi thì tất cả mọi hạt đều có thể gieo khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Như vậy hạt của Tăng Già được gieo ở đâu? Được gieo ở bất cứ nơi nào có mặt bằng của duy ngã đại thể là hạt Tăng Già có thể gieo, mà nhất là hạt Tăng Già của tứ quả thánh, của Bích chi và đại Bồ Tát. Nên những hạt Tăng Già trong giá trị hóa về hệ thống lập thể nhân bản có tính vững chải hơn là các hạt Tăng Già của các loài còn yếu ớt ở trong cảm thọ. Như vậy hạt tâm nếu không tăng pháp tính thì các hệ thống hóa lập thể sẽ y cứ trên không tăng ấy mà mang hình thể nhất định và không biến đổi. Ví dụ như con cá sấu không tăng pháp tính thì đời đời con cá sấu vẫn mang thân con cá sấu. Hoặc nếu con sư tử không tăng pháp tính hóa của giá trị hạt tâm thì con sư tử đời đời sẽ mang thân con sư tử và tất cả các loài cũng như thế, nếu các loài không tăng pháp tính về hạt tâm thì cũng đời đời mang hình lập thể ấy và không thay đổi các hình lập thể ấy.
Như vậy sở dĩ tăng pháp tính của giá trị phức tạp, thì hình thể cũng nhân đó mà phát triển tăng tiến và đi đến tiến hóa giá trị hóa của các lập thể khác biệt thành các lập thể đẹp hơn và có tính đôn hậu hơn, uy nghiêm và lộng lẫy hơn, là do tăng tính hóa phần lập thể và lập thể huân tập để kết tinh về giá trị hóa của tăng tính cho nên lộng lẫy trong vô lượng pháp.
Như vậy chúng ta có liên quan đến các sự hỗ trợ của tăng tính đối với các loài đã phụng sự và thực hiện giá trị Công Luật hóa trong đời sống của các hệ thống lập thể, bèn làm những công năng giá trị sinh thái hóa và được đôn hậu trong giá trị tăng tính và hệ thống lập thể cũng bắt đầu chuyển động từ đó mà tiến lên duy ngã đại thể.
Mối chốt của tăng, đức Như Lai không chia phân giá trị tăng ở giai cấp nào, mà đức Như Lai nói là: tế tế tăng, vi tế tăng, nhân tế tăng; tức là cực vi tăng và đi đến cực đại tăng của giá trị thượng tầng, trung tầng và hạ tầng đều tăng cả nếu nó biết quay đầu trở về cốt lõi của mối chốt hạt tâm thì nó được tăng trọng giá trị bình đẳng như nhau.
Bài học hôm nay để chúng ta không còn rơi rớt vào hệ thống tướng pháp của pháp tăng và bị kẹt ở pháp tăng này. Mà chúng ta đã quay ngược 180 độ về trục để hóa pháp tăng và hình thành pháp thể.
Tôi xin nhắc lại tất cả những đạo tràng không quay về mối chốt của cốt lõi pháp tăng mà tiếp tục dong ruỗi và cố chấp hình tướng pháp tăng thì đi suốt ba nghìn năm cũng chưa có pháp tăng; vậy thì hãy mau mau quay về cốt lõi của pháp tăng để hóa pháp tăng và hình thành cơ bản vững chắc giá trị pháp tăng của thực tướng.
Sự quy y Phật Pháp Tăng đầu tiên là mượn hình lập để quy y, mượn sắc tướng để quy y, những giá trị hóa của sự nghiệp chuyển động và hình thành Phật pháp tăng trong hệ thống lập thể để quy y. Nhưng sau khi y cứ thì quy y là trở về với giá trị thường trực để quy y chính mình thì lúc bấy giờ mình mới tròn đủ Phật Pháp Tăng.
Như Lai nói: nếu ai quy y được như vậy thì cha và con đồng pháp tính mà đồng pháp tính thì sẽ mãi mãi ở với nhau trong tam thiên đại thiên thế giới, và có thể là mãi mãi ở trong đồng quả vị và thành lập đồng quả vị ở trong các đại hội cao tầng của những ngôi sao kinh điển.
Như Lai thành lập ba ngôi là hoàn toàn Như Lai đã thể hiện tính công suất hóa của giá trị Thống hóa, tức là thống thức chân quang trung tâm vạn năng và oai âm dương vạn tỏa. Lấy chỗ trục lập ba ngôi, lấy chỗ hiệp thông của giá trị tính và thể để lập ba ngôi. Thì đây là vấn đề quan trọng nhất mà Như Lai đã lập ba ngôi.
Như vậy minh triết đã làm sáng tỏ và chúng ta hoàn toàn không còn hư dối, thì con đường chúng ta đi đến thực tướng có thể nói là rất dễ dàng. Khi chúng ta hiểu được lý tất yếu đó rồi nếu còn yếu thì mạnh lên; mà đã mạnh thì càng mạnh vĩ đại hơn nữa để chúng ta vượt trùng đi đến chỗ mục đích cao nhất đó. Chữ tăng ấy là chủ thể của đại thể, là chủ thể của pháp giới, là chủ thể của vũ trụ quan và nhân sinh quan. Chữ tăng còn ở khắp cùng trong các loài, vì chúng sinh cùng các loài đều có sự tăng trưởng. Như vậy chữ tăng ấy đã ở trong tất cả mọi chiều hướng của giá trị hóa, chứ không phải chữ tăng ấy chỉ ở trong một đạo tràng nào, hoặc một hình tướng nào. Thí dụ một người tu theo đạo thiêng chúa giáo thì tăng trưởng theo giáo pháp đó; còn người tu xuất gia theo phật giáo thì tăng trưởng theo pháp tu đó, hoặc tu tại gia thì cũng tăng trưởng theo kiểu tu tại gia. Vậy là tất cả đều cùng nhau để mà tăng và thực hiện một công trình tăng trưởng theo giá trị hóa của vạn pháp tức là bình đẳng hóa tăng pháp và thực hiện công trình tăng pháp đại thể.
Như vậy hôm nay chúng ta không còn bị gượng ép về Phật pháp tăng của hệ thống lập thể và không còn kẹt trong hình tướng của Phật pháp tăng mà chúng ta diệu nghĩa hóa về Phật pháp tăng, thực nghĩa hóa về Phật pháp tăng và ngộ nhập giá trị chân tính hóa của Phật pháp tăng, thì lúc bấy giờ chúng ta mới trở về với thực tướng Phật pháp tăng của chính ta.
Diệu nghĩa của tăng là rất khách quan ở giá trị tăng trong mọi điều kiện và hoàn cảnh của chúng sinh, hoặc là tính khách quan của các loài được tăng tùy theo mức độ giá trị hóa của các loài. Nên Như Lai rất tôn trọng về sự hóa của các loài, Ngài nói: các loài cực vi hóa, trong đời sống chúng ta không nên dẫm đạp nó vì nó cũng có sức tăng độ của giá trị hóa. Như vậy hoan hô Đức Thích Ca Mâu Ni là đấng thống thái vô cùng vĩ đại của chúng ta. Vì Đức Thích Ca Mâu Ni Ngài không nói một lời nào mang tính độc đoán và áp đặt đối với nhân sinh. Ngài không nói: nếu ngươi tin ta thì được giải thoát cùng ta, nếu ngươi không tin ta thì sẽ rơi vào địa ngục. Nhưng Ngài lại nói: nếu ngươi tin ta mà không làm giống như chư Phật thì ngươi sẽ rơi vào địa ngục. Nếu ngươi không tin ta mà ngươi làm giống như chư Phật thì ngươi sẽ được lên thiên đàng. Ngài không áp đặt về chữ ta đối với giá trị hóa giữa ta và chúng sinh, giữa chúng sinh và ta. Hoàn toàn Ngài có một tinh thần bình đẳng về giá trị hóa ấy và được rung động ở trong sự nghiệp chung của vũ trụ và nhân sinh.

CÔNG CUỘC CHUYỂN TRẠNG
Hệ thống lập thể là biện chứng pháp, là mặt bằng chuyển trạng. Nên tuần hoàn gồm có 2 vấn đề là tuần hoàn âm dương và chuyển trạng lập thể. Chuyển trạng là những trạng thái chuyển hóa luôn luôn có 2 mặt: thứ nhất là chuyển trạng nội lập kết tinh hạt tâm; thứ hai là chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức.
Nghĩa của ngoại hối tức hoàn toàn là bỏ gốc, hối thúc bởi nghiệp thức, bị phân hóa các hệ thống lập và hình thành phân biến hệ thống lập nên gọi là ngoại hối.
Chuyển trạng là một trong những vế lớn thuộc phần kinh Tuần Hoàn. Chẳng hạn như vận luật chuyển trạng, vật chất chuyển trạng, tâm pháp chuyển trạng,…Như tất cả những trạng thái thay đổi ấy đều gọi là chuyển trạng cả.
Về công cuộc chuyển trạng của thế giới quan đối với công luật vũ trụ thì lấy duy ngã đại thể làm biểu trưng cho sự chuyển trạng, vì nó liên quan đến ý thức và hạt tâm tròn đủ. Như vậy chuyển trạng có hai mặt lập tính và lập thể. Về hệ thống lập tính là siêu tinh hoa hóa chuyển trạng về tinh hoa hóa và tinh hoa hóa chuyển trạng về siêu tinh hoa hóa.
Công cuộc chuyển trạng ở đây là tổng thể hóa của mặt bằng đối với duy ngã đại thể trong hệ thống tính và thể tương tác chuyển trạng và thành lập hệ thống chuyển trạng tùy theo mức độ của các loại nhân quả khác biệt giữa tốt và xấu, đều căn cứ trên đó mà chuyển trạng và không lệch trong hệ thống ấy. Ví dụ chúng ta thống nhất một ý niệm, một tư tưởng, một sức mạnh để đi vào sự chuyển trạng thì chúng ta chuyển trạng hệ thống hạt tâm về chỗ duy nhất, thì hệ thống kết tinh tinh hoa về chỗ duy nhất. Nhưng nếu chúng ta buông xuôi nó thì nó vẫn chuyển trạng nhưng chuyển trạng theo ngoại hối, là bị nghiệp lực hối thúc chạy rong ra ngoài và làm phân ly tâm thức.
Như vậy, an vui và khổ đau đều trực thuộc vào 2 chiều chuyển trạng này. Thì chuyển trạng hóa sinh tử tế bào và các phân tử tế bào luôn luôn nằm trong định luật chuyển trạng và sinh tử tương tục bất tận ở trong hệ thống tế bào ấy. Vì không có tế bào nào sinh mà không có diệt và không có tế bào nào diệt mà không có sinh. Chuyển trạng lập thể sinh diệt tương tục vô tận đối với hệ thống tế bào và hệ thống lập thể đại thể duy ngã. Chúng ta có thể tính về giá trị chuyển trạng của sinh diệt tương tục từng giây và tính đến tháng, đến năm và tính đến thập kỷ, thế kỷ, thiên niên kỷ và không có đầu mối của thiên niên kỷ thì định luật chuyển trạng ấy vẫn không thay đổi.
Ngài hỏi ông Chơn Ngọc Biện Hộ, công cuộc chuyển trạng của hệ thống có đi vào sự nghiệp của Công Luật vũ trụ không?
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa cha, nói về công cuộc chuyển trạng của thế giới quan là chuyển trạng trong tính Công Luật; định luật, quy luật tất yếu của vận luật tuần hoàn chu kinh. Vì các hệ thống lập thể là sinh diệt tương tục vô tận mà không chấm dứt thì đó là mang tính chuyển trạng khách quan nhằm để chuyển hóa tinh hoa và đưa tinh hoa về gốc.
Như chuyển trạng nội lập kết tinh hạt tâm, tức là hạt tâm lý tính điều động hệ thống lập thể của não bộ thần kinh quỹ tích để hoạt động theo mục đích là kết tinh tinh hoa hạt tâm.
Trong công cuộc chuyển trạng này thì luôn luôn có hai phần tính và thể tương tác bất đoạn trong tính khách quan và chủ quan rất rõ ràng. Đối với tính khách quan của công luật vũ trụ, thì công luật chuyển trạng theo vận luật tuần hoàn chu kinh là chuyển trạng để kết tinh và chuyển trạng để đào thải. Nếu chúng ta vận dụng tính ánh sáng hạt tâm để thực hiện công cuộc chuyển trạng theo định luật, theo mục đích tiến hóa, là lập nội thì sẽ được thăng hoa và kết tinh. Còn ngược lại thì chúng ta sẽ bị mọi khủng bố điên đảo làm phân ly tâm thức.
Ngài dạy, chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức thì chữ hối nó đã trở thành định luật và sức mạnh của nghiệp nó sẽ biến đổi chúng ta về phần nội. Nhưng khi chúng ta giác ngộ thì chữ hối còn có nghĩa ngược lại là sám hối. Như vậy phần chuyển trạng luôn luôn có hai mặt, mặt hội tụ và mặt phân ly, mặt kết tinh và mặt tan rã đào thải. Đó là mặt sinh và mặt tử, mặt nội và mặt ngoại, mặt trong và mặt ngoài, mặt gốc và mặt ngọn, mặt trên và mặt dưới, mặt nào cũng điều hợp giá trị tùy theo mức độ hạt tâm và tinh thần giác ngộ để chuyển trạng. Như vậy khách quan là chuyển trạng theo định luật, mà chủ quan thì nhân định luật phát triển ánh sáng để chuyển trạng về lập nội kết tinh hạt tâm.
Chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức là chuyển trạng của khủng bố, của điên đảo, là chuyển trạng của những sự chuẩn bị lo âu về tất cả những mất mát. Tâm thức lúc bấy giờ không còn ở điểm tụ và kết tinh nữa mà nó bị phân giải nên phát sinh ra sự sợ sệt rất khủng khiếp, bởi các sự cướp lấy của quỷ vô thường và hoàn toàn họ không còn một thứ gì trên cõi đời này nữa.
Chuyển trạng lập nội kết tinh hạt tâm là đã trở về làm chủ hạt tâm, thấy các pháp bên ngoài là cái vỏ, nên mọi sự khủng bố đều không có. Nếu có chết thì cũng rất bình tĩnh và không hề sợ hãi.
Như Đức Đạt Ma cũng là một hình thức chuyển trạng lập nội. Khi Ngài ra đi để lại một chiếc giày làm ấn tích, còn một chiếc thì mang theo. Khi gặp học trò hỏi Ngài đi đâu, thì Ngài nói ta về Tây Phương, thì đó là chuyển trạng lập nội kết tinh chân tâm, là trở về nguồn gốc, là trở về nội lý, là chỗ kiến tính, là chỗ siêu thể và Ngài hoàn toàn không còn ở đơn vị lập ngoại nữa, mà Ngài đã về trong đơn vị lập nội một cách bất biến thể đối với hạt tâm lý tính. Và hạt tâm lý tính hoàn toàn làm chủ hết mọi sự chuyển trạng và thành lập được sự nghiệp chuyển trạng trong hệ thống nội lập.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói tiếp: Thưa cha, nói về mặt bằng của thế giới nhị nguyên là luôn luôn có những sự khủng bố về mặt chuyển trạng khách quan, thí dụ sinh lão bệnh tử cũng là định luật chuyển trạng khách quan và rất là khủng bố. Vì nếu chúng ta không trở về chuyển trạng lập nội để kết tinh hạt tâm thì chúng ta sẽ bị khủng bố bởi định luật ấy.
Về chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức của cộng đồng chúng sinh quá lớn đã tạo ra những cuộc chiến tranh và có thể dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ bùng nổ. Thì hệ quả đó rất khủng khiếp mà chúng ta không thể nào lường được. Nhưng nếu chúng ta không chuẩn bị một tinh thần chuyển trạng nội lập là trở về làm chủ hạt tâm thì nhất định chúng ta cũng sẽ bị khủng bố ngay trong tính chuyển trạng khách quan ấy.
Ngài dạy, như vậy đa số là khi một cuộc bùng nổ nào đó thì chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức lại nhiều hơn là chuyển trạng lập nội kết tinh tâm pháp. Nếu chúng ta dùng con mắt thịt để thấy là thấy chuyển trạng đơn giản của phân tử, sinh tử, hoặc chuyển trạng của một nhà y học, người ta nghiên cứu về sự biến đổi về các tế bào gen và không còn đúc kết trong quy trình sinh nữa mà lại bị rã rời trong hệ thống gen ấy. Nhưng họ lại không thấy được sự chuyển trạng lập nội kết tinh tinh hoa tâm pháp. Đây là chiều mà các nhà khoa học bị bí lối về sự chuyển trạng này. Đó là chiều chuyển trạng của kiến tính và thành đạt sức mạnh của kiến tính. Nghĩa là kiến tính trong giá trị đặc biệt của các sự thấy và biết khác.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa cha, đây là một đề tài mang tính chất sư phạm của hàm giáo sư. Bởi vì trong công cuộc đại hóa của Thống Hóa vũ trụ đó là tính ánh sáng tự chiếu vô biên và thể hoành tác sinh diệt tương tục vô tận, nó hoàn toàn nằm trong chủ tính chuyển động của Thống Hóa. Từ phạm trù của tính ánh sáng tự chiếu ấy đó là nguồn gốc của sự chuyển trạng rồi. Vậy về mặt trạng nhị nguyên phải có một sự chuyển động để kết tinh tinh hoa đó là tính tất yếu khách quan của Thống Hóa vũ trụ không thể khác hơn được. Trong sự nghiệp đại hóa của Thống Hóa vũ trụ, đó là tự tính của tình thương yêu vô hạn mới có nguồn gốc của sự chuyển trạng.
Về tính khách quan chuyển trạng của Thống Hóa 10 phương đó là tính tất yếu. Về tính tích cực chuyển trạng của tính khách quan thì thấy rằng có định luật sinh trụ dị diệt để muôn loài tăng trưởng trong tính khách quan ấy. Tính khách quan của ánh sáng tự chiếu không bao giờ có tính chất của ngoại hối mà hoàn toàn là nội lập. Như chúng ta nhìn thấy một cái cây, từ khi nó bắt đầu nảy mầm mọc lên cho đến khi cây già thì hoàn toàn là nội hành hết, mặc dù chúng ta thấy lá này rụng xuống và là khác mọc lên, đó là về mặt chuyển động lập thể sinh diệt vô tận để mà kết tinh tinh hoa. Điều đó có tính chất hoàn toàn là một phạm trù dứt khoát.
Về chuyển trạng ngoại hối, là con người sống vì thập bát giới nên mới có ngoại hành, thấy sự chuyển động bên ngoài mà tưởng là thật, nên chúng ta đem ánh sáng hạt tâm lý tính phóng ra ngoài và lấy biên bìa làm gốc, đó là một sự nguy hiểm nhất, bởi nó đã đưa chúng ta lạc vào con đường phân biến của cái võ.
Nếu chúng ta thông được lý, thấy được chiều thuận của ánh sáng tự chiếu vô biên thì hoàn toàn sẽ không còn rơi vào trường hợp của ngoại hành nữa, mà chúng ta đi thẳng vào bên trong của hạt tâm lý tính mà chủ động và dẫn đạo chúng ta trở về kết tinh kim cương chân tâm.
Ngài bảo ông Chơn Hải Vạn Tường trình bày
Ông Chơn Hải Vạn Tường: Thưa cha, trong công cuộc chuyển trạng hệ thống lập thể, đối với vũ trụ quan thì được biện chứng qua sự hình thành và sự hủy diệt của thái dương hệ, mặt trời và các hành tinh. Đối với muôn loài vạn vật thì định luật tất yếu của thành trụ hoại không và sinh trụ dị diệt là mang tính chuyển trạng. Còn đối với nhân bản duy ngã đại thể thì nội hàm kết tinh tinh hoa trong giá trị hạt tâm chân tính hóa lập thể, lập thể huân tập để kết tinh tinh hoa pháp tâm. Thì chính sự huân tập đó để nuôi dưỡng hạt tâm lý tính. Và hạt tâm lý tính trở về hoàn bị giá trị nhân bản và thành tựu kim cương chân tâm.
Một khi mà chuyển trạng ngoại hối thì hệ thống lập thể này chuyển động không có mục đích nên dẫn đến phân hóa về tâm thức và hạt tâm lý tính, được biện chứng là 3 đường ác khổ đã có mặt trong duy ngã đại thể.
Ngài bảo ông Chơn Luân Quân Tích trình bày
Ông Chơn Luân Quân Tích: Thưa cha, trong công cuộc chuyển trạng mà Thống Hóa đã hình thành trong thế giới quan và vũ trụ quan, thì công cuộc chuyển trạng là tất yếu để các hệ thống vật chất nhờ đó mà kết tinh. Và hệ thống lập thể của muôn loài cũng nhờ đó mà được tiến hóa và thăng hoa. Nếu không có công cuộc chuyển trạng ấy thì cũng không có duy ngã đại thể và cũng không có thánh nhân và Phật. Thì công cuộc chuyển trạng ấy đã trở thành thiết yếu đối với vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Ngài dạy, công cuộc chuyển trạng của thế giới quan và Công Luật vũ trụ, thì đây là phẩm kinh thuộc kinh Vận Luật Tuần Hoàn. Chúng ta xác định 3 kinh trục là kinh chủ thì kinh Vận Luật Tuần Hoàn là kinh chuyển trạng.
Nói đến chuyển trạng là nói đến tổng thể của sự hoạt động của thượng tầng và hạ tầng, của trung tâm Vận Luật Tuần Hoàn Chu Kinh. Về mặt lập thể thì cũng phải chịu định luật chuyển trạng, về mặt hạt tâm thì cũng chịu định luật chuyển trạng. Như vậy chuyển trạng có 2 phần quan trọng một cách rõ ràng mà chúng ta phải xác định, chuyển trạng đó là nội hàm kết tinh tinh hoa tâm pháp và chuyển trạng ngoại hối phân ly tâm thức.
Phân ly tâm thức là mối chốt của giá trị phân ly, còn đối với vật chất thì vốn dĩ là sinh diệt tương tục vô tận, vì nếu vật chất không chuyển trạng là không kết tinh được thành vàng và kim cương. Như ta trồng một cái cây, nếu vật chất không chuyển trạng thì cây ấy sẽ không bao giờ lớn lên được. Như vậy trong tất cả mỗi đời sống của nhân sinh và muôn loại đều nằm trong công cuộc chuyển trạng hết. Như chuyển trạng sinh, chuyển trạng diệt, chuyển trạng biến đổi của hệ thống vật lý và chuyển trạng của hệ thống hạt tâm thuộc về phân ly hoặc là hội tụ.
Chuyển trạng nội hàm kết tinh tinh hoa tâm pháp thì chính cái biến đổi về sinh diệt ấy nó đã được kết tinh. Như vậy thì tính khách quan của định luật chuyển trạng là để kết tinh. Nhưng do bản chất lầm lẫn do ý thức vọng động của chúng ta phóng ra ngoài nên bị biến đổi. Nếu chúng ta giác ngộ được nó không phải là tâm, là phương tiện để kết tinh tinh hoa chân tâm thì chúng ta sẽ không dính mắc nó và không bị ngoại hối phân ly tâm thức, mà lại được ổn định về phần nội hàm kết tinh tinh hoa chân tâm.
Vậy công cuộc chuyển trạng là công cuộc hóa và thiết lập sự nghiệp Công Luật vũ trụ để nhằm đưa con người đi đến chỗ thành tựu chính vị và hưởng thụ được tinh hoa pháp tâm. Đó là hưởng thụ kim tính, hưởng thụ siêu tâm, hưởng thụ ánh sáng, hưởng thụ bất biến, hưởng thụ niết bàn, hưởng thụ cực lạc. Thì đó mới là thực tướng của sự hưởng thụ đời đời.
Nếu hưởng thụ của hệ thống lập thể thì hưởng thụ ấy bị biến đổi. Như hưởng thụ về xác thịt, thì xác thịt sẽ già theo thời gian và trở thành 1 bộ xương khô, và cũng không ai hưởng thụ được bộ xương khô ấy. Nếu hưởng thụ về tất cả những vị chất, lấy vị chất làm cứu cánh mà không nghĩ rằng vị chất ấy nuôi thân thể để ta kết tinh tinh hoa tâm pháp, thì một ngày nào đó sự chuyển trạng biến đổi của vị chất ấy sẽ không còn tồn tại để chúng ta hưởng thụ nữa. Vậy công cuộc chuyển trạng trong tính khách quan là khi chuyển trạng về nội hàm thì được hưởng thụ, còn chuyển trạng ngoại hối là phân ly tâm thức thì hoàn toàn không có hưởng thụ.
Về chuyển trạng lập nội thì đất là tổng thể dinh dưỡng lập nội để nuôi thân cây. Khi mà thân cây ra lá, nuôi lá và lá già rụng xuống thì nó lại tiếp tục hỗ trợ cho phần lập nội, vì lá sẽ biến thành thức ăn cho cây để cây tiếp tục ra lá mới. Tức là lá nuôi lá và lá nuôi cây và cuối cùng tất cả những giá trị đều trở về hạt. Thì hạt cuối cùng đó là giá trị tổng thể của hệ thống lập nội mà hoàn toàn không có lập ngoại. Như vậy lập nội là chính, mà lập ngoại là phụ. Đối với chúng sinh vì không kiến tính nên lại cho lập ngoại là chính, vì vậy mà bị chết với hệ thống lập ngoại đó; còn đối với những bậc giác ngộ thấy lập nội là chính, cho nên được sống và sống mãi trong hệ thống lập nội mà không biến đổi hệ thống lập nội, nên giải thoát hoàn toàn và trường viễn mênh mông bao la trong vũ trụ.

ĐỘNG LỰC VÀ ĐỘNG NGHIỆP
Động lực phát nguyên từ lực hấp dẫn và các quy chiếu hấp dẫn giữa tâm và vật tác động thành động lực. Thì động lực là mối chốt để hình thành ra sức mạnh của các nghiệp dĩ.
Thường thì chúng ta cứ cho nghiệp dĩ là do ý thức và ý niệm mà chúng ta không sâu sắc về giá trị cơ bản của tính động lực và sức hấp dẫn tạo ra nghiệp.
Chúng ta hãy tìm ra cấu trúc và hệ thống động lực nào mà tạo ra các động nghiệp. Và động nghiệp tiếp tục chuyển động và không bao giờ tan biến. Như vậy thì nguyên nhân nào tạo thành động lực thì chúng ta làm sáng tỏ vấn đề này và nắm bắt được nguồn gốc của nó để mà chúng ta giải hóa, còn nếu không thì khó mà giải hóa được.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói về định nghĩa của động lực.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, động lực là một sự chuyển động cực mạnh mà không có một lực nào có thể cản lại được. Như chúng ta đã thường niệm: Thống hóa siêu cực đại luật thiên công, thì trong tính siêu cực đó đã nói lên sự vô cùng của cực mạnh và tính trung tâm của siêu cực là một động lực cực mạnh. Và chính từ nơi trung tâm thần kinh vũ trụ đã có tính siêu cực đó thì mới hóa tất cả mọi hạt nhân, thì hạt nhân của chúng ta cũng đã có cái bản chất của động lực trong đó rồi. Như vậy khi có hạt nhân thì phải có động lực, thì động lực là thuộc về nguyên tắc khách quan tất yếu không thể thiếu được, vì thiếu nó là không thể thành lập được các pháp.
Vậy, định nghĩa của động lực là một sự chuyển động khách quan cực mạnh từ trung tâm thượng tầng cho đến hạ tầng bản hạt trung tâm đều có động lực đó.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống hãy trình bày rõ hơn.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa cha, động lực là có một lực hấp dẫn ma sát để chuyển động mọi vấn đề, như vậy thượng tầng nếu không có âm dương vạn tỏa thì tất nhiên không có khởi nguồn của động lực. Như vậy về mặt hạ hóa thì nhân có những sức hấp dẫn của vạn hữu, bởi vì tự tính trong gốc của nó lúc nào nó cũng hóa và mới, chính từ cái hóa mới đó nó tác động về ý thức của chúng ta, cho nên mới có những sự thu hút và sự chuyển động nó hấp dẫn để ý thức chúng ta cảm ứng mà chạy theo vật đó, nên nó mới sinh ra động lực, đó là về mặt lập hạ.
Tuy nhiên về tính khách quan của động lực thì lúc nào nó cũng hóa thượng và lúc nào cũng đẹp, đẹp từ ngoài và đẹp vào trong. Cũng nhân cái đẹp từ ngoài và sức hấp dẫn ấy nó cuốn hút ý thức của chúng ta chạy theo cái đẹp của vòng ngoài đó mà tạo ra nghiệp dĩ. Vì chúng ta không thấy được cái nguồn gốc tận cùng nên chúng ta chỉ chạy theo cái bóng và bị lực hấp dẫn của vạn hữu mà cuốn hút chúng ta mới tạo ra nghiệp dĩ và nghiệp dĩ luôn luôn đeo đẳng theo chúng ta, bởi vì chúng ta chỉ ôm chấp cái vòng ngoài mà thôi.
Tóm lại, động lực là một sự hấp dẫn ma sát và cuốn hút có tính chất tương tác để tạo một lực chuyển động trong và ngoài, đó là tính động lực.
Ngài dạy: Động lực luôn luôn tác động vào trong đời sống của vật thể và đời sống của khoa học, và động lực cũng tác động vào tư tưởng và ý niệm của tất cả.
Như vậy đối với nền đạo học thì chúng ta ít khi nghĩ đến động lực là gì cả. Nhưng Đức Phật thì Ngài đã nêu ra rồi thì đó là ngũ lực và sự chuyển động của ngũ lực ở chu trình thượng. Đồng thời Ngài đã nêu ra sự chuyển động đó có thể quay ngược lên 180 độ và cũng có khi bị hấp dẫn với mức độ cực kỳ lớn mà con người không thể quay lên được mà phải trôi dạt. Như nước về nguyên tắc là ở trên chảy xuống; nhưng có những động lực mà con người có thể thực hiện là đi ngược nước và bơi ngược nước, thì đó cũng là động lực. Động lực khách quan và động lực chủ quan. Động lực khách quan là động lực hóa của hệ thống vật lý nằm trong tính hấp dẫn nhất định, mà không tách rời những định luật để chuyển động; thì sự chuyển động đó thuộc về định luật, là cái mạnh mà không ai có thể bì kịp về sức mạnh đó.
Như vậy, chúng ta dùng danh từ động lực là danh từ có thực trong đời sống của tâm vật. Tức là nó có một quy tiến tất yếu giữa giá trị tổng thể của các chiều hướng về thượng và hạ, trong và ngoài nó đều có một động lực nhất định về giá trị hóa để mà chuyển động vạn pháp.
Như vậy thì chính động lực đó là biện chứng pháp của nghiệp, nếu tất cả mọi động lực bị tắt đi trong đời sống của vũ trụ và nhân sinh quan thì con người chẳng có nghiệp gì cả.
Nếu không có động lực và sự chuyển động của động lực cực mạnh trong đời sống vô cùng, là vượt trên thời gian và không gian thì sẽ không có động lực được khép kín trong thời gian và không gian và luôn luôn có mặt trong đời sống của tam thiên đại thiên thế giới.
Chứng minh về động lực, như động lực của chu trình quay đối với thái dương hệ và động lực của tất cả những năng lượng và giá trị hóa của các đơn vị, nó đều trở thành động lực và tạo ra một sự hấp dẫn của hệ quy chiếu ánh sáng và hệ quy chiếu vật thể của hệ thống vật lý.
Động lực là giá trị chung thực thể trong đời sống của vũ trụ quan và nhân sinh quan. Như vậy thì giữa động lực và nghiệp lực khác nhau ở chỗ nào?
Chúng ta phải biết rằng nghiệp lực là tính khách quan ở những dòng chảy còn chịu những lực hấp dẫn đối với động lực ấy. Nhưng khi chúng ta đi ngược lại với dòng chảy thì ta cũng có một động lực, thì đây gọi là sức mạnh vượt nghiệp.
Sức mạnh vượt nghiệp sẽ đưa chúng ta ra khỏi địa ngục và ra khỏi các thế giới khổ đau, và địa ngục sẽ không có đời đời đối với người có sức mạnh vượt nghiệp ấy.
Về chân tính ánh sáng là không biến đổi được, nhưng cái hệ thống lập thể thuộc về động nghiệp, thuộc về nghiệp lực thì chúng ta có thể thay đổi được. Vậy động nghiệp là luôn luôn có 2 chiều, chiều quay xuống và quay lên. Nhưng khi mà động nghiệp được chuyển động quay lên thì người ta gọi là chánh nghiệp hoặc là chánh thượng nghiệp.
Như vậy thì quỹ đạo địa ngục sẽ có trong sự chuyển động của các nghiệp thức bất tương ưng và địa ngục sẽ bị tan vỡ đối với sức mạnh vượt nghiệp cùng thành lập các pháp tương ưng trong đời sống của chánh nghiệp.
Chúng ta đã tìm ra được động lực của tính khách quan và chúng ta cũng giác ngộ được động lực và sức mạnh của tính chủ quan đối với duy ngã đại thể.
Như vậy thì động lực đã có trong 3 chiều, thì động lực cũng sẵn sàng cho chúng ta một chiều vô cùng mà chúng ta hoàn toàn không bao giờ nghĩ đến nó, mà thường thì chúng ta lại bị kẹt trong 3 chiều ấy. Mà nhất là lực hấp dẫn của chiều thấp nhất thì con người lại bị kẹt ở chiều này mà động lực và động nghiệp bắt đầu thu tóm giá trị hạt nhân và chôn sâu vào các thế giới đen thẳm và tối tăm nhất.
Như dòng nước trên nguồn chảy xuống và chảy về biển cả của trầm luân. Nếu chúng ta là duy ngã đại thể thì chúng ta không thể tách khỏi con sông trong đời sống ấy. Và con sông trong đời sống ấy là động lực thì chúng ta sẵn sàng nhận lấy một động lực của sức mạnh chung để vượt lên. Nó là động lực thì ta cũng là động lực. Tính khách quan về động lực thì tính chủ quan cũng là động lực.
Động lực của tính khách quan là tính của định luật, mà động lực của tính chủ quan là tính của mục đích và giá trị hóa trong giá trị vô cùng.
Như vậy động lực của con sông là đổ về biển cả, thì động lực của người trên dòng sông có quyền bơi ngược về nguồn. Thì cái nghiệp tương tác của trầm luân giữa con người và dòng sông sẽ được giải quyết ở cái đích cuối cùng là về nguồn và không còn con sông nữa. Còn mọi sự mâu thuẫn giữa chiếc thuyền, con người và dòng sông đều bị kẹt ở các động lực của tính khách quan; vì năng lực, nghị lực của tính chủ quan hoàn toàn bị thất bại nơi động lực ấy, nên khiến cho mọi sự khổ đau luân trầm nơi bể khổ.
Như vậy, nếu chúng ta thất bại nơi động lực và sức mạnh của con sông thì chúng ta có mặt tại biển cả. Nếu chúng ta thắng được mọi động lực tính khách quan và có được động lực mục đích chủ quan thì chúng ta sẽ có mặt tại nguồn tiên bồng. Đó là chúng ta quay động nghiệp của chu trình hạ qua chu trình thượng, thì chúng ta sẽ có đại nghiệp vũ trụ và thành tựu Như lai thể.
Chúng ta đã xác định về động lực và động nghiệp là hệ thống tác động dữ dội và mạnh mẽ có thể tạo ra những quỹ đạo của những thế giới thống khổ đó, đều gọi là thế giới đa nguyên. Nhất là thế giới đa nguyên của dục giới, và thế giới đa nguyên của địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Những thế giới ấy hoàn toàn nó thuộc về thế giới của cực phân, là phân tán tổng tinh hoa, giảm trụt về tổng tinh hoa. Cho nên những quỹ đạo và quỹ tích ấy đều là tích chứa những đau khổ và ở trong quỹ đạo chuyển động của sự đau khổ.
Vậy động lực và động nghiệp là tác nhân của sự báo ứng của các quỹ đạo thấp, các quỹ tích thấp, các đơn vị thấp và các hệ thống thấp ở trong chu trình ấy. Thì địa ngục cũng sẽ không bao giờ tan biến đối với kẻ không biết ăn năn và sám hối. Địa ngục cũng không tan biến đối với những tác nhân chưa quy tập được sức mạnh để quay lên và địa ngục cũng không bao giờ giảm trừ đối với những người tiếp tục phát triển những ác tính. Thì động lực và động nghiệp này sẽ không bị tan biến, là vì nó cứ tiếp tục phát triển và nhân lên, thì quỹ đạo đa nguyên trong đời sống của các thế giới thấp sẽ xuất hiện đối với chúng nó.
Động lực báo, động nghiệp báo là sức mạnh báo ứng mà không thể lệch giá trị quỹ đạo của sự báo ứng trong các quỹ tích và quỹ đạo thấp nhất đối với thế giới đa nguyên của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Atula, nhân, thiên. Nhưng ở thế giới nhân và thiên thì tỉ trọng và giá trị báo ứng thấp hơn, ít thâm trọng hơn. Như vậy thì động lực và động nghiệp ở chu trình hạ thấp nhất cũng không bị tan biến ở những báo ứng nhất định về giá trị hóa và các quỹ đạo thấp ấy là tích chứa sự đau khổ nhiều hơn là sự an vui.
Như vậy, địa ngục đã tích chứa tại cái biết của sự sống và tác động mọi nhân quả của sự sống trong động lực và động nghiệp ấy và địa ngục đã ký vào trong tâm thức ấy. Thì địa ngục sẽ không ký được vào người thánh thiện, vì bản chất của những người ấy đã thoát ra những dòng nghiệp, những nghiệp lực, những tác nhân giữa ý thức thấp hèn, xấu xa; thoát ra tội ác và hành vi của thân- khẩu- ý tội ác. Và hoàn toàn địa ngục đã được bóc vỡ ra khỏi đời sống của tâm pháp đối với những con người thánh thiện ấy.
Như một con người an tâm là biện chứng pháp của thiên đàng. Một con người loạn tâm là biện chứng pháp của địa ngục. Địa ngục là cái hiểu biết về sự đau khổ, thiên đàng là cái hiểu biết về sự an vui.
Như vậy, địa ngục và thiên đàng luôn luôn xuất hiện trong đời sống của ý thức, vật chất, tư tưởng, tâm niệm, ngôn ngữ và hành vi; thì động lực và động nghiệp luôn luôn có mặt trong đời sống của con người, thì địa ngục hay thiên đàng cũng luôn có trong chúng ta dù cho sống hay chết cũng như thế.
Còn tất cả những hình tướng thiên đàng và địa ngục nó là cái bóng hiện ra từ tâm thức chớ không phải nó có thực.
Vậy thiên đàng tánh là thuộc về động lực và động nghiệp của chu trình thượng. Địa ngục tánh là thuộc về động lực và động nghiệp của chu trình hạ. Tâm là làm chủ nó. Như vậy tâm là mối chốt và sức mạnh của động lực và động nghiệp để giải quyết vấn đề toàn pháp, vô lượng pháp và toàn pháp giới.
Chúng ta phải thấy rằng sự kinh ngạc về sức mạnh của hệ thống vật lý, và sự kinh ngạc về sức mạnh của hệ thống siêu tầng. Thì chúng ta sẵn sàng có một đại chánh nghiệp để kết hợp động lực của mười phương vũ trụ đã cho mà chúng ta tìm đường trở về.

CÁC HOẶC LẬU CHUYỂN ĐỘNG
TRONG Ý THỨC VÀ TIỀM THỨC
Tầm sát các hoặc lậu đang chuyển động trong ý thức và tiềm thức, thì hoặc lậu ấy thuộc về loại gì? cũ hay mới?
Chúng ta có thể chia ra hai giai đoạn là quá khứ và hiện tại; Quá khứ thuộc về hoặc lậu tiềm thức, còn hiện tại thuộc về hoặc lậu ý thức. Thí dụ như ý thức chúng ta không muốn điều đó, nhưng trong tiềm thức thì nó buộc mình phải muốn. Đó là điều nghiệt ngã mà chúng ta thường bị thất bại, bởi các hoặc lậu tiềm thức ấy tấn công ta.
Hôm nay chúng ta phân tích và làm rõ chỗ này để làm sáng tỏ về Bát thức tâm vương, đồng thời chính mình làm rõ được mình thì mình mới chuyển được nghiệp.
Đối với các hoặc lậu thuộc về ý thức chúng ta có thể chuyển được nó rất dễ dàng. Thí dụ như ta khởi tâm ghét một người, rồi ý thức ta khởi lên lòng bất nghĩa, thì ta liền biết ta sai; nên ta liền phát ra lòng bình đẳng và thần phục ý niệm bất nghĩa đó. Còn đối với các hoặc lậu thuộc về tiềm thức thì hoàn toàn ta không muốn, không khởi nhưng bên trong nó cứ trào ra, mà chính ta thì không biết cách để tinh lọc nó, nên cuối cùng nó vẫn cứ còn nguyên trong ta, rồi nó lại khiến ta đi theo nó. Vì vậy thắng phục các hoặc lậu ý thức phân biệt ở trước mắt dễ hơn là thắng phục các hoặc lậu đã cấu kết trong tiềm thức và có tính quĩ tích từ nhiều đời.
Thật ra chúng ta đang học cửu kinh nhưng hầu như chúng ta lại thất bại trong hệ thống cửu kinh là vì sao? Vì các hoặc lậu tiềm thức ấy nó đã trở thành dòng nghiệp chuyển động bên trong, mà chúng ta chưa bức phá được, chưa giải quyết được. Thì đây là một căn bệnh và gốc của nó là thuộc về các hoặc lậu quá khứ đang chuyển động trong tiềm thức.
Như vậy, nghiệp dĩ nó luôn luôn gắn liền với quá khứ, vì vậy nên Tổ Đạt Ma Ngài đã phản ánh về tính chất nhân quả đối với Thần Quang rất là rõ ràng và Ngài thừa nhận trong thế giới nhị nguyên là còn kẹt trong hệ thống lập thể, là chưa kết tinh trở về chân tính, thì không thể xem thường các hoặc lậu đang chuyển động trong tiềm thức ấy. Nên Đức Phật Thích Ca nói: “Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của ta để biết được quá khứ của ta” thì điều đó hoàn toàn đúng. Vì chúng ta chưa chứng được sinh tử minh nên không thể thấy được quá khứ, mà muốn thấy quá khứ là phải nhìn hiện tại.
Thật ra các hoặc nghiệp trong tiềm thức của chúng sinh còn nhiều hơn số cát trên sông Hằng. Nên việc trở về trên đỉnh vinh quang của sự giải thoát là phải sạch tất cả mọi hoặc nghiệp, tức vinh quang của sự toàn thắng chính ta. Vì tất cả những sự chiến thắng trên mặt bằng nhị nguyên đều thua xa với sự toàn thắng của chính ta. Nên Đức Phật nói rằng: “Cái khó nhất là hãy tự chiến thắng chính mình” Vì thắng phục cái bên ngoài về hệ thống lập thể, thì nghiệp thức nó vẫn tiếp tục trôi chảy và lăn theo qui trình chuyển động của các loại nhân quả mà chúng ta đã gieo, thì thắng đó đã trở nên thất bại. Còn chiến thắng mà nó không thể xoay chuyển được chúng ta, thì thắng đó Đức Phật luôn khen ngợi, đó chính là thắng được tâm mình.
Nếu cho rằng nghiệp thức là đơn giản hóa của sự phân biệt và trực diện đối với vạn pháp thì đó chỉ là một chiều, mà lại là chiều cuốn theo và có thể trở thành quĩ tích ở tiềm thức. Thí dụ như có những thứ chúng ta mới trồng hôm nay và có những thứ chúng ta đã trồng trước đây 100 năm nó đã trở thành cổ thụ. Vì đất luôn sẵn sàng nuôi tất cả mọi thứ ta trồng. Đối với lý nhân quả thì chúng ta thấy rằng: giá trị của hệ thống Công Luật là siêu nguyên nhân, thì mặt bằng là phải có nguyên nhân, mà có nguyên nhân là phải có kết quả. Như vậy, nguyên nhân như thế nào là thuộc về các ý thức nghiệp phân biệt, ý thức nghiệp chuyển động và ý thức nghiệp hành vi đã tạo tác để hình thành giá trị chủng và hình thành nhân quả ở quá khứ và hiện tại.
Như vậy, về tâm thức có một quĩ tích đó là Mạt na luôn gắn liền với A lại da. Vì thế mà A lại da đã bao nhiêu lần khổ đau bởi Mạt na. Mạc na là quĩ tích, vì từ ý thức phân biệt dồn dập trãi qua hằng tỷ kiếp để kết cấu trong Mạt na và hình thành các nghiệp chuyển động mà chúng ta chưa thoát khỏi. Nên kinh Bát Thức Tâm Vương của ngài Đại Bố đưa ra, là nhằm để cơ cấu hóa về hệ thống một cách rạch ròi để hành giả khỏi có lầm lẫn. Vì đối với thế giới nhị nguyên chưa trở về nhất nguyên thì có nhiều tâm chứ không thể là một tâm và chính có nhiều tâm đó nên Như Lai mới nói: tâm chúng sinh vô thường. Như vậy, tâm vô thường thuộc về hoặc lậu nghiệp thức, còn tâm thường trụ là thuộc về chân tâm.
Nghiệp thức có thể nói là cái đọt của tâm, cũng giống như nước sinh ra sóng, thì sóng là đọt của nước. Nhưng thật ra sóng ấy cũng là nước, vì nếu không có nước thì sẽ không hình thành ra sóng. Nhưng khi hình thành ra sóng thì hoàn toàn không có tính thấy và phản chiếu như mặt nước bằng, thì hai mặt trạng này lại khác nhau. Như vậy, sóng là một sự chuyển động cực mạnh trên phần đọt cuối cùng của nước; Nhưng bản chất của nước là sự phẳng lặng ổn định và không có gợn sóng. Thí dụ nếu mặt nước có gợn sóng lăn tăn là vì có cá ăn móng, thì nghiệp thức của chúng sinh cũng giống như hàng triệu con cá ăn móng một lượt trên mặt hồ vậy; Còn đối với các vị từ A La Hán trở lên thì hoàn toàn không có điều đó xảy ra.
Bây giờ chúng ta bắt đầu phân tích về nghiệp thức chuyển động trong tiềm thức là thuộc về loại gì, và nghiệp thức chuyển động trong 6 căn của mắt- tai- mũi- miệng- thân- ý là thuộc về loại gì?
Thường thì con người khi có tội lại cố dấu che và không bao giờ dám nói tội của mình ra với mọi người. Vì thế nên Đức Ki Tô có một pháp rữa tội rất hay; Ngài bảo con chiên hãy thú tội trước Ngài, là nói ra những tội gì mình đã làm, hoặc đã suy nghĩ mà chưa làm, để được Ngài thay Chúa rữa tội. Ở đây không phải Ngài dùng nước để rữa được tội, mà chính sự nói ra đó là chính nó đã phản ảnh được những dòng nghiệp chuyển động trong chính nó và đồng thời Ngài có phương pháp để chuyển hóa dòng nghiệp đó.

Phần nghị luận:
Ngài bảo Ông Chơn Phát Đạo Quang trình bày.
Ông Chơn Phát Đạo Quang: Thưa Cha, Tiềm thức nó luôn luôn ẩn chứa những gì thuộc về quá khứ do từ 6 căn, 6 thức tạo ra và nó trở thành dòng nghiệp chuyển động. Nên có những điều chúng ta không muốn, mà nó vẫn cứ hiện ra và thúc dục ta, nếu ta không đủ sáng suốt thì sẽ bị nó kéo ta đi.
Ngài bảo Ông Chơn Hoàng Long Hiển trình bày.
Ông Chơn Hoàng Long Hiển: Thưa Cha, nghiệp thức có 2 loại mới và cũ, như về phần lục thức thì gọi là mới, vì ý thức hoặc lậu chuyển động liên tục theo 6 thức ấy. Đối với hoặc lậu là có tương ưng và bất tương ưng, thì tất cả những hoặc lậu đó đã ký gởi vào trong Mạc na tiềm thức đó, mà nó trở thành dòng nghiệp luôn luôn dấy động trong ta. Bây giờ chúng ta muốn bỏ nó thì phải tinh lọc, biết thứ nào là tương ưng thì giữ lại, còn bất tương ưng thì loại bỏ ra.
Ngài dạy, như vậy các hệ thống nghiệp thì nó có cơ cấu và dữ liệu ở từ tiềm thức, vậy nó hoàn toàn có quỹ tích nên có sự tương quan giữa dòng nghiệp tương ưng và bất tương ưng đối với người và người, thì đây đức Phật gọi là: ma nghiệp tương quan. Tức là khi ta có một ma nghiệp trong người ta, thì chúng ta sẽ tương quan với ma nghiệp của người khác và nó sẽ cấu kết với nhau để tạo ra một lực chuyển động với nhau. Nếu đặt ra trong ta không có ma nghiệp đó, thì ma nghiệp của người khác không liên quan gì đến ta và không thể kéo ta theo họ được.
Thường thì con người cái ma nghiệp của chính họ, thì họ lại không chịu trị liệu, mà lại chạy ra tìm những thứ ma nghiệp bên ngoài thuộc của người khác; Vì thế ma nghiệp của chính họ không bao giờ hết được. Những thứ ma nghiệp đó nó đã tạo thành một lực ma sát cấu kết với nhau; nên Đức Phật gọi đó là: tương quan của đồng nghiệp. Thí dụ như một người đang sống và một người đã chết, hai người đó có ân oán với nhau, tức là họ đã có những tương quan đồng nghiệp để chuyển động và tạo thành các nghiệp dĩ về các loại nhân qủa chuyển động có tương quan.
Như vậy, trong thế giới nhị nguyên khi chưa trở về 4 quả thánh, thì cũng đồng nghĩa là ta chưa làm chủ được chính ta hoàn toàn. Thì ma nghiệp nó luôn luôn tạo thành lực ma sát rất mạnh giữa cái cũ và cái mới. Ma nghiệp ở đây nghĩa là tất cả các loại nghiệp bất tương ưng đang chuyển động trong ý thức và tiềm thức nó cản trở không cho chúng ta quay trở về chân tính. Vì thế nên nó luôn tương quan cấu kết với những dòng nghiệp tương ưng với nó, để tạo thành nhân quả theo dòng nghiệp đó.
Ngài bảo Ông Chơn Đạt Pháp Trí trình bày.
Ông Chơn Đạt Pháp Trí: Thưa Cha, về ý thức nghiệp thì dễ phát hiện hơn, khi tính thể tương tác thì tạo ra nghiệp và chính lúc đó nếu tầm sát thì mình sẽ thấy liền kể cả tương ưng và bất tương ưng. Còn tiềm thức nghiệp thì nó nằm trong Mạc na do đã huân tập ở vô lượng kiếp đã tạo thành một sức mạnh khó mà chống lại được. Nếu là chủng tử bất tương ưng thì nó sẽ tạo ra dòng nghiệp xấu và chỉ có sức mạnh của kinh điển minh triết, thì may ra mới loại trừ được nó ra khỏi tiềm thức.
Ngài dạy, chúng ta phải xác định các hoặc lậu về tiềm thức là nó thuộc về quá khứ lâu xa mà chúng ta không thể nhớ được. Nếu là hoặc lậu bất tương ưng, là gieo trồng những loại giống thuộc về ngũ nghịch, thì nó thuộc về đỉnh cao của các loại nghiệp dữ vĩ đại nhất; đức Phật cho đó là định nghiệp và nó có thể chịu một luật phạt lâu dài nhất, có thể đến vài ngàn năm, hoặc là vô gián ký. Khi hình thành định nghiệp thì cái biết không bao giờ mất, mà phải chịu một lực tác động ma sát rất khủng khiếp, mà chính cái biết phải chịu nhận lấy mọi sự đau khổ đó.
Như vậy, đau khổ là thuộc về cái biết. Thí dụ như lúc nào đó ta dấy lên những tư tưởng không tốt, chỉ cần một đêm thôi thì mọi sự khổ đau sẽ xuất hiện theo tư tưởng dấy lên đó. Hoặc là khi ta chiêm bao thấy người khác đánh giết mình, thì cái biết của mình cũng thấy đau đớn, rên khóc, sợ hải và bị khủng hoảng trong chiêm bao đó. Hoặc trong chiêm bao ta được người khác giúp đỡ, yêu thương đùm bọc thì cái biết cũng liền được hạnh phúc trong đó. Như vậy, cái biết của ta luôn luôn có hai trạng thái: khổ đau và hạnh phúc; Thế thì những loại nghiệp dĩ về quá khứ và hiện tại mà nó không thuộc về tương ưng và thiện nghiệp thì luôn luôn dấy lên sự khổ đau. Và tùy theo mức độ mà chúng ta phát triển các hoặc lậu bất tương ưng trong nghiệp thức ấy mà hệ quả khổ đau tiếp tục xuất hiện ở trong ta. Có những sự khổ đau mà nó theo ta suốt cả cuộc đời mà ta không thể diệt được nó.
Như ông Thần Quang có một hiền kiếp rất lớn, nhưng khi sinh ra đời ông trở thành một vị tướng và làm công vụ cho vua là đi đánh giặc khi có giặc nổi lên. Vì tinh thần yêu nước, yêu vua mà ông có một sức mạnh đánh đuổi quân thù, thì tất cả những hình ảnh đánh giết quân thù ấy nó đã trói ông Thần Quang. Chính ông đã tìm đủ mọi cách thoát ra nhưng không thể thoát ra được nó. Rồi cuối cùng ông phải quay về với chính pháp; và chính ngài Đạt Mạ đã giúp cho Thần Quang thoát khỏi mọi nghiệp thức đó. Như vậy, nghiệp thức luôn luôn làm cho chúng ta đau khổ và nghiệp thức không bao giờ mở trói chúng ta khi chúng ta chưa giác ngộ.
Chúng ta phải rõ biết về nghiệp thức và các hoặc lậu trước mắt đối với sự phân biệt của 6 căn và 6 trần; đối với hoặc lậu đã chìm trong Mạt na có liên quan A lại da đã trãi qua không biết bao nhiêu kiếp số mà chúng ta đã tích lũy những loại nghiệp ấy tùy theo mức độ nặng nhẹ. Nếu đem so với địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, a tu la thì có lẽ chúng ta cũng được nhẹ nhàng hơn, vượt thoát hơn những trọng nghiệp nặng nề của các đường ác khổ kia. Như vậy, chúng ta hạnh phúc thay ở những kiếp người còn những hoặc lậu nhẹ và có đủ sức để tiếp tục chuyển hóa các nghiệp ấy để trở về Tứ thánh.
Vì thế đối với chư đại Bồ Tát thường nói trên đời này chẳng có gì để sợ cả, giả như có người đến giết ta, thì ta cũng chưa phải là mất. Vì dẫu ta có mất tất cả về lập thể, thì chỉ cần một tâm ánh sáng thôi cũng đủ huy hoàng cả vũ trụ và hoàn toàn Bồ Tát không biết sợ mất gì cả. Nhưng các đức Bồ Tát vẫn nói rằng: Ta sợ nghiệp dĩ và sợ các hoặc lậu chuyển động trong tiềm thức chưa giải quyết xong và những hoặc lậu trước mắt tiếp tục chuyển động. Đó là cái sợ nhất của chư đại Bồ Tát.
Xác định được tính chất này nên Bồ Tát đã đưa ra kinh điển và lập bộ nhân quả nói rằng: Chúng sinh sợ quả báo, còn chư Bồ Tát thì sợ mọi nguyên nhân.
Hôm nay kho tàng ánh sáng của hệ thống Cửu Kinh Minh Triết sẽ cho chúng ta sức mạnh giải quyết tất cả những thứ đó. Tức chúng ta đã có vũ khí trong tay để đánh bại toàn bộ những hoặc lậu nghiệp thức của quá khứ, hiện tại, vị lai và thống nhất giá trị chân tính ánh sáng, để hóa giải mọi nghiệp thức và bay vào vũ trụ một cách tự tại vô ngại.
Như vậy, có thể nói là trên trăm triệu hoài bảo trong đời sống của thế giới nhị nguyên và giàu có nhất của vua chuyển luân thì không có một ông vua nào bằng ông vua của Tâm pháp và không có sự hoài bảo nào bằng sự hoài bảo Giải thoát. Ông vua tâm pháp là ông vua có thể ngự trị mãi mãi mà không bao giờ thay đổi ngôi vị, đó là Tâm vương. Còn tất cả những ông vua khác đều bị dòng nghiệp thay đổi, nên các ông vua đó cũng bị thay đổi theo dòng nghiệp đó.
Đối với sự nghiệp Kim Ngưu Phá Điền là phá tất cả mọi hoang mạt để phục hóa chân địa và ánh sáng kỳ quan cho chúng sinh đến mục đích cuối cùng là giải thoát. Chỉ có giải thoát mới có thể đem lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta và nhân loại. Còn mãi kẹt trong các dòng nghiệp ấy thì Như Lai nói rõ rằng: Dù cho chúng nó có san hô, mã não, trân châu, hổ phách và có tất cả những kim loại quí nhất thì nó cũng chỉ đeo trên cổ nó mà thôi.
Như vậy, chúng ta phải hiểu được tính đại thừa Cửu Kinh Minh Triết là nhằm đem công suất lớn để hóa giải các dòng nghiệp cho chúng sinh, đồng thời thiết lập bảo đàn, địa đàn xanh tươi để chúng sinh nương tựa mọi âm phúc ấy và thăng hoa trong dòng nghiệp, để đi vào chu trình thượng và thiết lập vạn tâm, thì chúng ta mới có được hạnh phúc vững chắc. Còn hạnh phúc thuộc về vật chất sang trọng là hạnh phúc của hoa đốm. Vậy hoàn toàn chúng ta không thể giản dị trong sức mạnh hóa chân tính; Bình đẳng và tối đại bình đẳng của sự nghiệp chân tính để chúng ta thù thắng các nghiệp và thành đạt giá trị hóa các nghiệp.
Nếu chúng ta không làm được công việc này, thì các dòng nghiệp cũ và mới tương tục chuyển động và chuyển động không dừng nghĩ; thì mọi ý thức phân biệt khổ đau của chúng ta cũng tiếp tục khổ đau mà thôi. Nên đức Phật nói: Ngươi dừng nghĩ được các loại nghiệp nhiều chừng nào thì ngươi hạnh phúc nhiều chừng ấy. Còn lại một tâm cho ánh sáng, một tâm cho sự cứu độ, một tâm cho sự công phu, một tâm cho các công việc làm hàng ngày đối với đời sống thuộc về chân hành và không để chỗ sót, chỗ trống, chỗ thoát mọi giá trị chân hành trong đời sống của nhất tâm, thì ngươi sẽ được hạnh phúc trong nhất tâm.
Như vậy, ai nhất tâm trong ánh sáng huy hoàng thì sự hạnh phúc ở trong ánh sáng huy hoàng và ai là người mau chóng giải hóa các nghiệp thì người ấy sớm được hạnh phúc.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, trên mặt bằng của minh triết thì các chủng nghiệp của con người lớn hơn cát sông Hằng. Vì sinh ra cát sông Hằng nó còn có qui trình thời gian, còn hoặc lậu của con người thì liên tục trong sát na, nên số lượng nó là vô cùng và nhiều hơn số cát sông Hằng. Chính hoặc nghiệp này nó là nguyên nhân che chắn, mặc dù chúng ta đang trực diện với Cửu Kinh Minh Triết nhưng chúng ta chỉ sống trong các hoặc nghiệp mà thôi. Hoặc nghiệp ví như cỏ rác hoặc những cây cổ thụ xấu ác nó đã che khuất chân tâm ánh sáng và chúng ta đau khổ cũng bởi những hoặc nghiệp này. Như vậy, tầm quan trọng của hoặc nghiệp sẽ quyết định cho sự sống còn và phát triển kết tinh của chúng ta hôm nay. Muốn kiểm soát nó phải nương vào Bát Chánh Đạo và Thất Giác Đạo Chi, để chuyển hóa hoặc nghiệp bất tương ưng trở thành tương ưng và trở thành ánh sáng. Thì Cửu Kinh Minh Triết lúc bấy giờ mới thực sự thâm nhập đối với chúng ta. Do đó nên nhà chí sĩ Phan Bội Châu có nói rằng: “Muốn làm thánh khiết thì phải trở về chính tâm và đánh thắng được giặc tâm thì mới là tăng tướng”. Như vậy, đối với minh triết là có đầy dãy cả vũ trụ này, nhưng nếu hoặc nghiệp chúng ta không loại trừ thì tất nhiên kho tàng minh triết cũng chỉ là của vũ trụ, Như Lai mà thôi.
Ngài dạy, như vậy chúng ta xác định cái biết của Như Lai đã ra khỏi mọi hoặc lậu nghiệp thức, hoàn toàn không có hoặc lậu nghiệp thức. Nên cái biết Như Lai bằng vũ trụ. Vũ trụ bấy nhiêu thì cái biết của Như Lai bấy nhiêu. Còn chúng sinh thì bị hoặc lậu nghiệp thức phát sinh lấn áp bao vây, làm cho cái biết bị nhỏ nhoi đi. Nên Như Lai nói rằng: “Người nào mà chuyển hóa và thắng phục được nghiệp thì cái biết được tăng trưởng và nhanh chóng được cái biết vĩ đại”.
Như vậy, chúng ta không phải đi cầu xin cái biết, mà chúng ta phải ra công để chuyển hóa các hoặc lậu nghiệp thức, thì giá trị hiểu biết được thăng hoa theo mức độ chuyển sạch nghiệp của chúng ta và khi lên được Tứ thánh thì hoàn toàn đã sạch được các nghiệp; Thì lúc bấy giờ ánh sáng chân tâm mới kết tinh ròng tính để đưa chúng ta đi đến một bước ngang bằng vũ trụ.
Như vậy, chuyển nghiệp và thắng nghiệp là một hình thức tinh lọc để đi đến hoàng kim tri thức ánh sáng, thuộc về tổng tinh hoa của các chất liệu cao cấp nhất.
Khi hoặc lậu nghiệp thức đã sạch thì cái biết chúng ta trở thành cái biết thông suốt vạn pháp. Thì cái biết đó đức Phật gọi là: “Vô lậu tận thông” là đồng nghĩa với thấy được sinh tử của chúng ta từ vô lượng kiếp, nên gọi là chứng được sinh tử minh. Đối với Như Lai là chưa bao giờ nói sai về chân lý ánh sáng của vũ trụ và chưa bao giờ làm lệch giá trị Công Luật vũ trụ. Vì Ngài đã rạch ròi, đã thông suốt vạn pháp, đã chứng được giá trị vô thượng và đạt thành giá trị chân tâm viên giác.
Bài học hôm nay chúng ta khai thác được các hoặc lậu nghiệp thức thuộc về tiềm thức và ngăn ngừa các hoặc lậu nghiệp thức chuyển động trong ý thức phân biệt đối với 6 căn, 6 thức, 6 trần. Sự hiện hữu hóa trong nhân và quả của sự tích chứa quĩ tích trong đương đại, để chúng ta hóa thân trong sự nghiệp chuyển pháp và hình thành chân tâm ánh sáng. Còn nếu chúng ta chưa thắng được nghiệp, thì mọi sự bẽ bàng đau khổ nhất rồi cũng sẽ đến với chúng ta.
Như vậy, khi chúng ta hoàn toàn thắng nghiệp và sạch nghiệp, thì Cửu Kinh Minh Triết cũng bày tỏ giá trị ánh sáng toàn mãn trong tri thức ánh sáng của chính ta.

ĐỜI SỐNG HIỆN THỂ VÀ SIÊU THỂ
Chân lý của sự thật, của Công Luật vũ trụ, của tổng tinh hoa, của chân tính, là sức mạnh lớn nhất của vũ trụ. Bản chất giá trị ấy là sự thực đã có trong chúng ta một cách tuyệt đối. Nếu không có trong chúng ta thì nhân loại sẽ không có trí huệ uyên bác và không có vĩ nhân, siêu nhân. Đại diện cho giá trị siêu thể là Thánh nhân, là Phật nhân, là tất cả các vĩ nhân.
Giữa siêu thể và hiện thể khác chỗ nào?
Thực ra hai đời sống ấy nó tròn đủ hết chứ không khác, nhưng chỉ khác một điều là còn bị mắt kẹt mà thôi. Mắc kẹt cho nên mới có hiện thể và siêu thể. Chứ thực ra bản chất giá trị siêu thể chúng ta đã có. Khi mà chúng ta trả lại tất cả những thứ đã mượn là chỉ trả lại phần thô, trả lại phần tập khởi thôi. Cho nên khi trở về siêu thể, nếu chúng ta đạt được giá trị tổng thể thì hoàn toàn đầy đủ, giống như đời sống của chúng ta hiện nay, mà còn cao hơn gấp tỉ lần hiện nay. Vì đời sống siêu thể là đời sống tròn đủ, mà đời sống hiện thể là còn bị mắc kẹt thân ngũ ấm, mắc kẹt ý thức khởi, mắc kẹt vọng niệm, mắc kẹt tương tác giữa thức và trần. Nếu chúng ta không còn mắc kẹt những thứ đó, là tức khắc đời sống siêu thể sẽ đến với chúng ta. Thì chuyện bỏ thân này và không bỏ thân này đều giống nhau, tuyệt đối như vậy.
Đối với các Tổ đã thành tựu được chỗ siêu thể, thì các Tổ dù đang sống trong đời sống hiện thể, mà đời sống siêu thể vẫn hiển nhiên trong hiện thể đó. Như đức Duy Ma Cật, đức Ca Diếp hay đức Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, hoặc những vị trong Tứ Quả Thánh là họ đã có đời sống siêu thể trong hiện thể. Như vậy, việc bỏ thân hay không bỏ thân là không quan trọng, dùng thân để làm việc, hay không dùng thân mà làm việc một kiểu khác thì đều giống nhau. Bởi vì các vị ấy hiện được tất cả các pháp đầy đủ nghĩa là không bị gián đoạn, còn chúng ta bị mắc kẹt, nên không đạt được điều đó thôi. Chứ thật ra đời sống siêu thể nó đã có trong chúng ta. Chỗ này là bí quyết, chỗ này là hoàn chỉnh nhất của sự nghiệp Công Luật tổng thể mà tất cả Dòng Chơn phải đạt được điều đó. Khi chúng ta đạt được điều đó thì việc sinh tử đối với người Công Luật không còn là quan trọng nữa. Bởi vì có mất gì đâu mà quan trọng, vì khi các dòng nghiệp không còn trói buộc nữa, thì đời sống siêu thể đã có ngay trong chúng ta, thì cái chuyện diệt độ, hay bỏ thân là bỏ phần thô thôi, còn phần tinh chất không bỏ. Vì nếu bỏ phần tinh chất thì siêu thể không còn nữa, mà siêu thể không còn nữa thì chân lý vũ trụ này có nghĩa lý gì đâu.
Chúng ta không thể làm triệt tiêu phần siêu thể của vũ trụ được, vì phần siêu thể của vũ trụ đã hằng hữu vô tận, vô cùng đã có trong chúng ta rồi. Một khi chúng ta hoàn chỉnh phần siêu thể đó thì làm sao mất, ngay cả quá khứ, hiện tại, vị lai cũng không còn quan trọng nữa. Vì quan trọng ở đây là quan trọng của nhân thừa, của các động nghiệp báo ứng thôi, chứ đối với các bậc siêu thể thì quá khứ, hiện tại, vị lai đều là phương tiện hóa; đều là tính công bằng, tính dung chứa và trãi rộng giá trị pháp thân đó, để hoàn chỉnh sự nghiệp siêu thể trong vạn thể chứ không mất cái gì hết.
Cho nên ở trong chính lý đã nói rõ về vấn đề không thể nào tan biến tri thức ánh sáng, vì tri thức ánh sáng là cái biết. Nên không ai bị tiêu biến cái biết trước khi chết và sau khi chết cả, đó là phần siêu thể không bao giờ tan biến, thì làm gì có cái mất. Còn và mất là sự phân biệt của thô cấu, của những tạp chất biến đổi về phần thô, phần hiện hữu, chứ còn phần tinh chất thì đâu có mất, nên không có còn mất.
Như vậy, phần hiện thể là phần thô, phần siêu thể là phần tinh hoa. Đời sống hiện thể là chúng ta đang sống trong phần thô, tức là cái mượn của thân tứ đại và thân ngũ ấm là phần thô và kết tập tất cả hữu vi là phần thô. Nhưng trong phần hiện thể có phần siêu thể, là phần tinh hoa đã được kết tinh, nó không có thời gian và không gian của sự sống và chết. Như vậy, cái nền của hiện thể là để hóa thân trong siêu thể và siêu thể hóa hiện thể.
Các căn nguyên trong phần hiện thể về phần tướng khi mà mất phần thô lập thì tất cả những giá trị của phần siêu thể ấy không mất. Bởi vì như tôi đã nói có tánh thấy mới lập căn nhãn, có tánh nghe mới lập căn nhĩ, có tánh hương tích mới lập căn tỉ, có tánh thu hút tinh hoa và thọ nạp tất cả những tinh hoa mới lập căn thiệt, có pháp thân mới lập căn thân. Như vậy, tất cả có cái gốc mới ra cái ngọn. Tức là ra hình căn, mà hình căn là phần hiện thể, nhưng khi trở về siêu thể, thì tất cả căn nguyên của tính chất ấy không bị mất, mà phần siêu thể vẫn đầy đủ của thấy, nghe, biết… Cho nên mới gọi là chết không mất thứ gì, chết chỉ làm biến đổi phần hóa thân và thị hiện thôi chứ không mất phần tính.
Trở về siêu thể là trở về với chân bản ánh sáng tổng thể, là trở về với tổng tinh hoa, không còn các hoặc lậu và các nghiệp thức, không còn dính mắc và bị kẹt trong các căn nữa. Vì vậy, Đức Phật ngài nói rằng: Giữa hiện thể và siêu thể nó khác ở chỗ là: người bị các nghiệp thức chuyển động và người đã thắng phục được các nghiệp thức chuyển động. Vậy muốn có đời sống siêu thể thì chúng ta phải dẹp được tất cả các giặc loạn của tâm thức, các nghiệp thức không còn nữa. Chúng ta thắng phục các nghiệp thức, tròn đủ tất cả những công hạnh và tròn đủ một chân tâm, thì đời sống siêu thể sẽ có trong đời sống hiện thể.
Đời sống hiện thể là báo thân, còn siêu thể là gốc của pháp thân. Vậy hiện thể là đời sống huân tập của cái ngọn. Đời sống siêu thể là đời sống của cái gốc. Cái gốc không bị biến đổi, nên gọi là thường trụ, mà thường trụ thì đâu còn biến đổi của quá khứ, hiện tại, vị lai. Vậy quá khứ, hiện tại, vị lai vẫn là đời sống của siêu thể và hóa thân trong hiện thể để độ sinh, đó là theo Công Luật của Bồ tát, Thánh nhân. Như vậy, mất đời sống hiện thể, mà được đời sống siêu thể, thì đời sống siêu thể lớn hơn gấp tỷ lần đời sống hiện thể, vì đời sống siêu thể là đời sống của gốc, còn hiện thể là đời sống của ngọn.
Cho nên có nhiều người họ đã chứng biết rồi họ muốn đi cho sớm, họ muốn diệt độ bỏ thân cho mau. Nhưng nếu họ uống thuốc độc chết thì phạm tội sát sanh, mà phạm tội sát sanh thì mất đời sống siêu thể. Còn nếu mong cho ai đó họ đến đánh giết mình, để mình đi cho sớm, nếu nghĩ như vậy thì cũng cố ý phạm tội sát sanh. Vì vậy nên cứ sống, cứ sống trong đời sống hiện thể để quyết công luyện, công phu, để thành đạt đời sống siêu thể trong hiện thể đó.
Bài hôm nay là bài nhấn mạnh giá trị hiện thực, của sự sống hiện thể và siêu thể có thực trong sự trọn vẹn đầy đủ nhất, không thêm bớt của vũ trụ quan, của Đấng Thống hóa, của khắp cùng chân tính ánh sáng bao la, đã có trong chúng ta một cách đầy đủ như vậy. Có điều là chúng ta phải rèn luyện, phải công phu, phải huân tập để chúng ta trở về với giá trị thực, để ta có một đời sống siêu thể một cách tròn đủ mà không còn bị giới hạn của thời gian và không gian.

SỰ SỐNG VÀ SỰ CHẾT
Có 2 phần.
Thứ nhất: Về hệ thống lập thể của sự sống và lập thể của sự chết.
Thứ hai: Về hệ thống ánh sáng của tính sống và biến động về tính ánh sáng của sự sống.
Như vậy như thế nào là sự chết, như thế nào là sự sống và chân lý của sự sống nằm ở đâu, và có sự sống thật sự trong đời sống của chúng ta không? Hôm nay chúng ta sẽ làm rạch ròi vấn đề này, vì trong đời sống thường thì con người chúng ta luôn nằm trong kinh hoàng và khủng bố thì đó là hoàn toàn chưa có sự sống. Nên Đức Jêsurit có nói là: “Mọi sự kinh hoàng và khủng bố trong đời sống của nhân loại không có sự sống”. Hoặc Đức Từ phụ Thích Ca nói: “Những kẻ nào chưa được bản lai của sự cứu thế hoàn toàn, thì cũng hoàn toàn chưa có sự sống.”
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ xác định và định nghĩa sự sống, như thế nào là sự sống?
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, trong đời sống lập thể của nhân sinh quan thì duy ngã đại thể luôn luôn có 2 phần tính và thể. Phần thứ nhất là nói về tính, thì tính của sự sống là chúng con trở về đích thực trong giá trị chân tính của hạt tâm lý tính. Tức là phải luôn luôn khép mình trong sự nghiệp tu học, thuận theo tất cả những quy luật, định luật mang tính Công luật để kết tinh tinh hoa và thành tựu hạt tâm lý tính bất biến, thì đó là sự sống của tính sống bất diệt. Về phần tính có thể tạm gọi là sự chết vì chúng con có sự sống mà lại chối bỏ giá trị sự sống ấy. Có nghĩa là đã quay lưng với nguồn ánh sáng chân tính. Tức là làm ngược lại những giá trị chân lý, và làm những chuyện phi nhân, phi nghĩa, lạm dụng phương tiện lập thể để thỏa mãn lòng tham dục và chấp trước, thì sự sống đó đã bị biến thể đồng nghĩa với sự chết.
Về hệ thống lập thể cũng có 2 phần: sự sống và sự chết. Hệ thống lập thể là nhằm để cho nhân bản đại thể kết tinh phần tính chất tinh hoa mà tiến hóa. Như vậy phần chất tính của vật thể sau khi được tinh lọc đem ứng dụng vào đời sống tiến hóa của tri thức, thì đó là sự sống. Và sau khi kết tinh thì cặn bả quặng cấu được đào thải ra, thì đó có thể tạm gọi là sự chết. Như vậy, chúng con dùng vật thể phải biết tinh lọc nó mới có được đời sống tri thức lớn hơn và thăng hoa trong giá trị tri thức ấy thì mới có được sự sống vĩnh trường của hạt tâm lý tính bất diệt.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, đối với phạm trù sự sống và sự chết nó đã hiện hữu trong thế giới quan, trong nhân sinh quan. Khi hình thành có vật thể là đã có sự sống và sự chết.
Về quan điểm của nhân sinh ngày nay người ta cho rằng khi phần lập thể này nó không còn chuyển động phát triển nữa và nó chuyển sang một trạng thái khác thì đó là sự chết.
Như vậy, trong vạn vật theo quan điểm của nhân sinh quan bình thường thì sự sống và sự chết luôn luôn được tồn tại. Tuy nhiên đến ngày hôm nay thì khoa học đã chứng minh vật chất nó không mất, có nghĩa là nó cũng không có chết. Đó là phần lập thể đối với lý tính thì định nghĩa của sự sống là sự tròn đủ của sắc và siêu sắc để phát triển tinh hoa. Như vậy về phần lập thể đã không có chết mà chẳng qua là sự chuyển trạng. Còn phần lập tính thì tất nhiên hạt tâm lý tính là hằng hữu và tự có rồi và không bao giờ mất. Thì chỉ có sự sống của thăng hoa và trầm luân khổ não mà thôi. Như vậy nếu có sự chết là chết trong ý niệm hằng ngày của cuộc sống. Nếu chúng ta quay trở lại về nội thể của ý niệm thì sẽ thấy liên tục có sự chết và liên tục có sự sống không ổn định, nên tất nhiên là có sự chết. Nếu chúng ta ổn định và đi thẳng về cửu kinh minh triết thì tất nhiên sẽ loại trừ sự chết trong cuộc sống để sẳn sàng bay thẳng lên không gian và trở về kim tính một cách rất vững chắc và hoàn toàn không có sự chết nữa.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, đối với vũ trụ quan đã cho tất cả muôn loài vạn vật một sự sống bất diệt, đó là tất cả đều có hạt tâm lý tính. Như vậy vũ trụ Công Luật hóa đối với sự sống nhân bản đại thể là một sự tiến hóa đi đến giải thoát, đó là sự sống thường trụ vĩnh viễn.
Còn sự chết là khi đã hình thành lập thể thân tứ đại thì trãi qua một quá trình sinh lão bệnh tử, đó là sự chết mà sự chết này là sự chuyển trạng để phục sinh nhân quả trở lại để tiến hóa, đó tạm gọi là sự chết.
Như vậy, chúng ta xác định về phần lập thể là chuyển trạng phục sinh nhân quả. Và sự sống là tất cả nhân bản đại thể đều có hạt tâm lý tính và vĩnh viễn bất hoại trong định luật hóa của vũ trụ.
Ngài bảo ông Chơn Hiếu Đàn Lâm định nghĩa về sự sống và sự chết.
Ông Chơn Hiếu Đàn Lâm: Thưa Cha, về sự sống mà Thống hóa vũ trụ đã ban cho nhân loại đó là hạt tâm lý tính, đó là sự sống bất hoại. Còn sự chết là thuộc phần lập thể, nhưng thực chất chết ấy không nghĩa là mất mà là sự chuyển trạng phục sinh nhân quả, để được thăng hoa hoặc trầm luân. Còn thực chất trong đời sống vĩnh hằng của vũ trụ đó là chân tính ánh sáng thì hoàn toàn không có sự chết.
Ngài bảo ông Chơn Luân Quân Tích định nghĩa về sự sống và sự chết.
Ông Chơn Luân Quân Tích: Thưa Cha, nói về chân tính ánh sáng thì đó là sự sống trường tồn và hằng hữu trong muôn loài vạn vật không thể tách rời được chân tính ánh sáng đó. Vậy sự chết ở đây thuộc về phần lập thể. Khi con người chưa giác ngộ thì cho đó là sự chết, nhưng thực chất các lập thể tan biến đó là sự chuyển trạng để hình thành các lập thể khác. Như vậy chính sự chuyển trạng và hình thành đó là hoàn toàn không có sự chết.
Như vậy, đối với hạt tâm lý tính thì không có sự chết mà chỉ có sự sống trong sự an vui và sự sống trong khổ đau mà thôi.
Ngài bảo ông Chơn Luân Thương Bang trình bày.
Ông Chơn Luân Thương Bang: Thưa Cha, đứng trên tinh thần của vũ trụ quan thì sự sống là bất biến, vì ở vũ trụ quan hằng có sự sống trong chân tính ánh sáng và hóa sinh ra tất cả muôn loài và vạn vật. Thì muôn loài vạn vật không thể tách rời giá trị của chân tính ánh sáng để mà tồn tại. Vậy thì tất cả các vật từ cực vi đến cực đại đều có sự sống của chân tính ánh sáng. Đứng trên tinh thần Công luật vũ trụ thì phần lập thể cũng không mất, không chết mà chuyển trạng từ 1 dạng trạng thái này qua 1 dạng trạng thái khác. Thì đối với khoa học biện chứng đã chứng minh về giá trị của phần lập thể là hoàn toàn chuyển trạng. Và nhân ở sự chuyển trạng đó mà người ta cho rằng mất, nhưng hoàn toàn là không mất. Như vậy được sự chuyển trạng đó là nhân ở chân tính ánh sáng hạt tâm lý tính để mà tồn tại và sống từ 1 dạng trạng thái thấp đi đến 1 dạng trạng thái cao. Nhưng vì con người chưa giác ngộ nên chưa nhìn nhận được giá trị sống đời đời của vũ trụ. Như vậy đối với vũ trụ là sự sống trường tồn vĩnh viễn mà không có sự chết.
Ngài bảo ông Chơn Phát Đạo Quang trình bày.
Ông Chơn Phát Đạo Quang: Thưa Cha, sự sống là sự vĩnh hằng trường tồn mãi mãi mà không bị biến đổi, thì đó là chân tính ánh sáng của trung tâm. Còn về vật thể khi đã kết tinh kim cương thì trở thành sự sống bất hoại. Đối với đời sống con người khi thấy phần lập thể bị tan biến thì cho rằng sự chết, nhưng đó là chuyển trạng để phục sinh chứ không có chết. Như vậy thì luôn luôn có 2 cái sống, 1 là nếu biết tiến hóa, quay về tột đỉnh với chân tính ánh sáng, thì được sống trường tồn mãi mãi an vui. 2 là nếu không biết quay về thì sự sống ấy mãi mãi trong trầm luân khổ đau.
Ngày dạy: Vậy sự sống có 2 phần. 1 là phần thực tướng của chân tính tuyệt đối của sự nghiệp vũ trụ, là sự sống đời đời vĩnh viễn, không có sự chết. 2 là phần hóa lập thể của các tướng pháp, nên đức Phật nói thân ngũ ấm là thân giả hợp.
Như vậy, thực tướng là không có chết, thì thực tướng tức là hạt tâm lý tính, là chân tâm, là ánh sáng, là tri thức, là sự sống tuyệt đối vĩnh hằng. Như vậy, tuyệt đối ấy thuộc về chân tính mà trong chúng ta có chân tính thì làm sao có cái chết. Như vậy hôm nay các con đã trả bài đúng. Xác định được chân lý của vũ trụ và chân lý của nhân sinh. Nhân sinh và vũ trụ tuy 2 là 1, thì giá trị sự sống đã được thống nhất trong giá trị lý tính ấy. Cho nên lĩnh vực thực tướng tuyệt đối không có cái chết.
Cái gì thuộc về giả tướng? Những gì thuộc về mượn, thuộc về giả hợp thì tạm gọi là sự chết. Nhưng trong sâu sắc của cái chết ấy là cái hoàn lưu. Vì trong định luật tuần hoàn là luôn luôn có cái hoàn lưu, là trả lại phần đã mượn. Như thân xác chúng ta bị vỡ tan đi là trả lại cho phần đại thể tứ đại. Như vậy từ sự sống này qua sự sống khác của một gạch nối mà gọi là chết thì cái chết ấy không thực. Vì khi sống nó đã là giả thì khi chết nó cũng là giả. Như vậy cái chết là thuộc về giả.
Tóm lại, định nghĩa về thực tướng là không có chết, về giả tướng là có chết. Thì cái chết đó thuộc về giả.
Như vậy, cái thực hoàn toàn không có chết, nhưng cái giả thì hoàn toàn có chết. Thì tính chất sâu sắc của sự sống và sự chết là khi chúng ta chưa trở về thực tướng, thì chúng ta hoàn toàn bị chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng và ngã tướng nó cuốn chúng ta đi theo cái chết của thời gian và không gian trong cái giả đó. Vì chúng ta đang sống trong ảo giác và hoàn toàn không có sự sống thực tướng thì chắc chắn chúng ta sẽ theo cái giả đó mà chết với nó. Như vậy là ở trong cái giả tướng để chết vì giả tướng và bị kẹt trong cái chết của giả tướng ấy, thì cũng là một điều đau khổ của cái chết mà khó có thể ra được.
Như vậy, khi chúng sinh chưa trở về thực tướng để có cái sống thực tướng, thì hoàn toàn chúng sinh bị cái chết trong giả tướng và luôn luôn chịu khổ đau trong giả tướng đó mà hạt tâm lý tính của nó không bị mất đi mà lại cuốn theo cái sinh tử tương tục vô tận ấy thì chúng sinh ấy phải chịu khổ trong sinh diệt tương tục vô tận. Đó gọi là luân hồi và nhân quả. Vậy chuyển hóa phục sinh nhân quả có 2 trạng thái. Trạng thái thượng là an vui, trạng thái hạ là khổ đau. Vậy một là con đường của sự siêu hóa, và cảnh giới an lạc tột vị của giá trị sự nghiệp chân tính. 2 là lầng quầng trong 6 đường: địa ngục, ngạ qủy, súc sinh, Atula, Nhân, Thiên. Như vậy, 6 con đường của sự sống đang kẹt trong giả tướng và đang nhồi cái nghiệp thức của hạt tâm lý tính trong giả tướng ấy thì sự khổ đau ấy dù cho có sống cũng coi như đã chết rồi.
Như vậy sống trong sự khổ đau là sống trong cái chết… Còn sống trong thực tướng của không khổ đau là sống trong sự vĩnh hằng và sống trong cực lạc.
Sự sống khổ đau là sự sống của ý niệm tương tục vô tận mà không chấm dứt của mọi ý niệm sai lầm, tà vạy và bất chính. Những ý niệm này hoàn toàn xé nát về hạt tâm lý tính.
Sự sống an lạc là sự sống của ý niệm mạnh mẻ trong sáng, thánh khiết và cao vượt và đem ý niệm đó để giúp đời. Thì những ý niệm này sẽ làm giàu mạnh về hạt tâm lý tính.
Như vậy sự khổ đau và an lạc đều phát sinh từ ý niệm, từ tư tưởng. Nên Như Lai đem tư tưởng vĩ đại nhất để ổn định về sinh lão bệnh tử và xem sinh lão bệnh tử là một công trình kỳ luyện cho sự nghiệp hóa thân, nên Như Lai không có khổ đau. Còn đối với chúng sinh thì luôn luôn phát sinh lòng tham sống sự chết và phân biệt mọi bệnh trạng, nên khi bệnh đến là hoảng hốt sợ hãi. Còn đối với Như Lai không có hoảng hốt vì Như Lai biết định luật sinh lão bệnh tử chỉ có chính vị hóa của chính mình mới hoán đổi được sinh lão bệnh tử, chứ không thể lấy tiền bạc hoặc của cải vật chất và các loại thuốc quý nhất ở trong thế giới quan để hoán đổi sinh lão bệnh tử. Những thứ vật chất đó chỉ tạm thời giải quyết kỳ hạn của giá trị sinh lão bệnh tử chứ không thể giải quyết được toàn diện của sinh lão bệnh tử. Vì Như Lai cũng không thể lấy chính vị và sự thành đạt vô thượng chính đẳng giác của mình để hoán đổi sinh lão bệnh tử của chúng sinh. Vì sinh lão bệnh tử của chúng sinh là mục đích công án hóa để kết tinh tinh hoa chân tâm. Nếu thay đổi công án ấy thì Như Lai cũng phạm tội bởi giá trị hóa kim cương chân tâm của chúng sinh.
Như vậy, đứng trên tinh thần chung, Như Lai đã thành Phật mà không đem quyền lực tối cao đó để mà thay đổi sự sinh tử của chúng sinh được vì sinh tử của chúng sinh là bản địa công lập giá trị công trình tối thượng ánh sáng của vô thượng chính đẳng giác. Nên Như Lai bèn thuyết pháp để nói về công trình sinh tử là mặt bằng của sự nghiệp hóa để thành tựu tinh hoa kim cương chân tâm có một sự sống đời đời. Như Lai bèn nói hệ thống lập thể là phương tiện hóa, là cái mượn, thì các ngươi chớ tham đắm cái mượn ấy, rồi cho cái mượn ấy là thực thì các ngươi sẽ chết với cái mượn ấy. Vậy hãy trở về với thực tướng của mình. Nghĩa là lìa được, ổn định được và biết rõ được về công thức sinh lão bệnh tử và kỳ luyện trong sinh lão bệnh tử để tự thoát ra khỏi sinh lão bệnh tử mới có một sự sống đời đời, thì đó là sự sống của chân tướng mà trong các ngươi hoàn toàn đã có.
Như vậy mọi giá trị đều được thoát ra từ thế giới nhị nguyên của bùn và ngó sen. Nhưng khi ra khỏi thế giới nhị nguyên thì chúng ta sẽ gặp được mặt trời trực tiếp. Như vậy khi còn kẹt ở trong thế giới của sự giả mượn thì chúng ta được hưởng thụ ánh sáng gián tiếp, còn khi ra khỏi hệ thống lập thể rồi thì hưởng được ánh sáng trực tiếp của trung tâm vạn năng. Nên mới có kinh trung tâm vạn năng chiếu phật quang. Và phật quang bất đoạn chân tính trung tâm quyền năng hóa.
Như vậy, khi hạt tâm lý tính hưởng được ánh sáng trung tâm trực tiếp là sự sống đời đời vĩnh cửu với trung tâm vạn năng và chúng ta cùng trung tâm vạn năng là một.
Như vậy chúng ta đã tìm ra bài giải của sự sống và sự chết. Và giá trị tuyệt đối của sự sống và tương đối của sự chết.



THỰC TẾ PHẢN THỰC TẾ VÀ
THỰC TẾ SIÊU THỰC TẾ
Trong đời sống của duy ngã đại thể trong hệ thống hành tinh và liên trùng hành tinh nó luôn có hai mặt trạng thực tế, phi thực tế và thực tế, siêu thực tế. Đó là tính khách quan của sự nhìn nhận đối với giá trị hiểu biết của hạt tâm. Vì Đức Như Lai nói: sự sống ấy hoàn toàn không phải phi hạt tâm mà thuộc về hạt tâm, nhưng sự sống ấy không thể tách sự hiểu biết để có sự sống. Vì nếu có sự sống mà không cần sự hiểu biết thì sự sống ấy trở thành vô nghĩa. Như vậy chúng ta nói được câu thực tế là chúng ta có hiểu biết rồi, vì có hiểu biết nên mới có phân biệt giữa cái thực tế và không thực tế; có hiểu biết nên có giác ngộ cao hoặc thấp và nhìn nhận một cách tổng thể, hoặc nhìn nhận ở một góc độ. Nhìn nhận một cách trọn vẹn hay là nhìn nhận ở một khía cạnh. Như vậy một khi mà chúng ta chưa có một sự nhìn nhận tổng thể, chưa có một sự nhìn nhận thuộc về tri thức cứu cánh ở trong đời sống lập thể ấy, thì Đức Như Lai bảo rằng: nó thực tế nhưng cuối cùng nó sẽ không bao giờ có thực tế. Vì sao? Vì nó có một cái nhìn nhận ở một chiều, một bên, không có trọn vẹn, không có tổng thể, nên hoàn toàn nó bị kẹt ở phần lập thể ấy, và bị lập thể che chắn làm rào cản không cho nó thấy được nguồn gốc của chính nó, thì đó có nghĩa là thực tế nhưng phi thực tế. Phi thực tế vì nó hoàn toàn không làm chủ được những thứ nó có, kể cả sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không và sinh trục di diệt nó cũng không làm chủ được.
Khi chúng ta chưa làm chủ được sinh mệnh của mình thì hoàn toàn là phi thực tế, vì thường là chúng ta bảo thủ những thứ thuộc về không thường trụ nên chúng ta bị mất đi thực tế.
Những ai giác ngộ được thường trụ, gìn giữ được thường trụ và thấy được thực tướng của thường trụ. Đó là những cảnh giới của những bậc thiện tri thức uyên bác. Như vậy thiện trí thức là con người hoàn toàn không bỏ lập thể, nhưng vận động trên hệ thống lập thể để quay ngược 180 độ về giá trị hạt tâm và không cho hạt tâm tách rời hệ thống lập thể ấy mà làm chủ được hạt tâm để điều ngự lập thể, thì những người ấy là thực tế và đi đến siêu thực tế.
Về tính khách quan của đại đồng nhân loại trên hành tinh thì thường thường về công án hóa thượng là cho các hệ thống hạt nhân nổi bật lên trên, thì chính nó luôn luôn có mặt trong thực tế và đi đến siêu thực tế. Còn khi bị đẩy ngược xuống ở chu trình hạ thì đối với những người bảo thủ vật chất và luôn luôn chạy đuổi bắt theo vật chất mà quên đi ánh sáng của mình bên trong, thì những người ấy thực tế mà phản thực tế.
Phản thực tế cho những con người hướng ngoại, luôn luôn dong ruổi phân biến, biến động ý thức và không bao giờ ổn định thì những người ấy có thực tế cũng như không.
Thực tế cho những con người ổn định được bên trong và bên ngoài, tức là tâm vật đã trở về một gốc và đã thực hiện công trình tụ, mặc dù vật nó biến đổi vô thường nhưng mà họ biết rằng sự vô thường ấy là để trở về với thường trụ, chứ không phải vô thường để mất đi giá trị thường trụ của chân tính thì những người ấy là thực tế và đi đến siêu thực tế.
Như vậy những ai biết tinh lọc và giác ngộ thực tế của hệ thống lập thể để mượn hệ thống lập thể đi vào quỹ đạo nội thì những người ấy có siêu thực tế. Còn nếu dùng ý thức hiểu biết chạy suốt ra bên ngoài, dù có ba ngàn kiếp để tìm những cứu cánh thuộc về lập thể, khi lập thể ấy tan biến thì nó cũng chết theo lập thể ấy nên nó không có thực tế. Nó luôn luôn bị áp lực phản thực tế của sự biến đổi không cùng tận và quá khứ hiện tại cứ liên tục thay đổi nên chính nó có thực tế mà không có thực tế, và cuối cùng nó bị chết chìm trong phản thực tế của biển lọc và giá trị của sự đau khổ vô cùng của hệ thống lập thể.
Vậy hãy thấy con người là thực tế, hãy thấy vũ trụ là thực tế, và giá trị thực tế ấy là có tính cứu cánh cao trong sự nghiệp hóa. Nếu chúng ta hóa thượng, hóa nội thì thực tế ấy sẽ đi đến siêu thực tế, nếu chúng ta hóa ngoại và hóa hạ thì hoàn toàn thực tế phản thực tế.



ĐỨC TIN THỰC TƯỚNG
Trong đời sống con người chúng ta có nhiều đức tin như tin về thần linh phép lạ, tin về khoa học là cứu cánh, tin về những người ân nhân như tin ở cha mẹ, tin ở chồng vợ, tin ở bạn bè v.v…Tất cả những đức tin ấy không thuộc về tính nguyên lý của giá trị thực thể về đức tin. Đức tin ấy còn bị biến đổi vì nó không thuộc về pháp tính và không thuộc về chân tướng của đức tin. Như tin rằng có trường sinh bất tử của lập thể, thì đó là điều hư huyễn không có thực tướng.
Ta tin những điều thuộc về bản năng bản ngã, thuộc về tình cảm của chủng nghiệp còn nằm trong tình nghiệp, thì đời sống đức tin ấy không phải là tính cứu cánh. Như chúng ta tin con đường duy vật biện chứng, duy tâm cực đoan. Hoặc tin vào duy linh độc thần phép lạ thì tất cả đều không có thực tướng.
Tóm lại, những đức tin nào mà bị biến đổi thì những đức tin ấy không thuộc về tính chất và giá trị đức tin của thực tướng. Giá trị thực tướng của đức tin là như thế nào? Như chúng ta đi từ chánh niệm và những pháp môn chân chính, có lực đẩy để đưa chúng ta đi vào quỹ đạo giải thoát, thì đó là tính chất và giá trị đầu đời về tính thực tướng của đức tin.
Như vậy các pháp chính thống về giá trị hóa đức tin và thành lập đức tin có tính bất biến ấy, thì chỉ có một nguyên lý duy nhất đó là chân tính.
Những đức tin thuộc về các pháp vô thường biến đổi, không có chủ thể, thì bản chất giá trị đức tin ấy sẽ bị một mai không có tính cứu cánh. Khi chúng ta làm biến đổi chân tính của các loại nhân quả xấu, đã làm cho pháp tính ấy bị biến đổi, thì dù cho chúng ta có thiết lập bất cứ một đức tin nào trong đời sống ấy cũng sẽ không bao giờ có thực tướng.
Đức tin có thực tướng là chúng ta phải đặt tính chất và giá trị đức tin ấy vào mục đích của tính cứu cánh cao nhất trong đời sống của nhị nguyên. Niềm tin chân chính nhất của giá trị nguyên lý thực tướng, là chúng ta phải hóa được cấp thượng nhân quả trong đời sống đó. Như chúng ta thiết lập những bộ nhân quả thuộc về cấp thượng, mang tính lực đẩy đưa tính chất và giá trị đức tin lên giá trị thực tướng, thì chúng ta hoàn toàn là gieo trồng xây dựng và thực lập những giá trị thuộc về công đức và trang nghiêm. Như vậy người công luật là thiết lập giá trị đức tin ở tính chất cứu cánh và mang tính thực tướng.
Chúng ta tin rằng chúng ta luôn luôn thực hiện những công trình, công phu, công quả tốt và rèn luyện tốt trong sự nghiệp học của các bộ kinh điển quan trọng nhất có tính khoa học, có tính minh triết và sáng tạo, đem lại hạnh phúc cho nhân loại, thì đó là đức tin chân chính.
Đức tin của người công luật là thiết lập hệ thống chính hóa sự nghiệp công luật, mang tính các pháp chính thống, thì mới có tính chất bền vững về cấu trúc đức tin mà không bị biến đổi. Như vậy, những pháp thuộc về không có tính chính thống thì loại trừ ra khỏi tính chất và giá trị đức tin của thực tướng. Vì chúng ta biết rõ về trục ánh sáng nguyên lý, về tính bất biến của trung tâm vạn năng có trong chân tính chúng ta. Chúng ta có chân tính ấy để thiết lập và hình thành hệ thống pháp chính thống để gìn giữ đức tin và hóa đức tin, thì đức tin ấy sẽ mãi mãi hằng hữu không bao giờ mất.
Hôm nay chúng ta tin rằng trời đất đã giao cho chúng ta một quả núi quí, tức là Thạch Bia Sơn hóa cửu kinh. Đó là công án hóa các pháp chính thống, đó là đức tin thực tướng. Đức tin thực tướng hoàn toàn hằng có trong đời sống của chúng ta mà chúng ta không cần phải cưỡng ép, vì cưỡng ép có thể phát sinh những đức tin mang tính vô thường, tức hôm nay tin rồi ngày mai không tin. Chính vì chúng ta không có đức tin thực tướng mà chúng ta bị biến đổi đức tin, nên có thể đi về công luật mà không thấy thực tướng của công luật là như vậy.
Về kiến thức và trí huệ cơ bản của đức tin, là chúng ta muốn tìm một chân lý mang tính cứu cánh, thì thứ nhất phải có tính biện chứng, thứ hai phải có triết chứng, thứ ba phải có bảo chứng, thứ tư phải có công chứng. Nếu bốn phép về giá trị mặt bằng của tứ chứng ấy không có, thì đức tin ấy hoàn toàn sẽ bị sụp đổ.
 Thần linh có thể hóa chúng ta được không?
Nếu chúng ta không làm sáng tỏ tổng tinh hoa của Duy ngã mà tự thần linh hóa đức tin, thì bỏ mất bản chất giá trị thực của tính tổng tinh hoa đã cho chúng ta và cũng không còn cái thực địa giá trị của sự tiến hóa nữa, mà gần như ký gởi đời ta cho thần linh hóa. Như vậy phép thần linh hóa cũng là phép không có thực thể với đời sống của Duy ngã đại thể. Chỉ có duy ngã đại thể là giá trị thực thể của đời sống mà chúng ta cân bằng trong đời sống tâm vật.
Ngày xưa khi đức Như Lai ra đời thì Duy thần bá đạo quá nhiều. Ngài đưa ra tất cả những học thuyết để làm thay đổi cái ý niệm bá đạo thần linh quá lớn đó. Thậm chí họ thờ heo, thờ bò và thờ nhiều hình tượng khác. Tức là họ tin thứ gì cũng có thần, kể cả đất nước gió lửa cũng có thần. Thì Như Lai nói: ta đồng ý rồi, cái thần của sức uy nhiệm và giá trị hoạt động của vật lý, của hệ thống nhị nguyên, chớ không thể có cái thần linh ảo thuật ở trong giá trị vật lý mà thiết lập hệ thống cơ cấu đó được. Chúng ta phải hiểu nghĩa của thần linh là linh năng hóa thần tụ. Ở trong nước có thần là sự yên định để phản chiếu tánh thấy của nước, ở trong lửa có thần là sự rực rỡ quang minh của tính sáng. Ở trong mặt trời có thần là không phân biến tính tụ của sự định chiếu thống nhất. Ở trong đất có thần là chân hành hóa và kết tinh tất cả những tinh hoa và nuôi dưỡng vạn hữu trên mặt đất. Như vậy cái thần ấy là thần của khoa học, thần của triết học, thần của kinh điển chứ không phải cái thần của thần linh. Như vậy, tổng hàm hóa của giá trị thần là tổng tinh hoa thần chiếu tính ánh sáng vô biên, là sự chiếu ánh sáng vô tận và kết tinh tinh hoa không cùng để hóa và lập từ thượng tầng, trung tầng, hạ tầng và từ hạ tầng đi ngược trở về thượng tầng để thể nhập và làm chủ được tính thống nhất của giá trị hóa.

KHẢ ĐẮC VÀ BẤT KHẢ ĐẮC
Thế nào là khả đắc và thế nào là bất khả đắc?
Nếu chúng ta cố chấp đạo là bất khả đắc thì chúng ta đi ra vào trong sinh tử trở thành không có gì để đắc, thì giá trị thực tướng của đạo không có trong đời sống của chúng ta. Còn nếu chúng ta cho đạo là khả đắc thì đắc cái gì?
Từ lâu chúng ta nghe Như Lai nói quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất khả đắc. Mà trên thực tế ở kinh A Hàm thì cái gì cũng có thể đắc được hết. Còn cái không thể đắc được là vì đã vượt trên mọi cái đắc và thành tựu giá trị vô thượng đắc thì cái đó đâu còn gì để đắc nữa. Ở đây chúng ta phải nghị luận như thế nào để có được điểm trung tụ và bảo hòa giữa cái đắc và không đắc đó, thì chúng ta mới thấy được chân lý thực thể của nó.
Nếu chúng ta cố chấp bất khả đắc là hoàn toàn không có gì để đắc và xem thường các giá trị nghĩa lý của sự chứng thành thì chúng ta sẽ rơi vào đoạn pháp, có thể rơi vào đoạn kiến. Vậy, nếu ta cố chấp bất khả đắc thì sẽ rơi vào cuồng ngông của các pháp và sẽ bị loạn pháp chớ không phải là trật tự hóa về các hệ thống thiết lập của các pháp có tính ổn định để dẫn ta đi đến thành tựu chân tính một cách viên mãn.
Diệu nghĩa về bất khả đắc mà Như Lai muốn nói là thuộc về chân tính ánh sáng, luôn luôn chuyển động trong quỹ tích của quá khứ, hiện tại, vị lai mãi mãi tròn đủ ánh sáng ấy mà không bị dứt đoạn.
Cái đắc mà chúng ta cố chấp ấy nó thuộc về phần lập thể, thì Như Lai nói rằng: Quá khứ hệ thống lập thể của chúng ta đã chịu định luật thành trụ hoại không và sinh trụ dị diệt. Những thứ quá khứ ấy nó không còn nữa mà nó tập hợp về tâm nghiệp của chúng ta hôm nay rồi. Như vậy, tâm nghiệp của chúng ta hôm nay là biện minh của quá khứ, thì chúng ta đi tìm quá khứ không thể có.
– Như Lai hỏi đức A Nan: Ông đi tìm quá khứ của ông, hay là ông trở về thực tại để tìm chính ông?
– Đức A Nan đáp rằng: Tất cả những quá khứ về thân trước của con đã chịu những định luật sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, sinh tử bệnh lão nó đã biến đổi một cách hoàn toàn, thì hôm nay quá khứ ấy nó đã thành lập cái hiện tại và quá khứ là hoàn toàn đang ở với hiện tại của con.
– Như Lai nói: Ông nói đúng, ông đã ngộ được rồi đó! Nhưng nếu ông cố chấp hiện tại một cách bảo thủ thì hiện tại đó có bị biến đổi không?
– Đức A Nan đáp: Hiện tại sẽ bị biến đổi.
– Như Lai hỏi tiếp: Nếu hiện tại thay đổi về phần lập thể nhưng tăng trọng ánh sáng về phần tri thức thì tri thức ấy có bị biến đổi không?
– Đức A Nan đáp: Dạ thưa không.
Như vậy, phần bất khả đắc là thuộc về phần lập thể, nhưng phần siêu đắc hóa ánh sáng là phần lập tính, thì chúng ta lìa cái sở chấp hữu của đắc để đắc được phần tính. Đó là cái không thể đắc mà đắc.
Như vậy, Giữa cái không thể đắc trong đó có cái siêu đắc, giữa cái không thể thành, không thể thường trụ thì trong đó có cái thường trụ.
Nếu Như Lai bài kích về tất cả những giá trị là bất khả đắc và không có thứ gì đắc, thì Như Lai lập 4 quả thánh, Bích Chi, Bồ Tát và Như Lai để làm gì. Vậy Như Lai phá các sở đắc của lập thể và không dính mắc các sở đắc lập thể là nhằm để hoàn lưu được kim thể và chứng tính, đắc tính giá trị vô thượng đắc. Đắc đó là vượt trên mọi cái đắc bình thường, đó là không chấp đắc mà đắc.
Như Lai ngài hỏi ông Cấp Cô Độc rằng: Nếu trong hiện tại ông tự hào ông là tỉ phú và đắc được tỉ phú, thì tỉ phú đó có bị biến đổi theo thời gian và không gian không?
Trưởng giả Cấp Cô Độc quì gối thưa rằng: Tất cả mọi phúc âm đã báo rõ cho con về sự giàu có ấy, nay hoàn toàn con không thể giữ lại được nó, vì nó không phải là thực tướng cho nên không thể đắc.
Như Lai bèn khen rằng: Ông Cấp Cô Độc, ông đã hoàn toàn đắc thành giá trị chân tướng, nên ông đã phá được tất cả mọi sở đắc về tỉ phú mà chính ông đã có. Chính ông đã phá được sở đắc của tỉ phú, nên ông đã chuyển qua đắc A Lại Da; tức là ông đã đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đó là cái không thể đắc mà đắc.
Như vậy, chúng ta phải hiểu về tính trung đạo và rạch ròi giữa cái không thể đắc. Chúng ta biết rõ cái có thể đắc thuộc về cái thể đắc mà chúng ta không bị dính các thứ cố chấp về sở đắc ấy, thì chúng ta sẽ có một cái đắc thành tựu như nhiên, mà đắc ấy không cần phải cầu vọng.
Hôm nay nếu các ông hoàn toàn xa lìa mọi cái đắc về hữu vi, về cố chấp lập thể, là các ông đã tự chứng đắc được những giá trị của siêu thể rồi, thì các ông hoàn toàn không mất về vị lai, vậy các ông chẳng nên cầu vọng gì về vị lai.
Đức Như Lai nói: Chớ cầu vị lai sớm, vì vị lai là những thứ chưa đến với chúng ta, nếu ý niệm chúng ta tưởng về vị lai là chúng ta đã đi trước cái thực thể của chính giá trị mà ta đã có về vị lai. Vì vậy chúng ta không nên cầu về vị lai. Đó là vị lai bất khả đắc về mọi ý niệm, vì nếu chúng ta dùng tư tưởng để vọng trước, thì mọi cái đắc ấy không thể là có thực được.
Nếu hiện tại chúng ta đã đạt được quả vị chân tính, thì đối với vị lai chúng ta không cầu, không muốn nó vẫn có. Vị lai không thể đắc, nhưng nếu xác định về giá trị đắc chứng và thành tựu A La Hán ngay trong kiếp này thì vị lai sẽ là A La Hán mà thôi. Tức là ngay trong đời sống hiện tại mà các ông đã là A La Hán thì vị lai cũng là A La Hán chứ có gì đâu mà đắc với không đắc. Còn nếu ngay hiện tại các ông còn nằm trong định luật giữa ác và thiện, còn chịu mọi sự biến cố của ý thức thì vị lai đâu thể biết được mình là thứ gì, ra tác phẩm gì và ở bậc nào thì điều đó hoàn toàn không thể biết.
Chúng ta phải thấy trong cái không đắc ấy thì nó vẫn có cái biệt nghĩa của đắc, nhưng đắc ấy không thuộc về thời gian và không gian, mà đắc ấy nó thuộc về kiến tính, trực tính, nhập tính và thành tựu chứng tính. Đắc ấy là cái đắc trọn vẹn của ba thời kỳ quá khứ hiện tại vị lai, là cái đắc cao qúi nhất của chúng ta.
Chúng ta chẳng nên bảo thủ cố chấp về các pháp sở đắc.Chúng ta cũng không đánh mất về chân tính, kiến tính của sự thành tựu tâm đắc. Vậy, trực chỉ chân tâm để kiến tánh là cái đắc cao quí nhất của những hệ thống kinh triết mà Như Lai muốn nói. Đó là không đắc mà đắc. Đó là đắc thực tướng thì ít ai chiếm được địa vị đó. Mà thường là cố chấp đắc các pháp mượn và các pháp hóa, các pháp giả lập, các pháp tướng ở ngoại biên, thường dẫn đi ngoại biên và ràng buộc ý thức vào các cố chấp của các sở đắc mà bị dính mắc ở trong các sở đắc ấy, chứ thật ra không có đắc chân tâm.
Bản giác nguyên sinh về giá trị hóa chính nó là thực thể, thì không có trụ và không trụ. Bởi biến cố của phân thức mà sinh ra trụ và không trụ, chính sự phân biệt của ý thức mà có sự khác biệt của quá khứ hiện tại vị lai, chứ thật ra quá khứ nó đã được bảo chứng của hiện tại rồi. Tất cả mọi sự qui túc của quá khứ đã trở về với ta. Nên đức Phật mới phán quyết rằng: “ Ông muốn biết được quá khứ thì hãy nhìn cái hiện tại cuộc sống của ông đó.
Còn chúng ta cố chấp về hiện tại, một khi chúng ta có một đời sống vinh hoa, mà chúng ta quên mất chân tính sống và giá trị thường lưu của tính bất biến mà nhảy ra ngoài cái vinh hoa ấy, thì giá trị đó cũng sẽ bị đánh mất. Nếu quá khứ đã về mà hiện tại chúng ta lại không biết giải quyết nó, thì chính hiện tại đó cũng còn là vô thường. Nếu trong hiện tại mà chúng ta tiếp tục làm những công năng, công đức, công hạnh của một sự nghiệp chân chính thì xác định về vị lai mọi giá trị tốt đẹp nhất sẽ đến với chúng ta, mà không cần phải vọng gì đến tương lai.
Vậy, hiện tại là hiện thực hóa của hai đầu mối giữa quá khứ và vị lai. Đức Phật lấy hiện tại là tập trung cho sức mạnh và giá trị tổng hợp của nó. Chỉ có một điều là chúng ta không lầm lẫn các pháp hữu thể để làm biến đổi cái thực thể của chính ta.
Như vậy, Như Lai muốn nói bất khả đắc ấy nó không thuộc về chân tâm. Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc và vị lai bất khả đắc là không thuộc về chân tâm.Nếu thuộc về chân tâm thì qúa khứ, hiện tại, vị lai đã trở về một mà không còn quá khứ hiện tại vị lai nữa; vì quá khứ, hiện tại, vị lai nó vẫn là ánh sáng chân tính bất diệt, thì chính nó là một chứ không có ba.
Như vậy, các pháp bất khả đắc ấy là không thuộc về chân tâm. Còn nếu là “trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật” thì đâu cần gì quá khứ đắc, hiện tại đắc và vị lai đắc. Thế thì những thứ đắc ấy nó hoàn toàn không có thực tướng. Vậy, các pháp có thể đắc và không thể đắc là nghĩa ấy chứ không phải là không đắc. Vậy thì hai sự cố chấp về bất khả đắc và khả đắc đều bị rơi vào các pháp biến động và thay đổi giá trị chân tính ánh sáng của quá khứ, hiện tại và vị lai.


PHÁP BẢO MỆNH AN SINH
Thường thì con người sống trên cõi đời này không thể biết trước được là mình sống được bao nhiêu tuổi thì chết. Vì luật vô thường mà con người không làm chủ được thân mệnh của mình. Thì bài học hôm nay là nói về nguyên tắc bảo mệnh và hệ thống pháp bảo mệnh trong một quy trình thuận. Vậy pháp bảo mệnh thuộc về lĩnh vực nào? Và giá trị ấy thuộc về ai? chúng ta sẽ làm rõ chỗ này.
Về mặt lập thể thì chúng ta thấy không có gì là vững chắc cả, như về thân mệnh con người thì cái chết luôn luôn rình rập và khủng bố bởi những căn bệnh nan y và những tai biến, tai nạn bất ngờ có thể dẫn đến cái chết. Vậy bài học này sẽ giúp chúng ta tìm ra cho mình một cuộc sống ổn định tương đối về vấn đề an sinh.
Pháp bảo mệnh an sinh, thì trong chữ bảo ở đây là có chữ hộ, có chữ vệ và có chữ trì. Trong chữ bảo nó cũng có tính chất là quý như ngọc. Còn an sinh là an sinh con người, an sinh gia đình, quốc gia và xã hội.
Ngài hỏi ông Chơn Phát Đạo Quang thế nào là pháp bảo mệnh an sinh?
Ông Chơn Phát Đạo Quang, thưa cha: duy ngã đại thể là có hạt tâm lý tính tính ánh sáng thì phải biết hệ thống lập thể là vô thường, thì phải luôn luôn dùng hệ thống pháp trí đúng với định luật, quy luật và công luật. Tức là sống phải có mục đích hướng thượng đưa hệ thống pháp trí vào đời sống lập thể hàng ngày trong ăn, uống, ngủ, nghỉ, đi, đứng…để ổn định được tâm pháp.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống nói rõ thêm
Ông Chơn Quốc Chính Thống: thưa cha, tất cả con người ai cũng có chính mệnh và thân mệnh. Vậy chính mệnh là thuộc về hạt tâm lý tính, bảo mệnh cũng là bảo ngọc thì tính ngọc là gốc của tất cả mọi sự lập hình. Nên nếu ai mà trở về được tính ngọc tròn đủ ấy thì tất nhiên sinh mệnh của họ sẽ được bảo toàn tuyệt đối, mặc dù hình lập có nằm trong định luật của thành trụ hoại không. Tuy nhiên nó vẫn có định luật chứ không phải là bất đắc kỳ tử. Vì do không nắm được nguyên tắc này nên thân mệnh con người trở thành bất đắc kỳ tử, thì đó là nỗi thống khổ của nhân loại.
Như vậy nếu trở về tính tròn đủ thì tất nhiên phần hình lập và thân mệnh chúng ta sẽ bảo vệ trên nguyên tắc của tính bình đẳng tuyệt đối đó và chúng ta sẽ trở về với hạt tâm lý tính tròn đủ ấy. Thì chúng ta sử dụng cuộc sống và bảo vệ thân mạng một cách tốt đẹp vững chắc, mặc dù nó nằm trong định luật sinh lão bệnh tử nhưng sinh lão bệnh tử để hóa.
Như vậy chúng ta đi 2 phần, nếu mà chưa trở về tính thì phải bảo vệ bằng hình lập từ bên ngoài đi vào là ứng dụng tất cả các nguyên tắc cân bằng. Cân bằng ở đây là phải lấy trí tuệ để nuôi dưỡng thân này trên nguyên tắc không thái quá, không bất cập, đó là đi từ vòng ngoài vào vòng trong. Nếu chúng ta thực nhập được giá trị vòng trong của hạt tâm lý tính thì tất nhiên việc bảo mệnh lại rất vững chắc không bị sai lệch. Vì thế nên Cha mới dạy rằng: “Hóa tâm tâm pháp linh quang, hóa vật vật dựng kim lầu trang nghiêm”.
Ngài dạy, về biện chứng pháp của mệnh là thân lập hệ thống của nhân bản duy ngã đại thể. Nhưng xác định về biện chứng pháp của thân mệnh là luôn luôn có chủ thể của giá trị hóa và hình thành hệ thống lập thể. Đối với mệnh là hoàn toàn mang tính hệ thống dung thông, thì có mệnh là nguyên lý của hạt tâm lý tính tính ánh sáng là chủ mệnh hóa, thì thân mệnh chúng ta không tách rời chủ mệnh hóa mà có hóa và sự thành lập chủ mệnh hóa để các hóa mệnh ở trong con đường sống.
Những nguyên tắc của các pháp bảo mệnh là gì? Có nghĩa là đi trong hệ thống pháp chính thống và lấy luật ra để bảo hộ. Như về tính khách quan của luật cân bằng là tập hợp tính ánh sáng siêu đức hóa để bảo mệnh. Vì một khi con người không có ánh sáng của tâm đức thì không thể che chắn được mình, mà phải núp trong ánh sáng tâm đức đó để bảo hộ cho giá trị sinh mệnh của mình. Nên Đức là sự dẫn độ và kết tinh cho sự an bình và kiết tường; mà đức là không tách rời trí huệ, cả 2 là một cặp sức mạnh bảo hộ của chính mệnh và pháp mệnh an sinh. Nên Đức Phật nói “kẻ nào phá giới là kẻ ấy không tự bảo hộ mệnh mình” vì phá giới là tự đầu độc tất cả những nạn giữ bất kiết tường trong hệ thống của tâm đức.
Như vậy nguyên tắc của pháp bảo mệnh là lấy tất cả những ánh sáng về tâm đức, kiềm tỏa về giới luật và sống trong hệ thống pháp trí để có một sự sống tất yếu trên quy trình chuyển động mà không bị gãy nhịp của chu trình hóa kiếp. Có nghĩa là tránh được những cái chết của bất đắc kỳ tử.
Vậy siêu đức hóa là tính bảo mệnh cao nhất, đồng thời vận dụng trí huệ vào đời sống của các mục đích hoạt động và tránh tất cả những hiểm họa về các pháp bất tương ưng đó là một trong những giá trị bảo mệnh cao nhất.
Trong hệ thống bảo mệnh là y cứ trên tâm đức hóa tất cả những bệnh nạn, y cứ trên chân tâm hóa tất cả những nạn dữ và y cứ trên ánh sáng hạt tâm lý tính để hóa giải tất cả các pháp bất tương ưng. Vì khi ta có trí huệ thì ta vận dụng các pháp ngoại biên đi theo quỹ đạo thuận và quỹ đạo tụ, đồng thời biết cách chữa trị bệnh trong hệ thống lập thể của mệnh. Như phát hiện bệnh của mình sớm hơn đó cũng là hệ thống pháp trí để xác định giá trị bảo mệnh về vấn đề y học, bảo mệnh về vấn đề lương thực, thực phẩm. Luôn cân nhắc trong vấn đề ăn uống không thái quá, không bất cập, đó là một trong những sự điều chế về các pháp bảo mệnh đối với vật lý.
Vậy lấy trí huệ điều chế vật lý và điều chế tất cả những phương tiện, công cụ, y cụ, ngọa dược và tất cả những phương tiện cần thiết đối với điều kiện hoạt động có mục đích. Ví dụ người ta muốn đi đâu đó thì họ phải biết đi như thế nào được an toàn ở mức độ trung đạo để tránh được những hiểm họa trong hệ thống lập thể của bảo mệnh. Như vậy bảo mệnh thuộc trong hệ thống pháp trí là thực hiện các pháp chính thống trong hệ thống hóa. Thực hiện trục hệ thống Thống hóa để bảo mệnh trục, khi bảo mệnh trục được thì các mệnh lập thể nhân trục mà được tồn tại và ổn định, là do pháp trục mà ra.
Người có hệ thống pháp bảo mệnh cao thì có thể gọi là đại mệnh. Vì người ấy sống lâu và có đủ mọi âm phúc trong cuộc sống đó. Vì họ đã có một sự an toàn nhất định về giá trị vật lý và hệ thống lập thể của họ rất giàu về kháng sinh và có đầy đủ những năng lực đặc biệt để họ có thể sống lâu. Về giá trị bẩm sinh của hiện kiếp hoặc hiền kiếp thì vẫn kết tinh giá trị sống của họ đối với trục về hệ thống bảo mệnh trong quỹ số đó.
Như vậy người sống trong những nguyên tắc hệ thống về các pháp bảo mệnh họ sẽ được sống tốt, sống khỏe, sống lâu hơn.
Đối với những người bỏ xa những nguyên tắc của các pháp bảo mệnh, thì những người này thường bị gãy nhịp trong đời sống của mọi hóa kiếp. Tức là họ bị biến cố quá nhiều về phần tính cũng như phần thể. Họ sẽ bị tuột ra khỏi quỹ đạo và sẽ rơi vào chỗ sinh diệt bất đắc kỳ tử và không tồn tại cho sự nghiệp hóa.
Vậy người ta căn cứ trên tâm đức và trí huệ để dựng lên một bức ánh sáng song tụ và sức mạnh của các pháp bảo hộ trong hệ thống chính thống. Và người ta an tu trong các giới thiền để thực hiện những công trình bảo an cho giá trị chính mệnh trong các pháp cân bằng ấy. Đó là pháp công bằng về mặt tính được ổn định. Pháp công bằng về mặt lập thể được ổn định. Thì giá trị trung đạo của sự công bằng sẽ bảo hộ chính mệnh và an sinh một cách tốt nhất.
Chúng ta có thể khẳng quyết rằng: Các pháp bảo mệnh an sinh là thuộc về siêu đức hóa và thuộc về trí huệ uyên bác là giá trị cân nhắc trong vạn pháp không để các pháp thái quá và bất cập, để ổn định cuộc sống về hệ thống tâm lý và vật lý.
Chúng ta sẽ thoát ra khỏi những sự nô lệ và nô dịch của thần linh, bảo hộ bằng những thứ bùa ngãi phù phép một cách vô lý và thoát ra những điều hư dối thuộc tà đạo, ngoại đạo, ngoại biên. Chúng ta phải thấy rằng, các pháp ngoại biên không thể bảo hộ cho hạt tâm lý tính, mà trục lõi ánh sáng của siêu đức trung tâm bảo hộ hạt tâm lý tính.
Chúng ta đã thông suốt được nguyên tắc của các pháp bảo mệnh để chúng ta thực hiện những công trình bảo mệnh cho chúng ta. Để làm sao sự bảo hộ về mặt lập thể và thông suốt trong quá trình hóa kiếp của hệ thống lập thể đến sự thông kiếp của chính mệnh, trí huệ mệnh và pháp mệnh mà chúng ta không bị biến đổi trong không gian và thời gian, thì chúng ta sẽ có được một sự bảo hộ cao nhất trong nhân sinh quan và vũ trụ quan.

TRIẾT GIẢNG MƯỜI HIỆU CỦA NHƯ LAI
Mười hiệu Như Lai gồm có: Ứng cúng, chánh biến, tri minh, hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, điều ngự, trượng phu, thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

1. Ứng cúng:
Sâu sắc chữ ứng cúng là không thể nào bắt nhân loại cúng cho bất cứ ai cả, mà khi chúng ta chưa cúng cho tất cả nhân loại. Chữ ứng cúng ở đây thuộc về lõi của ba la mật, tức là đức Như Lai đã trãi qua hằng hà sa số kiếp, đem tất cả những giá trị tổng tinh hoa, kể cả kho tàng pháp tạng, kể cả vật thể và thân mạng. Trên là cúng dường cho 10 phương Như Lai, còn dưới là dâng hiến cuộc đời mình cho 10 phương đại thể pháp giới một cách trọn vẹn mà không biến đổi ý thức, tâm niệm về sự cúng dường đó, thì Ngài mới thành tựu ứng cúng.
Ví dụ: Ngài thấy mẹ con con cọp nó sắp chết vì tìm món ăn không có, Ngài dám đem thân mạng mình cho cọp ăn mà không khởi niệm tiếc thân mạng đó. Chữ ứng cúng ở đây hoàn toàn nó liên quan tới ba la mật một cách tuyệt đối. Thứ nhất: trên là cúng dường 10 phương Như Lai không tính đếm số kiếp, cúng không hề có một ý niệm thối lui, tức là không có nhị tâm. Thứ hai: khi hóa thân trong đời sống những thứ gì có lợi cho nhân sinh là Ngài cho hết. Tức là thượng cúng dường 10 phương Như Lai, hạ cúng dường cho pháp giới chúng sinh. Khi Ngài đã thành tựu quả vị Phật rồi thì chính giá trị của sự ứng cúng đó kết tinh thành sức mạnh, tức là quả báo của pháp thân vô thượng đó linh cảm cả toàn thể vũ trụ tam thiên đại thiên thế giới, cho nên ai gặp Như Lai cũng đều phát tâm ứng cúng. Thì đây cũng thuộc về nhân quả tối thượng.
Tóm lại, Ngài đạt được hiệu ứng cúng đó là vì Ngài đã từng theo chư Phật cúng dường cả thân mạng, cả kho tàng và tất cả những gì Ngài có đều dâng lên cúng dường cho 10 phương chư Phật cùng pháp giới chúng sinh, mà không thể tính đếm số kiếp và cuối cùng đã kết tinh được quả vị Như Lai. Vậy ứng cúng ở đây phát nguyên từ cái lõi của sự hy sinh, hiến dâng và gánh hết mọi sự đau khổ trong vô lượng kiếp đã qua. Đến khi thành tựu Như Lai thì Ngài đã có đủ mọi quyền năng để thực hiện công trình đại hóa và được toàn nhân loại tôn vinh và phát tâm ứng cúng.
2. Chánh biến:
Vì thế gian nhiều biến đổi, vì thế gian hay đi lệch theo tà đạo, ngoại đạo, nên Như Lai đến thế gian là đem chính pháp mà biến đổi mọi sự sai lệch đau khổ của nhân loại và đưa nhân loại đi theo con đường chính pháp. Tức Ngài là đấng chuyên môn sửa đời, chuyên môn sửa người; nơi nào có lệch là Ngài sửa mà hoàn toàn không có vụ lợi. Là Ngài đem chính pháp chuyên chữa trị về xã hội, đem chính pháp chế biến các phương pháp, các loại thuốc để trị liệu các loại bệnh của chúng sinh và pháp giới.
3. Tri minh:
Vì chúng sinh bị vô minh làm che khuất nên đức Phật Ngài đem ánh sáng kinh điển đến để soi rọi tất cả mọi nơi, mọi chỗ tối tăm, tùy theo duyên mà Ngài tri minh, chỗ nào tối Ngài đem ánh sáng tới soi chiếu, người nào tối Ngài đem ánh sáng tới soi chiếu, kể cả người chịu nhiều định nghiệp Ngài cũng đem ánh sáng tới soi chiếu.
4. Hạnh túc:
Là tất cả những công hạnh từ hạ tầng đến tối thượng tầng, hoặc những công hạnh từ cực vi đến cực đại thì đối với Như Lai không thiếu. Tức là mọi sự cấu trúc của hệ thống vật chất dù nhỏ cở nào thì quy trình chuyển động của Như Lai hình thành sự nghiệp hóa vẫn có đủ những giá trị cân bằng về giá trị đó, mà Như Lai không bao giờ bỏ hàng lớp thấp nhỏ để đi lo những việc lớn. Hạnh túc có nghĩa là đối với tất cả chúng sinh thì Ngài luôn luôn đưa hạnh bình đẳng ra để tế độ và không bao giờ phân biệt.
5. Thiện thệ:
Khi Như Lai lập hạnh Bồ Tát thì Ngài nguyện rằng độ tận chúng sinh và ngày nào hết chúng sinh thì Ngài mới thành Phật, nhưng khi mà Ngài đã thành Phật rồi thì Ngài cũng không bỏ đi những hạnh nguyện độ tận chúng sinh đó.
6. Thế gian giải:
Vì thế gian luôn luôn hiểu sai lầm về vũ trụ, và hiểu sai lầm về giá trị sống, sai lầm về chết là mất. Tất cả những sự hiểu sai lầm đó thì Như Lai có trách nhiệm giải thông hết, nên gọi là thế gian giải. Về bản nguyện, là Ngài nguyện sẽ giải thông mọi sự sai lầm và nghĩa lý của Chư Phật không bao giờ vơi đi để giải quyết sai lầm đó.
7. Điều ngự:
Lấy từ bản chất thường trụ của chánh đẳng giác, trung tâm bất biến để mà điều ngự. Là điều ngự sức mạnh quyền năng của Thống hóa, điều ngự trung tâm, điều ngự vạn pháp, điều ngự tâm pháp của chúng sinh, điều ngự về thế gian giải, điều ngự về các cấp độ khác biệt mà không thể thay đổi sự điều ngự ấy. Điều ngự là giá trị không thay đổi về tính thường trụ. Điều ngự là dung trãi chứa nhóm cả một nội lực để đem sức mạnh ấy vào đời sống hiện thể và siêu thể. Khi chúng sinh cần thì Ngài dùng ánh sáng quyền năng để điều ngự nó. Tức điều ngự tự tại và vô ngại.
8. Trượng phu:
Trong thế gian người quân tử, trượng phu là người chịu người thiệt thòi về mình và được thế gian tôn quý, thì Như Lai là vua của tính trượng phu. Trượng phu là gắn kết mọi công năng về lợi ích của chúng sinh, trượng phu là nói cũng như làm không bao giờ thay đổi. Thì Như Lai là vua của các loại trượng phu đó.
9. Thiên nhân sư:
Sư là thầy, mà thầy thì có nhiều loại thầy như: thầy giáo, thầy thuốc, thầy dạy nghề và hàng trăm loại thầy rất đa dạng nhưng đặc biệt là thầy của trời người, thầy của vũ trụ, tức Như Lai là thầy của mọi ông thầy.
10. Phật Thế Tôn:
Là khi mọi giá trị đã có thực như vậy, thì sự nhìn nhận khách quan của thiên nhân, của hoàn vũ tôn kính Ngài là Phật Thế Tôn. Như vậy Phật Thế Tôn là thập phương tôn, thế gian tôn, vũ trụ tôn chứ không phải Ngài tự tôn.

NGŨ MINH
Con người có ngũ căn và hiển thị của ngũ căn là ngũ minh. Sự tác động của ngũ căn đối với ngũ minh liên quan đến tính và thể, tâm và vật và nhờ bản chất đó để nuôi cửu kinh. Sở dĩ đưa 55 điều trợ luật vào đời sống mục đích để làm nền tảng giá trị bản chất. Nếu chúng ta không vận hành ứng dụng 55 điều luật vào đời sống thì chúng ta không bao giờ nuôi được cửu kinh. Thiên chức của cửu kinh là để nuôi pháp thân, nên Chư Phật đưa ra tinh thần bản chất ngũ minh và bản chất ngũ minh sẽ lột hết tính thực của thánh hiền. Đời sống của duy ngã đại thể cũng là nền tảng của đời sống thánh hiền. Vậy thánh hiền không tách rời đời sống duy ngã đại thể, và duy ngã đại thể cũng không tách rời ngũ minh của thánh hiền. Vậy muốn thực hiện được ngũ minh thì chúng ta phải ứng dụng đầy đủ bản chất 55 điều trợ luật để hoàn chỉnh giá trị ngũ minh.
Vốn dĩ con người có ngũ căn để soi chiếu phù trợ cho giá trị tâm pháp, pháp thân nên Như Lai thuyết ngũ minh. Ở đây ta nên lưu ý khi nói về ngũ minh là nói về bản chất của ngũ minh. Nếu ngược lại là bản chất của chúng sinh, là bản chất của tỷ lệ quặng cấu, ô trọc còn nhiều trong đời sống; vì bản chất ngũ minh là biện chứng của thánh hiền.
Như vậy, đối với hội đồng Công Luật; thuộc đàn con nam nữ đẳng quyền, Chơn – Diệu bất phân trong thất thập nhị hiền của Chuyển Luân Pháp Bảo, của sự nghiệp quyền thừa và thế vì, thì ngũ minh là tối cần thiết.
Ngũ minh gồm có:
1. Trí đức: Trí: là trí huệ; Đức: là nền móng giữ lập và nuôi dưỡng. Vậy trí huệ càng cao thì nền móng của đức phải càng vững chắc để phát huy trí huệ ấy. Trí huệ cao thì tâm đức phải lớn; vì trí huệ cao mà ly khai khỏi tâm đức thì trí huệ ấy sẽ biến thiên, nên trí và đức là một cặp không thể tách rời nhau.
2. Chân hành: trong đời sống hằng ngày dù hành động có lớn, vĩ đại đến đâu mà tách rời chân thật thì hành động ấy sẽ tiêu mất và không còn quỹ đạo tiến hóa. Trong thực tế con người luôn luôn thực hiện một trong hai hành vi: hành vi thứ nhất là tà hành, ngoại hành, thiếu sức mạnh quỹ đạo thuận. Hành vi thứ hai là chân hành, chân ở đây là chân nguyên, chân viên, chân chánh, là nền tảng thực tướng, là hành động giá trị kết tinh tinh hoa.
3. Đại nghĩa: đây là tinh thần, hành vi của sự nghiệp cứu thế, luôn luôn được ứng dụng trong đời sống của xã hội để xã hội ấy được ổn định và phát triển. Đó là cuộc sống cộng đồng hợp tụ hỗ tương. Nếu con người sống không có đại nghĩa, tức là sống riêng cho cá nhân chính mình, thì cuộc sống ấy rất là nhỏ nhoi, hẹp lượng, chẳng có nghĩa lý gì trong đời sống cộng đồng xã hội. Vậy đại nghĩa có nghĩa là sống vì đại cuộc, vì sự bình an cho mọi người.
4. Công năng: Về tính khách quan, thì trời sinh ra con người vốn dĩ không có con người nào mà không có năng lực, nhưng mức độ năng lực là tùy theo sự phát triển và tiến hóa nhất định của nó.
Về tính chất và giá trị năng lực của nhân bản, khi đi rộng vào trong đại thể và đem năng lực đó phụng sự cho đại thể; nếu làm được như vậy thì mới bắt đầu phát sinh ra công năng. Công năng có nghĩa là năng lực của mỗi con người và con người đem năng lực ấy phụng sự cho đại thể.
Như kinh Vinh Danh là vinh danh cho những con người có công năng vì đại thể, vì thế giới và nhân loại như một sự cứu tinh, ở mức độ tùy thuộc vào năng lực của người ấy.
Như vậy muốn có được công năng là phải có quá trình nung kết của tính công phu nhất định trong con người ấy. Từ đó mới chuyển tải và hình thành kết tinh tạo thành sức mạnh để có công năng.
Ví dụ như công năng của nhà bác học, bác tinh vương thì làm ra được rất nhiều lợi ích cho nhân loại hưởng nhờ. Thì công năng này là hình thành những năng lực đặc biệt có tính chất và giá trị sâu sắc rộng lớn, để đem năng lực đó phụng sự cho nhân loại ở bất cứ một góc độ nào, một thời kỳ nào. Như Đức Thích Ca là thuộc về tối thượng công năng. Như vậy, những người hy sinh vì nhân loại thì đó mới gọi là chính mệnh công năng.
Chúng ta phải thấy công phu là để rèn đúc cho năng lực bản thân. Còn công năng thì đã trở thành sản phẩm có ích lợi chung cho đại thể duy ngã.
Công năng cũng có thể chia ra nhiều hạng. Công năng bậc nhất là người ấy biết chia phân năng lực của mình cho gia đình và xã hội.
Như vậy, bản chất công năng là không phân biệt tôn giáo, đảng phái; không phân biệt màu da sắc tộc, mà đem năng lực ấy vào trong đại thể và làm cho đại thể được hạnh phúc.
Công năng: Nghĩa là cái chung hữu giá trị sự sống đối với loài người; giữa ta và loài người, giữa loài người và ta. Vì ta không thể tách loài người ra để ta có công năng được. Như đức Phật Thích Ca hay đức Ki Tô cùng những nhà hiền triết vĩ đại nhất cũng phải hóa thân trong đại thể pháp giới chúng sinh để có công năng .
5. Vạn hạnh: Đối với vạn hạnh thì nghĩa lý rất rộng lớn. Trong vạn hạnh có hiếu hạnh, trung tín hạnh, từ hạnh, thiện hạnh, tế hạnh, nhân hạnh, đức hạnh, công hạnh…
Người có vạn hạnh là người làm tất cả mọi việc lành trong đời sống của chính họ đối với xã hội. Hạnh ấy là sự ban cho, như mưa thấm, rưới trải nhuần nhiệm và làm sống dậy trong những giá trị của các pháp tế. Nơi nào có xã hội, có con người, có sự sống là nơi đó có pháp tế. Vì vậy hạnh là mối chốt của pháp tế; thì công hạnh là những giá trị hạnh lành nhất mà đối với các thánh hiền đã chắt lọc và đem những hạnh cao nhất đó phụng sự cho nhân loại.
Hạnh nguyện đó là hiến dâng, hy sinh; là sẳn sàng nhường cơm xẻ áo cho những người đói khát. Dụ như chỉ có một chén cơm, hoặc một liều thuốc thôi; nhưng khi thấy người khác sắp chết vì đói, vì bệnh thì sẳn sàng nhường cơm, nhường thuốc cho người đó. Chữ hạnh đây là trùm lên tất cả những giá trị hạnh nguyện của Bồ Tát. Và Bồ Tát đại giác tha là hạnh nguyện cao nhất đối với công hạnh của mười phương Như Lai.
Vạn hạnh là quỹ tích tổng hàm số hành hạnh. Có nghĩa hạnh là sự chuyển thể của hành, mà Như Lai đưa lên vị trí giá trị bao gồm mọi giá trị công phu công năng, là kết quả của mọi chân hành tinh hoa. Vậy thực nghĩa của vạn hạnh là hạnh của thánh hiền Bồ Tát, đại Bồ Tát, cũng có thể nói là hạnh của Như Lai, Phật Thế Tôn, Vô Thượng Sĩ. Vạn hạnh là tổng hàm của tất cả mọi tầng lớp thực hiện tùy theo mức độ phát triển của hạnh. Ví dụ người có được vài hạnh, vài chục hạnh, vài trăm hạnh, duy Bồ Tát thì làm tất cả hạnh. Ví dụ đối với chúng sinh thì làm được hạnh bố thí nhưng chưa đạt được hạnh nhẫn nhục. Hoặc từ việc làm xấu chuyển sang việc làm tốt thì ta đạt được hạnh tốt. Như vậy, vạn hạnh là trùm lên tất cả hạnh. Cho nên trong đời sống chúng ta nên lưu ý đến hành hạnh của chính mình. Một trong những hạnh đơn giản cơ bản trong hệ thống quan hệ, giao lưu cộng đồng xã hội là cha mẹ, ông bà, tổ tông, thầy trò… thì phải có lễ độ, thưa trình, phải có nề nếp định độ; mà trong văn học dân gian đã truyền tụng: “đi thưa về trình” là đạo lý cơ bản muôn đời. Ngược lại, ta phá bỏ nghi thức ấy, đi không thưa về không trình, thì tất nhiên ta đã vi phạm những hạnh tối thiểu đó, thì làm sao có được vạn hạnh.
Đối với học trò Công Luật nhiều khi chỉ vận dụng trí để hiểu biết kinh điển, mà lại không thực hiện được những hạnh lành thì chính mình đã tự lừa dối mình, cuối cùng chính mình chẳng có cửu kinh, vì đó chẳng qua là lý thuyết suông mà thôi, chứ không có một chút tố chất kinh điển trong thực tiễn đời sống của mình. Sự hư dối đó luôn luôn len lõi và tồn tại trong hệ thống Mạch Rồng. Sự phân chia từng cụm, phe phái riêng biệt đã làm xói mòn giá trị kinh điển. Những ai sống bằng những hạnh ấy là hoàn toàn chưa có ngũ minh. Trí đức thì cạn cợt, chân hành lại nhỏ bé, đại nghĩa là số 0, công năng thì lỏng lẻo và vạn hạnh thì chẳng được bao nhiêu. Cho nên đây là vấn đề vẫn còn nhiều sai phạm nghiêm trọng trong sự nghiệp công án Bia Sơn.
Nói đến ngũ minh là nói đến biện chứng của mỗi nhân bản, hay nói đúng hơn là giá trị của chính ta chứ không liên quan đến người khác. Vậy bản chất này được gọi là bản chất ngũ minh của chính ta. Vạn hạnh, công năng, đại nghĩa, chân hành và trí đức là tính chất minh, là bản chất của thánh hiền. Vậy chính chúng ta đang hướng về bản chất của thánh hiền và hóa thân từ bản chất ô tạp nhất, được tinh lọc để trở về bản chất tinh rồng kim tính. Đối với người trên con đường thực hiện Công Luật thì đây là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu. Vì thiếu yếu tố này thì ta không thể nào giữ nhập được minh triết. Ngũ minh là chất tố để nuôi cửu kinh minh triết và nuôi pháp thân, là chất tố không thể thiếu trong đời sống nhân bản hướng thượng. Nếu con người không có trí đức, chân hành thì dẫu có am hiểu cửu kinh minh triết cũng không làm được việc gì. Hoặc giả có cửu kinh minh triết mà không có công năng, hoặc hạnh lành thì cũng chẳng làm được việc gì. Về đại nghĩa cũng như thế, một nghĩa nhỏ dụ như nghĩa của huynh đệ chi tình cũng không thực hiện được thì liệu ta có thực hiện được cửu kinh minh triết không? Chắc chắn là không.
Tóm lại, nếu một con người thực sự có trí đức, chân hành, đại nghĩa, công năng và vạn hạnh thì có khác. Cụ thể nếu nói vạn hạnh thì quá to lớn, nhưng chẳng lẽ ta lại không thực hiện được mười hạnh hay sao? Cụ thể như hạnh tiết kiệm, hạnh bòn xén công đức, hạnh lễ tế, hạnh hầu thầy, hạnh kính tổ, hạnh yêu Cha, hạnh khiêm tốn, hạnh từ tế, hạnh thưa trình vv…Nếu đem hết những hạnh viết lên giấy thì viết cho đến Núi Bia cũng không hết hạnh trong đời sống thường ngày. Từ Vạn hạnh đã để lại vết son hồng trong lịch sử, chẳng hạn như đại học Vạn hạnh. Nhà sư Lý Vạn Hạnh đã giúp nhà Lý chấn hưng mà trong sử vàng đất Việt còn chói lọi đến ngày hôm nay, nhưng ít ai lưu ý luận bàn.
Vậy hôm nay chính ta phải xác định lại giá trị Ngũ minh trong ta cho thật cụ thể. Trí đức đến mức độ nào, chân hành ra làm sao, đại nghĩa được cái gì, công năng phụng sự cho ai và cuối cùng ta phải xác định quỹ tích vạn hạnh được bao nhiêu. Chính vạn hạnh là cầu nối kết quả của mọi giá trị trí đức, chân hành, đại nghĩa và công năng. Hạnh của trung can, hiếu để, nghĩa khí, ân tình vv…Để cuối cùng đạt được vạn hạnh mỹ mãn, đó là quả hạnh viên mãn của Bồ Tát và Như Lai; của đại nhân và thánh hiền. Đó chính là ngũ minh. Vậy ngũ minh hỗ trợ cho ngũ căn, ngũ lực. Là chất tố giúp cho 5 căn, 5 lực sáng tỏ, cuối cùng đạt được ứng tác sở trí vô biên và thành lập vạn hạnh vô biên trong vũ trụ quan và nhân sinh quan. Vậy ngũ minh rất cần thiết thích đáng trong đời sống, là khế kinh kỳ thủ để bổ trợ cho sự viên mãn của cửu kinh minh triết
Lời phát biểu của ông Chơn Thăng Ấn Chuyển:
Thưa Cha, ngũ minh có thể ví như các loại dinh dưỡng cho đời sống hằng ngày. Trong đời sống nhân bản duy ngã luôn luôn có 2 phần: vật chất và trí tuệ. Ngũ minh là gốc của trí tuệ, là quá trình tiến hóa từ sơ cấp đến đại cấp, từ hạ đến thượng. Nếu mất ngũ minh đồng nghĩa với mất đường hướng phát triển, là giá trị đặc thù mà vũ trụ đã ban cho chúng ta. Vậy ngũ minh là sự hành dụng hằng ngày để hỗ trợ bổ sung tâm đức, chân đức, là tất cả giá trị tinh hoa cao cấp nhất để nuôi dưỡng trí tuệ và thành tựu quả vị. Như vậy giá trị của ngũ minh như Cha đã nói là bản chất của thánh hiền, vĩ nhân, Bồ Tát, Như Lai, đó là hoàn toàn sự thật; hay còn gọi là chân tướng quả vị thành tựu của chúng ta. Nếu mất ngũ minh cũng đồng nghĩa với mất tất cả, kể cả sự sống và sự nghiệp của Công Luật vũ trụ.
Ngài dạy: Như vậy trong ngũ minh đã phân tích thể hiện rất rõ ràng từng mỗi minh trong đời sống. Riêng vạn hạnh là hàm minh trùm lên tất cả 4 minh kia. Nên minh “vạn hạnh” là quỹ tích tổng thể của giá trị hóa trong đời sống Bồ Tát, Thánh hiền, hoặc trong đời sống của những người thăng hoa trên đường tu học, thì vạn hạnh không thể thiếu trong đời sống đó. Ví dụ một hạnh nhỏ như quét sạch một ngôi nhà, ngôi chùa, a lam nhã….thì đó cũng gọi là công hạnh mà Như Lai gọi là tế tế hạnh. Có nghĩa là từ vi tế hạnh đi đến tế tế hạnh, đại tế hạnh. Tức là nhân đôi, nhân đôi các hạnh lên để trở thành sức mạnh ly tâm cuối cùng đạt được pháp thân Như Lai, đó là hàm vạn hạnh thứ 5 trọn đủ.
Minh hạnh túc là vạn hạnh, là hạnh quan trọng trong đời sống của hành giả hóa thân thực hiện công trình đại hóa. Vậy chúng ta rất lo sợ đời sống vô minh trong minh hạnh túc. Vì vô minh trong minh hạnh túc thì không bao giờ phát minh được ánh sáng của cửu kinh minh triết Như Lai; đồng nghĩa với sự tối tăm trong việc ứng dụng cửu kinh minh triết. Có thể có trí tuệ để nghe minh triết nhưng không có minh hạnh túc thì cửu kinh sẽ trả về lại cho Như Lai. Và cũng không giữ lại được một thứ gì hết vì không có minh hạnh túc.
Đối với người Công Luật thì một hạnh nhỏ như đi thưa về trình cũng không thể thiếu được, vì đó là một trong những hạnh lành để làm nền tảng kết tập giá trị minh hạnh túc. Gương xưa để lại đã làm sáng lên ý nghĩa này. Dụ như những học trò như Mạnh Tử, Trang Tử mà vẫn luôn luôn lễ phép đi thưa về trình đối với thầy, để chúng ta soi rọi lại tính chất và giá trị của ngũ minh trên con đường xây dựng công án Bia Sơn, thực hiện Công Luật đại hóa cho chính chúng ta và pháp giới.
Hôm nay về tính khách quan của minh triết đã giải quyết về giá trị chân tướng của ngũ minh. Mà đối với 18 bộ óc đã thể hiện được tính công năng và công hạnh, thì đó là sự vinh danh. Vậy công năng và công hạnh có được là có từ bản chất giá trị thực tướng của tính và thể thiết lập giữa đa năng và siêu năng. Nếu không có mặt bằng của hệ thống đa năng và siêu năng mà vũ trụ đã cho, thì chúng ta không thể nào thực hiện được công năng và công hạnh.

ĐIỀM TRIẾT VỀ TÍNH VÔ NHIỂM
Chúng ta vô chấp trước mọi hành vi, mà lại dùng lý trí để làm chủ tất cả mọi hành vi, thì dù chúng ta có vào chỗ tận cùng của thế gian vẫn có đường ra.
Như người ăn một nghìn lần mà không nhớ một lần thì người ấy sẽ mau chóng ra khỏi tam giới. Còn người ăn dù chỉ một lần mà nhớ nghìn lần thì người ấy đã chấp trước hành vi và ý thức đã bị trói trong các pháp thì không bao giờ có thể ra được cõi dục giới này. Như vậy nhiễm hay không nhiễm là thuộc về ý thức của chủ tính chứ không thuộc các pháp.
Tính vô nhiễm ví như đã thành tựu kim cương, nên nói rằng: kim tính bất tác hành vi, vì tất cả các hành vi hoạt động dù xấu xa đến đâu cũng không thể thay đổi chân tính.
Như hôm nay chúng ta học Cửu kinh mà không chịu công phu và chưa trở về chân tính, còn bị kẹt trong mọi sự nhiễm trước của ý thức phân biệt và các căn chưa ổn định thì rất khó có thể thành đạt được Cửu kinh. Như vậy, học Cửu kinh là phải công phu nhằm ổn định tâm pháp, làm cho tâm pháp không nhiễm trước các pháp thì chúng ta mới phát được ánh sáng hào quang của tri thức.
Sự nghiệp tu học của chúng ta là nhằm để giải quyết cái ngày chết của hiện thể và ngược lại với giá trị phản chiếu, ánh sáng thì cũng là sự sống của siêu thể.

GIẢ ĐỘ VÀ THỰC ĐỘ
Có thể nói Công Luật là độ giả đối với chúng sinh. Bởi vì bản chất của Công Luật là không dành riêng cho chí tôn, và không riêng cho các cao tăng cùng thánh nhân đối với giá trị hoá. Mà nó là thực lực, thực độ của giá trị hoá đối với duy ngã đại thể. Như vậy duy ngã đại thể là bản chất thống nhất của giá trị hoá, đối với sự thực độ của giá trị hoá mà không phải chờ đợi ở Thống hoá điều gì nữa.
Thế nên Phật độ là độ giả. Độ giả nghĩa là Ngài chỉ mặt trăng, hoặc chỉ một vật gì đó còn sâu kín, để cho nhân loại nhìn nhận thấy đó mà tìm đến để giải quyết những vấn đề chính của chính ta, chứ Phật không thể giải quyết những vấn đề chính của chính ta.
Phật đã tự giải quyết vấn đề chính của Ngài, và Ngài muốn tất cả chúng sinh cũng tự giải quyết những vấn đề chính của mình. Nếu ta đợi Phật đến để giải quyết cho ta thì cũng giống như Phật tu chúng ta thành, hoặc Phật ăn chúng ta no, thì điều đó hoàn toàn là vô tưởng.
Phương tiện là giả hoá, nhưng ngược lại có cái thực; vì chúng sinh cùng tăng chúng giác ngộ tu học thành tựu giá trị thực độ của chính mình. Như vậy chúng sinh giác ngộ được thực tướng mà được độ, hoặc là nghe thấy chính pháp tu học mà được độ. Thế nên chúng ta là thực độ, còn Phật là giả độ.
Nếu Phật không đưa ra phương tiện giả độ thì thực độ của chúng ta cũng không có. Ví như chúng ta đang bềnh bồng trên biển cả nên Như Lai quăng phao ra là phương tiện giả độ. Mà thực độ là chúng ta phải dùng nội lực để bơi vào bờ. Như vậy phao là giả độ, còn thực độ là thực lực của chính ta đã bơi được vào bờ.
Thế nên chúng sinh và tăng chúng là thực độ của giá trị Phật đạo. Và Phật đưa ra những phương pháp hoá là giả độ thị khai của giá trị Phật độ.
Nếu chúng sinh- nhân loại mà không giác ngộ được chỗ này, thì giữa Phật và chúng sinh nghìn đời vẫn không thống nhất, vì sao? Vì Phật đi một đường, chúng sinh đi một đường. Và tất cả những trọng nghiệp cưu mang đi một đường, còn tất cả những người giác ngộ hướng về ánh sáng đi một đường. Thì tất cả những con đường ấy không thống nhất, cho nên vẫn gọi là Phật giả độ.
Hôm nay Công Luật cũng thế. Nếu thực độ của giá trị hoá đối với sự nghiệp Công Luật, thì mỗi con người hãy tự giải quyết cái bản lai Công Luật của chính mình. Và không còn ỉ lại là Cha sẽ cưu mang gánh vác và giải quyết những vấn đề thuộc về Công Luật nhân bản và Công Luật duy ngã đại thể đối với đại chúng và toàn chúng sinh.
Như vậy Phật là chia bang các hệ thống phao pháp, thành lập các phương tiện hoá và chuyên trị các hệ thống bệnh tật. Nhưng người uống thuốc và người chịu trị bệnh vẫn là chúng sinh. Nên được hết bệnh hay không là thuộc về tính giác ngộ của chúng sinh chớ không thuộc về Đức Phật.
Tất cả mọi bệnh tật của chúng sinh là có nguồn gốc. Nên đức Như Lai nói nguồn gốc của chúng là vô minh. Nếu vô minh cứ tiếp tục hình thành trong chúng thì bệnh tật của chúng cũng không bao giờ chấm dứt.
Sự nghiệp Công Luật là của chung tất cả mọi người, giữa tôi cùng đại thể. Nhưng nếu giữa tôi cùng đại thể vẫn chưa thống nhất, thì sự nghiệp Công Luật đó sẽ không đến với tôi cùng đại thể đó. Nếu có đến là đến với Như Lai hoặc đến với những người đã có thánh quả. Vì chúng sinh còn quá nhiều nghiệt ngã trong đời sống chúng sinh tướng. Thấy ánh sáng thì không tiến tới mà thấy bóng tối thì lại lao vào. Thì ngôi nhà lửa ngũ ấm đã hình thành trong đời sống của chúng sinh đối với thập ác, tam độc hoặc hình thành trong 18 giới xứ.
Đối với Hồng Ân chúng ta thì tỉ lệ còn kẹt trong ngôi nhà lửa ấy còn quá lớn. Vì còn kẹt nên tính hấp dẫn của nghiệp lực còn rất lớn đối với mỗi con cái. Vì thế mà không cho chúng đến với ánh sáng Công Luật đại hoá.
Như vậy sự nghiệp Công Luật là dành cho những ai có ý chí đã ra khỏi nhà lửa của thập ác, tam độc cùng ngũ ấm nặng nề, và không còn bị trói buộc trong ngôi nhà lửa ấy.
Thường thì ta thấy khi đời sống vật chất càng sung mãn thì sự trói buộc càng lớn và khó có thể vượt ra khỏi mọi sự cưu mang đó để đến với ánh sáng nhất thừa. Như vậy nếu đã còn cưu mang thì hoàn toàn Phật vẫn là giả độ. Mà chúng ta là những người hoàn toàn không có thực độ, vì chúng ta không có thực lực nên không được thực độ và giải thoát.
Hôm nay chúng ta làm Công Luật là phân chia công án để thực hiện Công Luật, là chia giá trị công án ấy rất đích thực để con cái phát huy ý thức trách nhiệm và có thể thực hiện được Công Luật mà không bị trở ngại, thì mới gọi là thống nhất trong công án. Chúng ta có thể thực hiện Công Luật trong gián tiếp mà không bị tan vỡ, thì vẫn có giá trị thực lực trong thực độ. Còn nếu bị tan vỡ trong gía trị thống nhất ấy, thì Phật vẫn đời đời giả độ, mà chúng sinh là hoàn toàn không được độ.
Đây là một điều trái ngược, vì chúng sinh là thực độ, Phật là giả độ. Nhưng nếu ngược lại chúng sinh không được thực độ, thì cái giả độ của Đức Phật hoàn toàn không có tác phẩm đối với chúng sinh.
Cũng như một vị chuyển luân ra đời thành lập ra trường lớp là nhằm đem ánh sáng khai hoá, nhưng học trò lại không học và không tựu lớp thì ánh sáng của vị chuyển luân ấy vẫn không đến với mọi người.
Như vậy ánh sáng của Như Lai không đến với mọi người, vì mọi người không đến với ánh sáng đó. Chứ không phải là Như Lai không đem ánh sáng đến cho chúng ta. Như trước mắt là ai cũng muốn được thụ ký Dòng Chơn và muốn được độ. Nhưng mà tinh thần thực độ của Dòng Chơn thì không có, vì luôn nhận cái giả độ của Chư Phật về mặt ngoài mà không đi sâu về bên trong, thì cái Phật giả độ ấy vẫn là những giá trị giả độ đối với Dòng Chơn ấy mà thôi.
Như vậy dù cho Đức Phật có nói đến 1000 năm, hoặc 60 tiểu kiếp đi nữa, thì Phật nói giá trị ánh sáng Như Lai là nói cho Phật, chứ không thấm nhuần gì đối với chúng sinh cả, thì chúng sinh hoàn toàn không có giá trị đó. Nên chúng sinh không có thực độ đối với giá trị chính pháp.
Ta thấy giữa Phật và chúng sinh có thực độ là khi nào chúng sinh ra khỏi nhà lửa, vì Đức Phật đã ra khỏi nhà lửa còn chúng sinh còn trong nhà lửa thì đó là 2. Nếu nhà lửa ấy còn hình thành trong đời sống tâm pháp thuộc về ngũ độn sử và các hệ luỵ đối với nghiệp thức. Mười ác chưa sạch, mười thiện chưa tròn, 18 giới xứ chưa được tinh lọc và còn ở trong ngũ trược ác thế, thì hoàn toàn nhà lửa còn hoành hành trong đời sống ấy.
Chúng sinh vì không giác ngộ nên không đủ nội lực, ý chí và sức mạnh để vượt ra khỏi ngũ độn sử và vượt ra khỏi những nghiệp thức đã hình thành trong nhiều đời nhiều kiếp. Ta thấy tất cả những chúng sinh nghèo tận cùng về vật chất cũng không đủ sức ra nhà lửa, còn những người giàu có thì lại đam mê bởi vật chất ấy thì cũng không thể ra khỏi nhà lửa. Thì trong hai trạng thái ấy đều có trọng nghiệp tương quan với nhau. Đức Phật đã nói rằng: Hãy ra khỏi nhà lửa thì mới được sự an toàn và hạnh phúc. Còn ở trong nhà lửa thì đường nào cũng bị triệt tiêu về hạt tâm lý tính và ngày cuối cùng khi mất lập thể này thì lại ở trong nghiệp lực vô cùng đó.
Đức Phật đã dùng đủ mọi phương tiện và dùng mọi siêu lực để tận độ chúng sinh ra khỏi nhà lửa. Nhưng chúng sinh vẫn còn ở nguyên trong nhà lửa thì Đức Phật gọi là Phật giả độ.
Phật giả độ nghĩa là Ngài đưa ra phương pháp độ nhưng hoàn toàn không thành đạt được đối với chúng sinh. Mà chư Phật là không mất giá trị vô thượng chính đẳng giác, mà chúng sinh thì còn nguyên những giá trị cộng nghiệp và các khổ não của nhà lửa.
Như vậy nếu chúng sinh mê lầm không thống nhất trong con đường tu học, thì đời đời Phật vẫn là Phật, còn chúng sinh vẫn là chúng sinh. Nếu chúng sinh giác ngộ thì chính chúng sinh là Phật và cũng ra khỏi mọi sự thống khổ của nghiệp và thống nhất ở sự giải thoát, ở sự bình an, cùng thống nhất trên mặt bằng của hệ thống pháp trí và hoàn toàn không bị biến đổi hệ thống ấy, thì mới gọi là chúng sinh và Phật được thực độ.
Nếu hôm nay Đức Phật ra đời thuyết pháp và thuyết rất nhiều trong 30 năm. Nhưng nếu con cái vẫn chưa thực độ thì Đức Phật vẫn là giả độ. Vì Ngài đã độ suốt trong 30 năm, mà rồi của Ngài vẫn là của Ngài, của chúng sinh vẫn là chúng sinh không có thêm bớt gì cả, thì Phật vẫn là giả độ. Như vậy khi nào chúng sinh được giác ngộ và thống nhất trên con đường của Phật thì Phật và chúng sinh được thực độ.
Đối với sự nghiệp Công Luật Kim Ngưu phá điền, hôm nay thuyền Công Luật đã quay về bến bờ Bia Sơn. Thì toàn thể con cái về Bia Sơn mục đích là thực hiện công án. Nhưng nếu mỗi người con mà không thành đạt được, thì mục đích của giá trị thực độ hoàn toàn không có. Bởi vì tất cả những ý thức nghiệp cưu mang vẫn tiếp tục hình thành trong đời sống của mỗi người con và nó có thể kéo chúng ta ra khỏi công án đó. Một khi ta ra khỏi công án Bia Sơn để về nhà thì chắc chắn rằng ta cũng chỉ làm những việc rất đời thường và dần dần có thể mất đi công án trục của Bia Sơn. Và những ánh sáng thường chiếu của Công Luật mà ta đã có, thì dần cũng sẽ bị biến đổi theo thời gian mà khó có thể kết tinh và thống nhất được, như những người đang có mặt để thực hiện công án Bia Sơn.
Như vậy công án Bia Sơn là rất thực đối với những người có tính thực độ, có tính quyết liệt về ý chí và giác ngộ cao. Nhưng nó không có giá trị đối với những người không ngộ nhập được công án, hoặc chỉ hiểu công án ở một chiều, một khía cạnh nào đó, thì đối với công án Bia Sơn sẽ khó có một quy trình tương ưng đối với những người đó.
Thế nên trong hệ thống Hồng Ân vẫn chia ra 2 phần: một phần là nhập sâu vào lõi của công án và một phần là chỉ ở ngoài da, lông của công án Bia Sơn mà thôi. Thế thì công án Bia Sơn hoàn toàn có tính bất tương ưng rất lớn. Và trong tương lai sự chuyển động từ giai đoạn 2 để hình thành giai đoạn 3 của công án Bia Sơn, thì chúng ta sẽ thấy nó còn ngoạn mục lắm.
Như vậy sự nghiệp Phật giả độ đối với chúng sinh giác ngộ thực độ, thì công án Bia Sơn cũng không khác về lĩnh vực này. Vậy những ai được thực độ đối với sự giả độ của Phật đạo, để thống nhất được sự giả độ với thực độ, thì có cùng Phật một hệ thống.
Nên Phật đưa những phương tiện giả để khai thị, mà đối với tất cả những chúng sinh và tăng chúng đã giác ngộ được sự khai thị đó mà được hưởng trọn vẹn sự thực độ, thì chính Phật và chúng sinh gặp nhau ở đây, còn nếu Phật đưa ra phương pháp độ là giả độ. Nhưng mà chúng sinh không giác ngộ thực độ thì đời đời chúng sinh và Phật không gặp nhau ở đây.
Như vậy công án Bia Sơn giữa Kim Ngưu và các thần sĩ cũng không khác những quy luật này. Nếu giữa Kim Ngưu và thần sĩ đã có chung một nguồn gốc để thực hiện công án này, thì không thể tách rời nhau để có thể thực hiện công án này. Nó cũng giống như hình và bóng không tách rời nhau, hoặc tính và thể cũng không tách rời nhau mà luôn thống nhất, thì công án này giữa Kim Ngưu và thần sĩ cũng như thế đó, thì mới được trọn vẹn trong tính thống nhất của công án này.
Ta thấy nghiệp thức cưu mang trong ngũ trược ác thế thì mức độ nhà lửa bốc cháy rất lớn trong đời sống của con cái. Như hôm nay chúng ta tập dần để được ra khỏi nhà lửa. Có người đã gần gần ra khỏi nhà lửa thì lại đi trở về nhà lửa. Như vậy nhà lửa ấy tiếp tục hình thành trong hệ thống nhiệt não, và mức độ nghiệp lực của con cái là tăng trưởng mà không giảm đi. Là vì sự xa lìa đối với ánh sáng Công Luật, hoặc là xa lìa đối với hiện thực hoá trong đời sống tu chính. Ví dụ chúng ta có một đạo tràng Bia Sơn mà lại bỏ đạo tràng ấy ra đi. Nếu chúng ta về xây dựng đạo tràng tại gia đình thì điều đó không hiện thực hoá. Vì sao? Vì từ xưa đến giờ ta sống trong nhiệt não về các nghiệp thức cưu mang, nên ta phải cần đến phương tiện để khai thị và giải trừ các nghiệp lực ấy. Như đạo tràng công án Bia Sơn, hoặc cửu kinh minh triết công án Bia Sơn; Hoặc là ánh sáng tự chiếu đối với giá trị hợp nhất của Đấng thế vì và con cái, hoặc giữa thầy và trò. Nhưng nếu không thống nhất được chỗ này thì biến đổi càng thêm biến đổi và nghiệp thức có thể phát sinh ra lớn hơn.
Như vậy những ai chưa ra khỏi nghiệp thức cưu mang, chưa giải trừ được ngũ độn sử, chưa thắng phục được 18 giới xứ và chưa điều ngự được tâm và pháp, thì hoàn toàn còn ở trong nhà lửa.
Ta thấy trong thế giới duy ngã thì nghiệp thức còn rất nặng nề. Chúng ta đang tìm cách để cứu chúng ra khỏi nhưng chưa cứu được, mà mình lại tiếp tục đi vào nhà lửa đó. Thì nhà lửa đó càng dữ dội thêm trong đời sống duy ngã đại thể còn nằm ở phía dưới. Thì nhất định sẽ còn trôi dạt và luân hồi.
Hôm nay bài học này cho thấy rằng một đại sự nhân duyên mà Công Luật công án Bia Sơn ra đời là nhằm để câu thúc, dẫn độ con cái ra khỏi nhà lửa. Nhưng con cái có dấu hiệu là đi trở vào nhà lửa nhiều hơn là đi ra khỏi nhà lửa. Như những gia đình bất tương ưng không hạnh phúc, giữa phu thê và con cái không đồng tu, các nghiệp lực dẫy đầy trong đời sống của gia đình ấy cũng thuộc về nhà lửa. Lại có những người con thuyết theo kiểu biên bìa là: không làm công án Bia Sơn cũng không mất giá trị chính pháp. Thì chẳng qua đây là cách nói để an ủi bởi các nghiệp thức chuyển động của mình, trong đời sống mà mình không thực hiện đựơc công án, chứ thật ra là không có chính pháp trong con đường này, vì đó là con đường của nghiệp thức cưu mang.
Như vậy công án Bia Sơn là công án hiệu triệu cho sức mạnh của hóa để nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nghiệp thức cưu mang. Những người có duyên và không duyên đồng tương quan để đi đến con đường Công Luật đại hóa. Thì Công Luật đại hóa hoàn toàn có thực trong đời sống của chúng ta. Nhưng đối với con cái thì không thề hiện thực được tính sự thực đó nên đành phải biến đổi. Đối với Cha rất là xót xa và mong rằng tất cả con cái phải quyết định con đường cho mình để thực hiện cho đúng, vì hiện tại trước mắt lập thể của chúng ta tuổi già ngày càng đến gần, mà tương lai ánh sáng giải thoát thuộc về pháp tính thì còn ở đàng sau rất xa.


TÍNH VÔ NGHI TRONG HỆ THỐNG CỬU KINH
Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính. Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường.
Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính: Thì đây là tính bất biến đổi về phần lý, nhưng trong hệ thống của nhị nguyên thì sự việc ít khi đi theo lý đó mà lại đi một chiều khác. Nên mới có: Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường.
Ta có thể thấy một nhân bản thống nhất là thống nhất một ý chí, một tâm pháp, một ý niệm, một tư tưởng và một ý thức. Nhưng khi phân chia là 6 căn, 6 thức, 6 trần mà lại rất vô thường. Nếu chúng ta không nghiệm ra được chỗ diệu lý này thì cái chuyện vô thường lại là thường.
Nghĩa là chuyện vô thường của sự phân chia ấy rất là thường xảy ra. Nhưng chuyện thường của lý thống nhất thì lại không có; mà nếu có là rất vô thường.
Hôm nay chúng ta bình luận về bài này để nhằm bổ trợ cho tính vô nghi đối với sự nghiệp Công Luật vũ trụ và hệ thống Cửu Kinh Minh Triết.
Ta thấy câu một: Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính, là tính tất yếu. Câu hai: Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường, không thuộc về tất yếu, mà là vạn pháp thường biến trong hệ thống nhị nguyên. Thì đây là nhân ở lý tất yếu mà có.
Nói cành ngọn vô thường là nói sự biến đổi. Chứ thật ra về diệu lý của vô thường thì nó là thường trụ. Vì tất cả vạn vật là có thay đổi nhưng cuối cùng cũng về chân tính mà trụ. Như vậy, vô thường là mặt bằng của sự biến đổi, nhưng biến đổi là sự chuyển hóa và hình thành của giá trị không biến đổi. Thì đây là điều mà chúng ta phải lý luận để bổ trợ cho giá trị vô nghi đối với sự nghiệp Công Luật vũ trụ.
Ngài bảo ông Chơn Minh Ứng Hội trình bày.
Ông Chơn Minh Ứng Hội: Thưa Cha, lý thống nhất trong cội nguồn chân tính là nói lên tính thống nhất và không biến đổi của chân tính vũ trụ để sinh ra định luật vô thường, nhằm mục đích kết tinh tinh hoa để trở về tính bất biến.
Như vậy, duy ngã đại thể muốn trở về thành tựu tính bất biến đó, thì phải đi qua những định luật vô thường để kết tinh và tiến hóa. Nhưng trong thế giới nhị nguyên con người thường hướng về hình tướng bên ngoài nên ý thức vô thường biến đổi liên tục. Nhưng cũng nhờ sự vô thường đó và từ phương tiện đó mà con người mới giác ngộ trở về phần lý và thành tựu về chân tính không biến đổi.
Ngài dạy: Chúng ta phải nói rạch ròi về việc của lý và sự. Như thường ở mặt bằng duy ngã đại thể khi chưa giác ngộ thì lý và sự là không gặp nhau. Nên câu hai là nói cho mặt bằng duy ngã đại thể chưa giác ngộ, là phần hiện hữu trong đời sống của thế giới nhị nguyên.
Về sự phân chia ta không thể nói hết cái tận cùng của sự phân chia đó. Như cả đời người cứ phân chia mãi, thậm chí ngày mai chết mà hôm nay cũng còn phân chia. Như vậy, cái nguy khốn của bề trái về định luật vô thường thì không bao giờ có được tính chân thường. Nên về câu hai đức Phật nói rằng: Chúng phân chia để chúng luân hồi, chúng phân chia nên chúng mới ở ngoài mà chưa bao giờ trở về bên trong được.
Nếu ta đem câu hai này mà áp dụng cho các vị Tổ và các vị Thánh đế, hoặc cho những vị đã thành tựu chính vị, thì câu này không có tác dụng. Nhưng đối với chúng sinh thì câu này là có thực trong đời sống mặt bằng duy ngã.
Như vậy, pháp này là pháp bổ trợ vô nghi để xác định về tính chất chân lý một cách thuần nhất. Nhằm để làm sáng tỏ cho hệ thống lập nguyên (của nhất nguyên và nhị nguyên). Nên câu một là của nhất nguyên, còn câu hai là của nhị nguyên.
Đối với mặt bằng của chúng sinh thì giữa nhất nguyên và nhị nguyên là hai. Nhưng đối với mặt bằng của Như Lai, Bồ Tát và Thánh hiền thì là một. Chính chỗ hai và một đó đã làm đão lộn tất cả các pháp. Và thường thường là xảy ra trong hệ lụy của chúng sinh tánh về các ý thức phân chia không dừng lại bởi những lầm lẫn ghê gớm của chúng sinh. Lầm lẫn có hai vấn đề: Khách quan và chủ quan. Về khách quan của lầm lẫn là ta dùng tri thức để nhìn nhận sự lầm lẫn. Về chủ quan của lầm lẫn là dãy đầy những nghiệp lực cưu mang và nặng trĩu trong ý thức mà không thể tháo gỡ được. Như vậy, giữa chủ quan và khách quan lầm lẫn là hai vấn đề luôn luôn đuổi bắt chúng ta trong đời sống của thế giới nhị nguyên. Hôm nay chúng ta phải làm rõ vấn đề này, để tẩy sạch mọi mê tín, mọi u khuất và bày tỏ được chân lý của sự sống đối với sự nghiệp Công Luật giữa hai thềm nhất nguyên và nhị nguyên.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ luận bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, “lý thống nhất trong cội nguồn chân tính”. Tức chúng con xác định về cội nguồn chân tính thì hoàn toàn thống nhất về phần lý. Thống nhất ở đây là thống nhất trong tổng hàm hoa giữa tính và thể, cũng như giữa tâm và vật. Tức là trong siêu sắc năng và sắc năng thì tổng hàm hoa ấy đã được thống nhất một cách trọn vẹn, từ đó mới hóa ra tất cả vạn pháp. Như vậy, “sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường” là muốn nói cho thế giới nhị nguyên, muốn nói cho ý thức, tâm thức vô thường chuyển động theo dòng nghiệp trong qui trình hóa. Mà hóa này không phải Thống hóa phân chia. Đối với Thống hóa phân chia là phân chia trong hệ thống hóa, phân chia trong sự công bằng và phân chia trong sự thống nhất tổng hàm hoa, chứ không phải phân chia trong sự phân ly. Vì bản chất của Thống hóa luôn luôn hội tụ và thống nhất.
Như vậy, “sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường” là muốn nói đến những tư tưởng, những ý niệm vô thường của con người đã phân biệt. Từ đó mới phân chia ra, làm rã rời giữa nhất nguyên và nhị nguyên. Rồi cho nó là vô thường, chứ thật ra thực chất, bản chất của vạn pháp luôn luôn thường trụ. Nên ta thấy các pháp sinh diệt tương tục vô tận không chấm dứt, đó chính là bản chất của thường trụ. Thì nhất nguyên đã có ngay trong đời sống của nhị nguyên rồi.
Như vậy, những sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường đó, những sự biến đổi đó thuộc về các hình sắc lập thể có thay đổi là để chuyển trạng và kết tinh tinh hoa. Vì biến đổi phần tướng còn chất liệu tinh hoa bên trong thuộc về phần lý thì không bao giờ mất, không bao giờ biến đổi.
Chúng ta biết rằng chân tính bất biến của Thống hóa đã có trong hạt tâm lý tính của chúng ta, thì cũng đồng nghĩa là hạt tâm lý tính trở thành bất biến. Như vậy, tính thống nhất đã có trong hạt tâm lý tính ấy. Nhưng chúng ta cứ mãi theo các pháp biến đổi bên ngoài, thì chính ta đã phân chia tính thống nhất về hạt tâm lý tính của mình, nên kết quả là chịu thăng trầm đau khổ theo sự biến đổi của các pháp. Như vậy, “sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường”, là nói cho chúng sinh trên mặt bằng duy ngã đại thể chưa giác ngộ. Chớ còn đối với Như Lai, Bồ Tát và các vị đã giác ngộ về chân lý tổng hàm hoa của vũ trụ là nguồn gốc của mình rồi, thì câu này hoàn toàn không có tác dụng đối với các hàng bậc ấy.
“Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường” là muốn nói cho các hoặc lậu chuyển động trong tiềm thức và ý thức. Bởi ta đã nhận lầm các pháp tướng là thật, nên đã biến đổi trong cành ngọn vô thường đó mà đánh mất đi giá trị của lý thống nhất trong cội nguồn chân tính kia.
Ngài dạy, bây giờ Như Lai thay đổi câu kinh thứ hai thành câu kinh thực tướng của giá trị hóa đối với tính thống nhất, và lý thống nhất của chân tính hóa đối với vạn pháp. Thì câu kinh thứ hai Như Lai đổi là: “Sự phân chia vào định luật kết tinh”. Nghĩa là hãy đánh đổ tất cả sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường. Vì ngoài cành ngọn vô thường là cái dễ lầm mà thế giới duy ngã đã lầm rất lớn. Như Lai bèn nhân ở tính ánh sáng vô cùng mà thay đổi câu hai là: “Sự phân chia vào định luật kết tinh”. Thì câu hai này là để giải quyết về phần hai của giá trị lập thể đối với hệ thống thống nhất. Tức sự phân chia này nhằm để kết tinh.
Như vậy, chúng ta hãy giác ngộ rằng: Ngoài cành ngọn vô thường ấy thì trong đó có cái vào định luật kết tinh. Thì chỗ này đã được sáng tỏ, để bổ trợ cho tính vô nghi của Cửu Kinh Minh Triết đối với Công Luật vạn hữu trong đời sống của thế giới nhất nguyên và nhị nguyên, thì đã được thống nhất ở đây.
Thường thì sự nghi ngờ nằm trong thế giới nhị nguyên rất lớn. Vì nhị nguyên là thế giới của ngũ độn sử (tham- sân- si- mạn- nghi) của phân chia 6 căn, 6 trần, 6 thức và là thế giới lập thể của 5 ấm (sắc- thọ- tưởng- hành- thức). Như vậy, những sự phân chia ấy là để chịu trách nhiệm vai trò về sự thống nhất trong hệ thống hóa. Nếu đời đời không có sự phân chia để trở thành hệ thống ấy, thì có lẽ chúng ta sẽ không thành con người. Chính vì thành con người là đã phân lập công vụ giá trị hóa đối với các hệ thống đại tạng và thiết lập phân chia trong cơ cấu thống nhất ấy để thành lập hệ thống thống nhất. Thì giá trị thống nhất vẫn là đại nguyên, vẫn là nhất nguyên, vẫn là linh nguyên, vẫn là giá trị thường trụ bất biến đổi.
Trong 6 đường luân hồi có thay đổi về lập thể, nhưng hạt tâm lý tính vẫn sống trong sự an vui hoặc khổ đau, chứ không mất bản hạt ấy, thì ấy là bản chất của chân thường.
Như vậy, sự việc an vui hoặc khổ đau là thuộc về nhân quả do chúng ta giác ngộ hoặc lầm mê mà tạo tác ra. Còn chân thường là thuộc về bản chất của hạt tâm lý tính. Thì ở đây rất rạch ròi rõ ràng về bản giác hạnh nguyện của Công Luật vũ trụ và giá trị của linh giác và giác nguyên của chúng ta đã hằng có trong đời sống ấy.
Về vô thường thì chúng ta phải hiểu rằng: Nếu cho vô thường là không thực thì cũng chưa hẳn là đúng, còn nếu cho là sự thật chân lý tột đỉnh thì cũng chưa hẳn là đúng. Vì sao? Vì vô thường là thay đổi, mà thay đổi là nhằm để hóa. Nên Như Lai mới thay đổi câu 2 là “Sự phân chia vào định luật kết tinh”. Thì câu 2 này sẽ gặp được câu 1 là “Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính”. Thì sự thay đổi này bằng sức mạnh của sự nghiệp hóa mà không chịu luật vô thường chi phối nó.
Ngài bảo ông Chơn Ân Đại Hành luận bày.
Ông Chơn Ân Đại Hành: Thưa Cha, “Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính”. Đối với vũ trụ trung tâm vạn năng hoàn toàn mang tính thống nhất đó là thuộc về nhất nguyên. “Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường” là thuộc về mặt bằng nhị nguyên. Đây là sự phân chia nhằm để kết tinh tinh hoa nên Cha mới nói câu hai là “Sự phân chia vào định luật kết tinh”.
Ngài dạy: Diệu ý của sự phân chia là để thực hiện hệ thống, cấu trúc hệ thống, thành lập các trọng nhiệm về các hệ thống. Ví dụ hệ thống trạm kim, hệ thống trạm hỏa…. Thì đây là sự phân chia nhưng không tách rời tính thống nhất của hệ thống. Còn con người thì lại dùng ý thức phân chia làm rã rời hệ thống, thì đây là phân chia của sự lầm lẫn. Còn phân chia của sự giác ngộ là phân chia của trọng nhiệm, của vai trò hệ thống, cơ cấu để thực hiện công trình chung đối với giá trị hóa.
Ông Chơn Ân Đại Hành nói tiếp: Thưa Cha, sự phân chia mà quay về thì đó là sự phân chia kết tinh và mang tính thống nhất. Còn phân chia mà không quay về là không kết tinh.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, “Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính” là nói về bản chất thống nhất của gốc vũ trụ. Còn “Sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường” là nói về ý thức phân biệt của duy ngã đại thể. Thật sự ra bản chất thống nhất của Thống hóa đã có trong nhất nguyên và nhị nguyên rồi. Như vậy, sự phân chia ở đây có hai vế, nên câu kinh thứ ba là “Sự phân chia vào định luật kết tinh”. Nếu duy ngã đại thể mà phân biệt trong sự lầm lẫn đối đãi thì sự phân chia này sẽ bị lạc lối về, nên gọi là vô thường. Nhưng nếu phân chia để hướng thượng thì đi vào định luật kết tinh, thì chính chỗ này là trở về trong lý thống nhất.
Như vậy, 3 câu kinh này là nói về giá trị thực tướng của vũ trụ Thống hóa. Và Như Lai đã nhìn thấy được về những định luật qui luật đó mà nói để chúng ta tìm về với vũ trụ bằng định luật kết tinh.
Ngài dạy: Vô thường hoàn toàn là giả tướng, nó thuộc về qui trình hóa. Thì chúng ta đừng nhằm vào hóa mà đánh mất bản lai diện mục của sự nghiệp chân tính ánh sáng của trung tâm, mà trong chúng ta đã có. Thế nên tất cả những pháp bổ trợ vô nghi đối với sự nghiệp Cửu Kinh Minh Triết Công Luật Thống hóa vũ trụ đã được trở thành những bài toán đích đáng nhất và hoàn toàn không có một chút mê lệch trong hệ thống kinh điển này. Vì kinh điển này là giải quyết những cơn mê đối với pháp giới chúng sinh, làm cho chúng sinh giác ngộ để trở về kết tinh giá trị thực tướng của tổng thể tinh hoa vũ trụ. Như vậy, định luật vô thường là nhằm để chúng ta trở về với thường trụ.
Ta thấy con người ai cũng có tâm hướng thượng, nhưng hướng thượng còn vô thường, nên bị nghiệp thức cưu mang bên dưới nó kéo lại. Cưu mang thuộc về ân sủng, nhưng ta phải giác ngộ sự cưu mang nào là cần thiết. Nên Như Lai nói: Tại sao ngươi không mang nặng những trọng nhiệm của giá trị sự nghiệp, mà ngươi lại mang nặng những thứ nó không thể đưa ngươi đến đỉnh vinh quang. Nếu ta cưu mang với ngai vàng điện ngọc thì làm sao ta cưu mang chúng sinh trong sự nghiệp đại hóa cứu thế. Như vậy, ta bỏ sự cưu mang này để lấy sự cưu mang khác. Để chúng ta có một sự cưu mang làm thay đổi được sự nghiệp đời sống của chúng ta và đưa chúng ta đi đến đỉnh vinh quang của sự nghiệp cứu thế và giải thoát. Còn nếu ta cưu mang nghiệp dĩ, cưu mang những điều bất tương ưng, thì chúng ta không trở về được mà lại còn phải đi xa hơn.
Thế nên chúng ta cần biết mình phải cưu mang những gì và làm gì để có được sức mạnh về tư tưởng, ý chí để thực hiện cho đúng nghĩa đối với Công Luật vũ trụ. Vì chúng ta là con người của hành tinh và vũ trụ, thì chúng ta phải đi vào vũ trụ và trọng nhiệm chúng ta phải hóa hành tinh và phải thực hiện những công trình tốt đẹp cho hành tinh.

HẠT TÂM LÝ TÍNH THUẬN VẬN LUẬT TUẦN HOÀN HÓA VẠN PHÁP
Con người có não bộ thần kinh như có một đầu máy, có một công trình máy và vũ trụ là siêu máy. Con người đã bắt chước tất cả những cơ cấu hệ thống máy lập trình của vũ trụ quan. Như con người bắt chước con chim để làm máy bay, bắt chước con cá để làm tàu thủy v.v… Tất cả những thứ có trên đời này là những tác phẩm đương nhiên của sự nghiệp tuần hoàn và thành lập hóa của giá trị tuần hoàn thuận. Như tất cả những tác phẩm từ vũ trụ hóa ra là không có thứ gì nghịch lại tuần hoàn, vì cái gì nghịch là bị triệt tiêu và mất đi, còn cái gì thuận là tồn tại. Cho nên trong đời sống của tam tài là “thuận thiên giả tồn nghịch thiên giả vong”. Trời đất rất máy móc và tuần hoàn rất định luật. Nếu một ai mà chống lại định luật thì đồng nghĩa là tự phá định luật của chính mình, vì chính mình đã được thiết lập trong định luật ấy.
Nếu ta học mà không giải quyết được sự mê lầm, thì chỉ để lại cái chuyên môn của nghề nghiệp, và cuối cùng bá nghiệp sẽ dãy đầy trong đời sống của nhân sinh thì hệ thống chuyên môn ấy không thể tồn tại trong tính chất thực tướng của giá trị vũ trụ.
Trên mặt bằng khách quan thì nhân loại đã thừa nhận vận luật tuần hoàn. Đối với tuần hoàn nghịch và tuần hoàn thuận thì thế giới cũng đã rõ mặt rồi. Vì tuần hoàn là một hệ thống máy móc vô cùng vĩ đại, khoáng đại và thực tướng nhất. Như trong thân thể con người thì tất cả những nghiệm thể và những trọng trách của các bộ phận quan trọng về ngũ tạng thì y học người ta đã biết và làm hết rồi. Còn về cơ cấu não bộ rất phức tạp và đời sống của não bộ gần như là một cơ quan đầu não quan trọng nhất của hệ thống tuần hoàn. Con người cũng đã biết rằng: như thế nào là nghịch, như thế nào là thuận; nhưng có những cái biết mà không thể cứu chữa được, thậm chí là họ đã đưa ra hàng trăm ngàn kế hoạch hạn chế về sinh đẻ nhưng rồi kết quả cũng không cao mà lại còn sinh ra nhiều thứ đảo lộn khác.
Về định luật thành trụ hoại không và sinh lão bệnh tử cũng hình thành trên hệ thống duy ngã đại thể. Như vậy sự mãn tính về nhân sinh trên hành tinh thì nó cũng thành lập theo định luật của thành trụ hoại không. Một khi mà tự nó nghịch lại tuần hoàn thì nó sẽ bị đào thải và triệt tiêu. Nên Như Lai nói rằng: nhân duyên thuận thì sinh, nhân duyên nghịch thì diệt. Tức là nếu giữa người và người gặp nhau mà không hòa hợp với nhau, không thể nhập với nhau, không đồng thuận về hiểu biết và không thương mến cùng nhau thì sẽ không bao giờ có thể tồn tại. Thế nên các mối nhân duyên khách quan và chủ quan nó luôn luôn có những sự ràng buộc nhất định trong đời sống của hệ thống duy ngã đại thể và có liên quan đến vận luật tuần hoàn.
Hạt tâm lý tính không tách rời vận luật tuần hoàn chu kinh và chính vận luật tuần hoàn chu kinh đã hiệp thương cùng hạt tâm lý tính và giúp cho hạt tâm lý tính được tăng trưởng thì vận luật tuần hoàn là hệ thống rất công luyện về tính khách quan và có tính chất chế biến giá trị sản phẩm và thành tựu tổng thể tinh hoa cuối cùng của nó là vàng và kim cương.
Thế nên vận luật tuần hoàn là hệ thống chế biến của sự nghiệp vĩ mô và vi mô đối với đại thể duy ngã và hệ thống lập hình đa năng. Nên ta nói rằng: hạt tâm lý tính thuận vận luật tuần hoàn chuyên môn hóa vật thể. Như vậy, vật chất từ vi mô đến vĩ mô, từ đơn giản đến phức tạp, vật chất của giá trị cao cấp, thường cấp và hạ cấp thì tính chất hòa hợp của vật chất và hóa của vật chất nó luôn luôn nằm trong quy trình thuận đối với vận luật tuần hoàn.
Như vậy khi chúng ta hình thành hạt tâm lý tính thì từ trong tính khách quan ta đã thuận vận luật tuần hoàn không tính theo thời gian và không gian, và hóa trong giá trị thuận vận luật tuần hoàn với thời gian và không gian ấy, cho nên chúng ta mới có mặt hôm nay. Nếu chúng ta đã nghịch nó thì hoàn toàn chúng ta không có hạt tâm lý tính và đồng thời chúng ta không trở thành nhân bản duy ngã đại thể trên mặt hành tinh. Nên chúng ta liền giác ngộ hạt tâm lý tính thuận vận luật tuần hoàn chuyên môn hóa vật thể. Như vậy bộ máy chuyển động của tuần hoàn là hình thành giá trị sản phẩm vật chất các đơn vị hóa và hình thành hóa ở trong tổng thể cũng như các hệ thống đơn vị cơ cấu và rất trật tự trong thành phẩm ấy.
Nếu ta bẻ gãy vận luật tuần hoàn chu kinh thì sự nghiệp chuyên môn hóa của các công trình không thể mọc lên trên mặt đất này. Nên các nhà bác học nói rằng: nếu đánh mất vận luật tuần hoàn chu kinh thì chúng tôi là bác học chết vì hoàn toàn không có mặt bằng của giá trị tuần hoàn để chúng tôi chuyển động và hình thành hóa vật chất, và vật chất sẽ không có sản phẩm ra đời với những giá trị cao cấp ở đời sống trong vận luật tuần hoàn.
Hạt tâm lý tính liên tịch và chiếu suốt trong vận luật tuần hoàn chu kinh thuận để hóa vật chất và thành lập các cơ cấu vật chất và các thành phẩm vật chất trong đời sống hóa của mặt bằng duy ngã đại thể. Như vậy vận luật tuần hoàn chu kinh nếu đi đúng là vạn hội bình an trong thế gian và mặt bằng luôn luôn có những ân sũng lớn đối với vận luật tuần hoàn chu kinh và sẽ trả lại cho chúng ta những sản phẩm tốt nhất trong đời sống ấy. Cũng không bao giờ lật ngược và lấy đi những giá trị thành lập của tuần hoàn đối với chu kinh này, cùng đối với hạt tâm lý tính và vật chất kia, tất cả được thống nhất trở thành sức mạnh từ tương đối đi đến tuyệt đối.
Tất cả những giá trị ấy đã trở thành định luật, trở thành kho tàng, trở thành máy móc rất vững chải, rất tinh khôi và rất thực tướng nên Như Lai nói: máy móc của tuần hoàn là máy móc của trung tâm thực tướng, là hoán đổi tất cả những hệ thống cơ cấu và thiết lập những cơ cấu thuận theo giá trị hóa của tổng thể tinh hoa nên có pháp hoa.
Như vậy tuần hoàn đã cho chúng ta những pháp hoa lừng lẫy nhất trên thế giới và tất cả những thái dương hệ, ngân hà và thiên hà. Dù trăm triệu mặt trời đi nữa cũng chịu luật tuần hoàn để kết tinh ánh sáng và thành lập những ánh sáng chói lọi của những vùng kinh điển xa xôi và những trung tâm kinh điển đã được hiệp chiếu và không bị tan biến của tuần hoàn ví dụ như kim cương và vàng.
Như vậy hạt tâm lý tính ở mặt bằng duy ngã đại thể hãy hiếu thuận tuần hoàn như một công trình xây dựng vĩ đại nhất cho giá trị hạt tâm lý tính tiếp theo và nối bước theo giá trị vật thể đối với giá trị thành lập để chúng ta có những công trình vĩ đại trong đời sống thế gian.
Bài học hôm nay mang tính khai thị để sau này nương theo những kinh điển này mà khai thác thêm và thấy rõ thêm những giá trị công suất lớn của vũ trụ và nhân sinh, của hành tinh và thế giới. Thì con người sẽ làm những chuyện hòa bình nhiều hơn là chiến tranh và con người sẽ hiếu nhân đại thể hơn là ghét nhau và ruồng bỏ nhau và cũng không còn vô lý với nhau trên mặt bằng duy ngã đại thể, trong hệ thống cửu kinh minh triết là sức mạnh cứu cánh lớn nhất của chúng ta.


GIẢNG VỀ LỜI TUYÊN NGÔN CỦA ĐỨC THÍCH CA: “THIÊN THƯỢNG, THIÊN HẠ, DUY NGÃ ĐỘC TÔN”
Thiên thượng: là Ngài chỉ cho sự cao cả vô cùng của vũ trụ. Thiên hạ: là Ngài chỉ cho đại thể vô cùng của muôn loài. Duy ngã độc tôn: tức duy ngã là quí nhất. Duy ngã đây là Ngài chỉ cho sự tròn đủ của tổng thể tinh hoa trong vũ trụ, mà không thể tách bất cứ một tinh hoa nào của tổng thể ấy ra khỏi đời sống của tổng thể mà có duy ngã. Vậy, duy ngã tức là trung tâm.
Nếu ta duy tâm, duy vật, duy linh thì chính ta đã chẻ cái tổng thể đó ra nhiều mảnh, thì ta mất cái tổng thể của trung tâm.
Ví dụ: nếu chúng ta duy tâm thì ta bị trừu tượng hóa trong tư tưởng mơ hồ và chúng ta lại xem thường vật chất.
Nếu chúng ta duy vật cực đoan thì hoàn toàn chúng ta đánh sập về phần nội tính, chân tính; vì chúng ta cho rằng vật chất hủy diệt thì ý thức cũng theo đó mà mất.
Nếu chúng ta duy linh mang tính đa thần thì chúng ta lại bị nô dịch trong đa thần đó mà mất tính khoa học đại ngã, đồng thời mất tính khoa học duy ngã. Tức thượng tầng khoa học bị mất và hạ tầng khoa học cũng mất luôn.
Nếu duy linh độc thần thì chúng ta hoàn toàn ký gởi đời ta cho đấng Thống Hóa hoặc là Thượng Đế, mà không tự thấy mình là tổng tinh hoa đã được Ngài cho, mà chính ta phải hóa trong công phu, công luyện bằng những phương pháp trong sự nghiệp tu chính để trở về với Ngài. Như vậy, duy linh độc thần ký gởi mất tự lực, là đồng nghĩa với mất thực thể của giá trị chính chúng ta.
Thì duy ngã đại thể mà Đức Như Lai muốn nói đó là lời của trung tâm, là bản chất của trung tâm và giá trị tổng thể của trung tâm vậy. Còn các duy khác hoàn toàn mất trung tâm.
Tóm lại, chúng ta duy tâm, duy vật, duy linh là chẻ nhỏ và làm phân tán cái tổng tinh hoa của duy ngã đại thể nên không hóa được, mà chúng ta phải trở về mặt bằng của duy ngã đại thể là tổng thể sức mạnh để hóa chân ngã và trở về cùng đại ngã.
Như vậy muốn hóa được chân ngã là chúng ta phải đi trên con đường của Tâm Vật Hội Tụ Kinh, Duy Ngã Vạn Pháp Kinh, Trung Tâm Vạn Năng Kinh. Hoặc chúng ta đi theo chu trình thuận tổng thể sức mạnh của Vận Luật Tuần Hoàn Chu Kinh thì mới hóa được.
Chúng ta phải dùng sức mạnh của tổng thể mặt bằng duy ngã để hóa chân ngã. Vì chính duy ngã đã hóa ra bác học, đã hóa ra âm nhạc, đã hóa ra toán học, đã hóa ra công trình đa năng, đa quan và hóa ra kỳ quan, cùng tất cả mọi sản phẩm tốt nhất trên thế giới này. Vậy trung tâm duy ngã là tổng kho tàng để hóa vạn pháp và hình thành giá trị hóa đa năng.
Hôm nay tôi muốn nói về lời tuyên ngôn của Đức Thích Ca. Tức duy ngã đại thể là Trung Tâm; đồng nghĩa với Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là Trung Tâm; đồng nghĩa với Trung Tâm Vạn Năng Kinh là Trung Tâm; đồng nghĩa với sức mạnh Oai Âm Dương Vạn Tỏa không tách rời sức mạnh Trung Tâm để hóa vạn pháp, chuyển động luật tuần hoàn trong vạn hữu và hình thành vạn pháp qui tôn.
Chúng ta là đại diện cho tính duy nhất của Trung Tâm và đại diện cho tính duy nhất không biến đổi của bản hạt, thì chúng ta phải hóa. Chúng ta có 3 đại thừa tạng để hóa, có Cửu Kinh Minh Triết để hóa, có 55 pháp trợ luật để hóa, có giới định huệ để hóa, có bát chánh đạo để hóa, có thất giác bồ đề chi để hóa, có 6 căn – 6 thức – 6 trần để hóa, có 5 ấm để hóa, có ngũ tạng để hóa, có não bộ thần kinh để hóa và có tay chân để vận hành trong sự nghiệp hóa.
Duy ngã đại thể là mặt bằng lập thể hóa của biện chứng pháp và hình thành tính chất giá trị tinh hoa của Trung Tâm Vạn Năng.
Duy ngã đại thể là đại diện cho tổng thể Trung Tâm vũ trụ quan. Trong sự nghiệp hóa của 3 tầng: hạ – trung – thượng và đến tột cùng của pháp thân kim cương bất hoại trong sự nghiệp chân tính của vô cực.
Duy ngã đại thể đã trở nên tính toàn thực và xứng đáng là sự nghiệp trung tâm của vạn pháp kinh, xứng đáng là con mắt tổng thể của giá trị hóa và xứng đáng là sự nghiệp mặt bằng bền vững của sự nghiệp hóa Trung Tâm Vạn Năng.
Trở về duy ngã đại thể là tròn đủ linh năng, tròn đủ hạt tâm, tròn đủ cơ cấu hệ thống vật lý và tròn đủ tất cả tổng thể tinh hoa mà không còn bị một chia cắt nào trong duy ngã đại thể đó. Vậy duy ngã đại thể đã đến với chúng ta , thì chúng ta hãy tìm về duy ngã đại thể để được tôn vinh trong sự nghiệp hóa chân ngã.
Hạnh phúc thay! Chúng ta đã có sự nghiệp Duy Ngã Vạn Pháp Kinh và vui mừng thay! Chúng ta đã được sống trong tổng tinh hoa của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh. Kinh quĩ ấy đã hàm chứa sự sống và không thể khác được, vì vậy mà ta sẽ ở Trung Tâm Duy Ngã để hóa tất cả những địa đàng xanh tươi nhất, những công trình kỳ quan lớn nhất cho nhân loại hưởng thụ bằng sự nghiệp Duy Ngã hóa. Đó là con đường chân lý của chúng ta.
Những điểm triết bổ sung Duy Ngã.
– Chư Phật đến thế gian Ngài mang xác thịt như chúng sinh, giống chúng sinh hoàn toàn và phải chịu định luật sinh lão bệnh tử. Nhưng Ngài khác chúng sinh là khác phần trí tuệ, đức độ và tài năng; Ngài khác chúng sinh là Ngài có một tâm linh khổng lồ không bệnh hoạn, có một tình thương vô cùng không ngăn mé.
– Duy ngã đại thể là hàm chứa con số tổng của các nền văn minh trong duy ngã đại thể ấy. Dù là nền văn minh cận đại hay cổ đại; hoặc nền văn minh sơ cấp, tiểu cấp, trung cấp và đại cấp cũng đều có trong duy ngã đại thể.
– Càng phân chia ra nhiều cái duy là càng chẻ cái tổng thể mà vũ trụ đã cho; là tự làm bớt đi cái giá trị tổng thể của chính chúng ta có.
– Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là một sự trình bày chân thật và hơn tất cả mọi sự chân thật; chân thật đó là duy ngã đại thể hóa chân ngã. Đó là sự biện chứng của duy ngã đại thể đã có mặt trên các hành tinh và hành tinh cùng duy ngã đại thể đã trở thành công chứng cho vũ trụ.
– Duy ngã đại thể đã công chứng cho Trung Tâm Vạn Năng; Duy ngã đại thể đã công chứng cho Âm Dương Vạn Tỏa; Duy ngã đại thể đã công chứng cho Vận Luật Tuần Hoàn. Như vậy, duy ngã đại thể là mặt bằng lập thể hóa của biện chứng pháp và hình thành tính chất giá trị tổng tinh hoa của đấng Thống Hóa. Thì duy ngã đại thể là đại diện cho tổng thể của vũ trụ quan và trung tâm của vũ trụ quan. Đó là tính vững chắc của duy ngã đại thể trong sự nghiệp hóa của 3 tầng hạ- trung- thượng; cho đến tột cùng của pháp thân kim cương bất hoại trong sự nghiệp chân tính của vô cực mà không bao giờ mất.
– Vậy, duy ngã đại thể đã mang tính toàn thực, thì duy ngã đại thể xứng đáng là sự nghiệp trung tâm của vạn pháp kinh; xứng đáng là con mắt tổng thể của giá trị hóa và xứng đáng là mặt bằng bền vững của sự nghiệp hóa Trung Tâm Vạn Năng.
– Trở về duy ngã đại thể là không mất duy linh- duy tâm- duy vật, mà tròn đủ linh năng, tròn đủ hạt tâm, tròn đủ cơ cấu hệ thống vật lý, tròn đủ tất cả tổng thể tinh hoa và không còn bị chia cắt trong duy ngã đại thể đó nữa, mà được sống vững chắc trong minh triết, trong mặt bằng hóa từ hành tinh này đến hành tinh khác; cùng nhiều hành tinh được hóa trong duy ngã đại thể để đi đến chân ngã.
– Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là vô địch vì Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là trung tâm của sức sống tổng thể vạn năng. Vì vậy, duy ngã đại thể là mặt bằng giá trị chân lý của sự thực mà vũ trụ đã hình thành sự nghiệp hóa.
– Thống Hóa Trung Tâm cùng các pháp chính thống đã có mặt trong thế gian rồi, chúng ta đừng tìm kiếm ở đâu, mà hãy trở về với duy ngã đại thể, để khai thác tất cả tổng tinh hoa của vũ trụ, trong sự nghiệp hóa chân ngã và thành tựu đại ngã.
– Như vậy, hạnh phúc thay chúng ta đã có sự nghiệp Duy Ngã Vạn Pháp Kinh và vui mừng thay chúng ta đã được sống trong tổng tinh hoa của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh. Kinh quĩ ấy đã hàm chứa sự sống trường viễn, vì vậy mà ta trở về trung tâm duy ngã để hóa tất cả những địa đàng xanh tươi nhất, những cung trời đẹp nhất và những công trình kỳ quan lớn nhất cho nhân loại hưởng thụ bằng sự nghiệp của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh.
Đấng Thống Hóa có được ngôi lời và vô lượng nghĩa trong giá trị hóa, thì cũng lấy mặt bằng của duy ngã đại thể làm ngôi lời. Vì đó là tính chung nhất của giá trị đại thể và sức mạnh lớn nhất của ngôi lời mà đấng Thống Hóa đã cho trong mặt trạng duy ngã đại thể đó.
Nếu có xuất phát những ngôi lời cao hơn để thiết lập những giá trị hóa, để biểu trưng cho sức mạnh của duy ngã đại thể thành tựu chính vị, thì cũng từ ngôi lời của Thống Hóa từ duy ngã đại thể mà ra.
Bản thể của Thống Hóa đã có mặt trong duy ngã đại thể, nếu đứng trên trung tâm đại thể là tính duy nhất của giá trị tổng thể hóa. Như vậy, duy ngã đại thể là tính duy nhất, là độc tôn..
Độc tôn là vì tính thể hợp chiếu, tâm vật hội tụ và tính thể dung thông đã thống nhất trong hệ thống Thống Hóa và có ngôi lời trong vô lượng nghĩa ấy, nên mang tính độc tôn.
Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là kinh tổng chủ của giá trị hóa muôn loại, nhưng lấy duy ngã đại thể làm biểu trưng, đại diện cho hệ thống Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh.
Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là cái nghĩa, cái lý khách quan; là cái chứng từ công chứng khách quan; là tính hiệu triệu khách quan; là tính tổng hợp khách quan; là tính tròn đủ khách quan; là tính thực tướng hóa các hình tướng khách quan. Đó là giá trị chân chính nhất của kinh điển. Đối với đức Như Lai đã nhìn thấu suốt 4 chiều nên mới phát ra một lời tuyên ngôn là: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Tức là trên trời dưới đất duy ngã là quí nhất.
Như vậy, Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh là có chân tính thực tướng, là quí nhất, mà chư Phật 3 đời đã tôn vinh là kinh Trung Tâm vũ trụ. Sự tôn vinh ấy sẽ không bao giờ chấm dứt, vì duy ngã đại thể sẽ không bao giờ chấm dứt và Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh cũng không bao giờ chấm dứt, nên sự độc tôn cũng được mãi mãi và không bao giờ chấm dứt.
Vì sao được tôn vinh như vậy? Vì chư Phật ra đời mang tính khách quan từ Trung Tâm Duy Ngã Vạn Pháp Kinh và thành lập được quả vị Như Lai là nhờ ở kinh này mà ra. Nên Ngài đã chịu ơn ở kinh này bèn tôn vinh nó là duy nhất.

NHÂN SINH QUAN MINH TRIẾT DUY NGÃ
LÀ BẢN CHẤT CỦA VẠN PHÁP KINH
Nhân sinh quan minh triết Duy ngã là bản chất của Vạn pháp kinh. Vì sao? Vì vạn pháp kinh đã có gốc của nó là vạn năng. Khi vạn pháp kinh và vạn năng thống nhất thì có tiểu ngã và đại ngã. Nếu xác định về bản chất thì không thể là bản chất của Duy tâm, bản chất của Duy vật hay bản chất của Duy linh. Vì những bản chất ấy nó không thuộc về tính tổng hợp và thống nhất của tính độc tôn. Có nghĩa là một khi con người đã phân hóa về các tôn chỉ khác biệt trong tính minh triết của Duy ngã, thì đó là sự bẻ gãy của giá trị mặt bằng đối với hệ thống. Chúng ta phải định chiếu và qui chiếu về tính thống nhất đó thì chúng ta mới có cái trình của giá trị sự nghiệp Công Luật vũ trụ quan một cách triệt để đối với sự nghiệp Duy ngã và sự nghiệp Duy ngã có con đường đi triệt để đối với sự nghiệp vũ trụ quan. Như vậy nhân sinh quan và vũ trụ quan hoàn toàn được khép kín trong bản chất duy nhất đó.
Nếu ta nói nhân sinh quan Duy tâm, Duy vật, Duy linh hoặc nhân sinh quan khoa học, thì những nhân sinh quan đó bị bẻ gãy tính minh triết của giá trị tổng hợp và thống nhất của tịch chiếu, thì bản chất ấy nó không có minh triết mà trở thành triết thuyết.
Như vậy đối với Duy ngã vạn pháp kinh là luôn luôn có tính thống nhất đối với Trung tâm vạn năng kinh. Thì đây là đề tài nói về giá trị định chiếu, qui chiếu và xác định giá trị tính chất, bản chất Duy ngã là độc tôn. Nếu ta nói Duy tâm độc tôn thì sẽ bị những ý thức, tư tưởng của Duy linh chống lại. Hay tri thức khoa học thì cũng không xác định được tính thống nhất đối với sự nghiệp vũ trụ, thì cũng bị Duy linh hoặc Duy tâm chống lại. Như vậy minh triết đã bị gãy chỗ này. Nên đức Như Lai nói: Minh triết ra đời là khi nào loài người thống nhất “Trên trời dưới đất Duy ngã là quí nhất” thì mới có minh triết. Thế thì nhân sinh quan minh triết Duy ngã là bản chất của vạn pháp kinh. Vì sao? Vì vạn pháp kinh có gốc là vạn năng. Nếu vạn năng và vạn pháp kinh thống nhất thì hình thành ra tiểu ngã và đại ngã. Như vậy tất cả những lời dẫn về tính minh triết thì coi như đã được giải mã một cơ cấu hệ thống và trở thành những toán học kỳ diệu nhất của vũ trụ quan và nhân sinh quan. Và tất cả tổng tinh hoa đã được giải phẩu thì cũng không có một năng lực nào mà vượt trội hơn siêu sắc năng và sắc năng của Trung tâm vạn năng. Vì thế mà ta nhân danh ở 3 kinh trục đã hình thành ra giá trị hệ thống Duy ngã. Về nhân bản biện chứng pháp Duy ngã thì chúng ta có quyền nói: Nhân sinh quan Duy ngã là minh triết thống nhất, là minh triết của nền tảng cơ bản mà không thể thay đổi nó. Vì nếu thay đổi hệ thống nhân sinh quan Duy ngã thì nó sẽ bị phân hóa hệ thống thống nhất của hệ thống mặt bằng, thì nó sẽ đẻ ra Duy tâm, Duy vật, Duy linh và nhiều thứ Duy mà không thuộc về chính thống hóa, hoàn toàn kéo con người đi vào chỗ lệch rất dữ dội và khiến cho mọi sự thống khổ có thể tràn ngập khắp cả hành tinh.
Như vậy, nhân sinh quan minh triết Duy ngã là bản chất của vạn pháp kinh. Vì sao? Vì vạn pháp kinh có gốc vạn năng kinh. Có 2 vấn đề để chúng ta xác định nó. Thứ nhất là hoàn toàn chúng ta đứng trên tinh thần khách quan để nhìn nhận vũ trụ một cách triệt để. Thứ hai là chúng ta thấy vạn pháp kinh là sự thống nhất của trung tâm vạn năng kinh. Về vạn pháp thì người ta có thể tính từ cực vi đến cực đại, người ta tính các đơn vị hóa học từ nhỏ nhất đến lớn nhất.
Phần nghị luận:
Ngài bảo Ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, nhân sinh quan minh triết Duy ngã là bản chất của vạn pháp kinh. Vì tự thân của nhân sinh quan nó đã có minh triết rồi, đó là tính nguyên lý mà từ ngàn xưa Thống hóa đã cho, đó thuộc về tự tính. Nhưng nó không thừa nhận. Tuy nhiên sự khao khát của Duy ngã là luôn luôn tìm ra một ẩn số, về một đáp số cuối cùng để giải quyết vấn đề nhân sinh. Từ đó con người mới đẻ ra nhiều học thuyết khác nhau. Là Duy tâm, Duy linh, Duy thần để tìm ra mã số về nhân sinh quan. Và khi đúc kết lại thì cuối cùng tự thân của Duy ngã đã có nhân sinh quan hoàn chỉnh và tròn đủ. Nên đến ngày hôm nay kho tàng Cửu Kinh Minh Triết mới ra đời và con người mới tự soi chiếu lại chính bản thân mình, thì hoàn toàn phải là Duy ngã chứ không thể Duy nào khác mà giải quyết triệt để được vấn đề nhân sinh quan. Và tính Duy ngã vạn pháp ấy nó luôn có tính định chiếu và qui chiếu của tâm và vật một cách rất vững chắc. Như vậy thì giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan không thể tách rời. Thì nhân sinh quan là hiện thân của vũ trụ quan. Nếu ta bẻ gãy nhân sinh quan ra nhiều thứ Duy khác nhau thì tất nhiên ta bẻ gãy đi cái thực tế của vũ trụ, thì không có tính minh chiếu. Như vậy nhân sinh quan minh triết Duy ngã là một nền tảng vững chắc nhất, nên đấng Từ phụ Thích Ca đã tuyên ngôn là “Thiên thượng thiên hạ Duy ngã độc tôn”. Như vậy chúng ta muốn trở về với Đại ngã thì phải đi bằng con đường Duy ngã vạn pháp.
Ngài bảo Ông Chơn Nhật Đàn Sơn trình bày.
Ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Thưa Cha, đứng trên mặt bằng của nhân sinh quan, thì minh triết Duy ngã là bản chất của vạn pháp kinh. Như vậy chúng con xác định Duy ngã là tác phẩm vĩ đại nhất của vũ trụ quan. Vì hệ thống Duy ngã là tổng thể tinh hoa của vạn pháp và tất cả vạn pháp đều qui chiếu, định chiếu tại Duy ngã. Như vậy minh triết cũng từ Duy ngã mà ra. Minh triết đã làm sáng tỏ Duy ngã là một hệ thống tổng tinh hoa nên đã hóa được các công trình khoa học, kiến trúc mang tính đa năng. Như vậy tính đa năng này từ tính vạn năng của Thống hóa đại ngã mà ra. Thế thì hệ thống qui chiếu, định chiếu của Duy ngã đã tròn đủ rồi, thì chúng ta không có quyền chia cắt nó. Tuy nhiên vì do chu trình vận luật đã rẽ chia các hệ thức của Duy tâm, Duy linh, Duy thần, đã làm phân hóa cái tổng thể của Duy ngã. Và từ đó sự đau khổ dãy đầy trên hành tinh này. Như vậy hệ thống Duy ngã là tác phẩm của Đại ngã. Thế nên chúng ta chỉ có một con đường độc nhất là trở về với Đại ngã bằng sự công luyện, tu chính của đôi chân Duy ngã mà thôi.
Ngài dạy: Lời phát biểu xác định về hệ qui chiếu, định chiếu minh triết Duy ngã của ông Chơn Quốc Chính Thống và Chơn Nhật Đàn Sơn. Nếu nhân loại thấy được như vậy là đỉnh cao giác ngộ, nếu nhân loại thấy như vậy thì đức Từ phụ chúng ta Ngài khen táng cho bản chất của tính Duy ngã. Và Duy ngã đã được đứng trên địa vị độc tôn của vạn pháp kinh. Vì sao? Vì Duy ngã đã thống nhất được tất cả vạn pháp và thống nhất được trung tâm vạn năng.
Như vậy về tính nguyên tắc thì hệ qui chiếu và định chiếu này chúng ta không bao giờ thay đổi nó. Nếu thay đổi thì nó sẽ sụp vào các sự phân hóa của các tôn chỉ không có chính thống như Duy vật, Duy tâm và Duy linh mà không giải mã về hệ thống vạn pháp có tính minh triết. Và nếu thực hiện khoa học mà không trở về với chân tính ánh sáng vô biên và chứng tính ánh sáng vô cực bất diệt để thấy mình đời đời trong đó, thì đức Phật cho rằng cũng không có pháp chính thống. Vì vậy tất cả những tôn chỉ đi sai lệch tính minh triết của Duy ngã vạn pháp kinh, là đồng nghĩa với sự biến đổi giá trị thống nhất của Duy ngã vạn pháp kinh và mất định hướng trung tâm.
Ngài hỏi ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Một khi mà mất định hướng của trung tâm rồi, thì sự thống nhất của Duy ngã và Đại ngã, hoặc sự thống nhất giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan có còn thống nhất nữa không?
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, khi mà Duy ngã mất định hướng của trung tâm thì sẽ mất đi sự thống nhất về tính đặc thù giữa Duy ngã và trung tâm. Bởi vì Đại ngã đã hóa sinh ra vạn loại, thì tiểu ngã nhân bản đại thể là đại diện cấp cao nhất của mọi hành tinh, đã có hệ thống qui chiếu từ trung tâm nên có tính định chiếu thống nhất con đường về trung tâm, đối với tiểu ngã trở về với đại ngã là đỉnh cao nhất của sự giác ngộ.
Như vậy Duy ngã vạn pháp kinh đã đại diện tính toàn cực và vô cùng đối với hệ thống tam thiên. Thì Duy ngã đại thể là biểu hiện cho tính đa năng và tính thống nhất của trung tâm vạn năng. Thì Duy ngã đại thể đã hoàn chiếu thống nhất đối với Duy ngã vạn pháp kinh và ánh sáng quang minh của trung tâm vạn năng.
Ngày dạy: Chúng ta đã xác định nhân sinh quan minh triết Duy ngã là bản chất độc nhất, duy nhất của Vạn pháp kinh. Như vậy chúng ta đã có một lời giải thống nhất: Duy ngã là mặt bằng của minh triết và xác định giá trị minh triết đã có trong hệ thống Duy ngã Vạn pháp kinh, thì đây là hệ qui chiếu không bao giờ thay đổi. Chúng ta thấy minh triết có trong hệ thống Cửu kinh và có trong mặt bằng nhân sinh quan Duy ngã. Nhưng khi chúng ta biến đổi tính thống nhất của Duy ngã thì sẽ bị gãy đổ minh triết.
Ngài bảo Ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, để làm sáng tỏ về nhân sinh quan minh triết Duy ngã là nền tảng vững chắc nhất của Duy ngã vạn pháp kinh. Vì Duy ngã Vạn pháp kinh là biện chứng cho tính vạn năng. Thì ở đây chúng con đã xác định nhân sinh quan Duy ngã thì mới có minh triết, còn nếu nói nhân sinh quan Duy tâm, hoặc Duy vật và Duy linh thì hoàn toàn không có minh triết. Vì sao? Vì Duy tâm, Duy linh còn trong mơ hồ, trừu tượng chưa làm sáng tỏ về hệ thống thống nhất của Trung tâm vạn năng. Còn Duy vật thì mất chân tính.
Ngài dạy: Đúng rồi! Vì Duy vật hoàn toàn bị sụp đổ ở đàng sau mà không thể giải quyết được sự vô cùng của Trung tâm vạn năng. Con người nói tự nhiên vì không có minh triết để làm sáng tỏ về cơ cấu hệ thống của Thống hóa vạn năng. Có 2 vấn đề được đặt ra là siêu nguyên nhân và nguyên nhân. Siêu nguyên nhân là chúa tể của nguyên nhân vì nó không dựa vào đâu cả, là chỗ tối siêu vượt trên mọi nguyên nhân. Vì vậy từ siêu nguyên nhân mới hóa nguyên nhân.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, như vậy chúng con đã xác định được tính độc tôn của Duy ngã bằng minh triết. Vì minh triết đã làm sáng tỏ tính tròn đủ của tổng tinh hoa siêu sắc năng hóa sắc năng mà Duy ngã là đại diện, cũng là đặc trưng cho tính tròn đủ đó. Như vậy con người phải đi trên hệ qui chiếu minh triết Duy ngã ấy thì mới trở về với Đại ngã được. Vì giữa Đại ngã và tiểu ngã luôn luôn thống nhất và dung thông ở phần tính chất. Nên chỉ có con đường minh triết Duy ngã là con đường trung tụ tổng tinh hoa của sắc và siêu sắc, là con đường duy nhất trở về với Đại ngã mà không có con đường nào khác hơn. Vì nếu đi khác Duy ngã thì sẽ bị phân hóa tinh hoa và lạc lối không thể trở về nguồn gốc vạn năng được.
Ngài dạy: Con đường Duy tâm, Duy vật, Duy linh đều là phân hóa. Vì khi gặp nhau thì chỉ có kình chống với nhau không có tính minh triết. Còn con đường Duy ngã là có định chiếu, qui chiếu của sự tổng hợp và tròn đủ, là không phủ nhận về tâm vật gì cả, mà làm cho tâm vật hội tụ tạo thành sức mạnh cường độ vĩ đại nhất để quyết định tất cả mọi thứ.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói tiếp: Thưa Cha, chúng con thấy rằng hệ thống Cửu kinh minh triết sẽ làm sáng tỏ cho nhân loại về giá trị thực tướng của Duy ngã độc tôn mang tính khách quan hoàn toàn đối với vũ trụ quan và nhân sinh quan. Có nghĩa là rồi đây nhân loại sẽ thống nhất một con đường minh triết Duy ngã. Và tính độc tôn của Duy ngã sẽ trở thành hiện thực hóa trong đời sống nhân sinh. Vì con đường Duy ngã ấy sẽ làm ổn định trong đời sống cả tâm và vật, và đưa nhân loại trở về nguồn gốc của vạn năng.
Ngài dạy: Duy tâm, Duy vật, Duy linh tất cả đều từ nhân loại nói ra. Nhưng những thứ nói ra ấy đều bị phân hóa. Vậy, khi ta gôm về Duy ngã để hình thành tổng tinh hoa thì tất cả những thứ kia nó trở thành cái bóng, còn Duy ngã hợp chiếu ánh sáng quang minh thì trở thành thực tướng. Nên đức Từ phụ Thích Ca nói rằng: Hóa Duy ngã là mặt bằng của Trung tâm vạn năng, thì Duy ngã phải có trách nhiệm hóa chân ngã, mà không hóa một thứ gì khác. Vì nếu hóa thứ khác thì hoàn toàn mất bản địa của giá trị tổng hợp. Hoan hô đức Từ Phụ. Chúng ta nếu có thể chiêm ngưỡng và lễ bái Ngài khắp cả thiên hà này cũng không đủ. Vì ơn phúc vô cùng của Ngài đã đến với thế gian rất nhiều lần và Ngài đã đi khắp cả tam thiên đại thiên để làm những công việc về hệ thống Duy ngã Vạn pháp kinh và thực hiện những công trình vạn năng kinh.

HẠT TÂM LÝ TÍNH TÍNH ÁNH SÁNG BẤT DIỆT
Ánh sáng tuyệt đối tổng hàm hoa đã hóa bản hạt và hạt ấy không bao giờ tan biến. Chính vì không tan biến nên nó thuộc về giá trị siêu thể hóa trong đời sống ánh sáng của các từng và các hệ thống thuộc về lập trình từ cực vi đến cực đại. Hoặc là từ thấp nhất đi đến cao nhất. Nên đã chia ra 6 đường, thì 6 đường này ánh sáng không thống nhất. Vì khi thế giới cao hơn thì ánh sáng lớn hơn, thế giới thấp hơn thì ánh sáng nhỏ hơn, và quy trình chuyển hóa của hạt tâm lý tính cũng theo đó mà có dung tích và trọng lực của nó.
Như ta thấy rằng ánh sáng của người thiện nghiệp khác với ánh sáng của người bất thiện nghiệp. Và các hệ thống ánh sáng là không đồng đều với nhau. Một khi chưa đạt được đích của tối thượng hạt, hoặc pháp thân hạt, thì còn nằm trong 6 đường và ánh sáng có thể rơi vào tầng thấp nhỏ nhoi như đôm đốm chẳng hạn. Nên khi chúng ta được hạt tâm nhân bản thì quá ư là hạnh phúc, vì hạt tâm nhân bản có thể đạt được đến đỉnh vinh quang và có thể giải thoát hoàn toàn.
Về ý nghĩa của con người mà Như Lai muốn nói, là sự tròn đủ của một hạt tâm có nhân tính hoàn hảo. Vì trong đại thể con người là luôn có hai mặt, thiện và ác, tốt và xấu hoặc lành và dữ. Nhưng để hoàn chỉnh và thuần khiết một con người thì điều đó không phải là dễ. Nên Như Lai mới nói làm được con người rất khó, ví như con rùa ở ngoài biển hàng ngàn năm mà gặp được một cái cây để gác đầu lên nghỉ vậy. Vì đại đa số mang thân con người nhưng không có nhân tính mà lại bị động vật hóa rất lớn. Ví dụ như sự bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, bất trung thì con người đó Như Lai chưa được chọn. Nên ta thấy mang hình thể con người thì rất nhiều mà đúng nghĩa hạt tâm con người thì không phải là nhiều. Vì những con người ấy họ chỉ biết cho sự sống của chính họ là lớn hơn tất cả mọi sự sống xung quanh, nên họ sẵn sàng giết hại các loài vật và có thể tiêu diệt những mạng sinh thái lớn.
Như vậy bản chất đó không thuộc về hạt tâm lý tính tính của ánh sáng nhân bản. Vì nguyên tắc của con người là phải có lương tri, lương năng và có lòng nhân ái để tiến lên bác ái, hoặc có lòng từ để tiến lên đại từ. Thế thì con người mà Như Lai chọn cho tính ánh sáng để đại diện của đấng Thống hóa, hay tính ánh sáng để đại diện cho trung tâm vạn năng, thì tính đại diện đó không có nhiều. Mà nó thừa hưởng cái kho tàng của vũ trụ đã hình thành những giá trị hạt hóa trong đời sống ấy, nhưng nó không bao giờ biết quý trọng tới bản chất tổng thể và ngưỡng mộ giá trị Thống hóa một cách tuyệt đối. Mà nó chỉ biết có đời sống là nó sống mà thôi. Và có thể là nó tạo những đời sống trái ngược đối với hạt tâm lý tính tính ánh sáng của hệ thống Thống hóa.
Tại sao Ta nói như vậy? Vì trong thế giới quan ta thấy rằng bị chối bỏ rất nhiều. Như đối với người duy vật có thể là 15% chối bỏ hệ thống Thống hóa, cũng đồng nghĩa chối bỏ Thượng đế và hệ thống tâm linh siêu thể. Lại còn có những loại người làm khoa học cực đoan, hoặc là vô minh tối tăm, đã vô tình chối bỏ một cách thầm lặng mà không thấy Thống hóa vũ trụ quan đã hóa hạt tâm lý tính cho mình. Tức là họ không cần tìm hiểu về nguồn gốc, nếu có chăng là bằng con người của mê tín dị đoan. Thì họ lại tiếp tục bị che khuất hạt tâm lý tính tính ánh sáng và tỉ lệ ấy rất lớn trong đời sống của thế giới duy ngã. Thế thì phúc cho ai có những căn trí của sức mạnh ánh sáng để nhìn nhận hệ thống Thống hóa là hệ thống chủ thể của giá trị hóa hạt tâm lý tính.
Ta đặt ra nếu không có hạt tâm lý tính thì dễ gì lập thân ngũ ấm và nếu hạt tâm lý tính bị tan biến thì dễ gì có thân trung ấm. Như vậy hạt tâm lý tính nó trọn đủ cả hai mặt về siêu thể trong thân trung ấm và hữu thể trong thân ngũ ấm. Và gắn kết với âm dương siêu sắc năng hóa sắc năng và hạt tâm lý tính ấy không tan biến.
Như vậy chúng ta có quyền nói hạt tâm lý tính tính ánh sáng tuyệt đối của đấng Thống hóa từ trung tâm vạn năng âm dương siêu sắc năng đã hình thành cả một hệ thống tổng thể tinh hoa tròn đủ. Nên ta có thể nói tổng thể hóa thất đại hội hóa hình thành hóa hạt trên bản hạt của hóa đã cho chúng ta thấy được giá trị hạt tâm một cách biện chứng và siêu chứng.
Hạt tâm ở đây là trực diện với đời sống tri thức ánh sáng và não bộ thần kinh của nhân bản duy ngã đại thể, làm một trong hệ thống hạt được hiện rõ trong đời sống tri thức chúng ta. Nếu chúng ta mất hạt tâm lý tính ấy cũng đồng nghĩa với mất tất cả sự hiểu biết. Dù chúng ta có hệ thống đầu não nguyên vẹn đi nữa mà mất hạt tâm lý tính thì đầu não ấy trở thành không có chủ thể sử dụng. Hoặc ngược lại, có chủ thể nhưng nếu đầu não bị hư nát và biến đổi các cơ cấu hệ thống thiết kế thì cũng bất tương lực. Vì hệ thống Thống hóa đã thiết lập luôn luôn là hình thành một cặp bộ của hệ thống não bộ thần kinh và hạt tâm lý tính để thống nhất giá trị hóa và thành lập giá trị hóa một cách tổng thể mà không có biên lệch giữa ý thức và vật chất.
Như vậy hạt tâm lý tính luôn luôn đóng vai trò của ý thức, vật chất và thống nhất được ý thức vật chất, kể cả não bộ thần kinh và cơ quan ngũ tạng. Hạt tâm lý tính là vai trò chính của sự tiến hóa từ cấp thấp nhất đi đến cao nhất.
Như trong đời sống của khoa học ta thấy tất cả từ phức tạp đến đơn giản được hóa từ bản hạt mà ra. Kể cả hạt tâm lý tính tính ánh sáng đối với hạt tâm nguyên tử và hệ thống âm dương vạn tỏa của nguyên tử cũng từ bản hạt mà ra. Thì chúng ta không thể phủ nhận về bản hạt ấy vì nó là mối chốt, là nguyên lý của sự nghiệp hóa, nó là bản chất mà không tan biến của sự nghiệp hóa nên nó mới hóa trường lưu vĩnh cửu trong đời sống hóa mà không bao giờ chấm dứt.
Như vậy, hạt tâm lý tính là không chấm dứt trong sự nghiệp hóa ở trong hai trạng thái, một là hóa thượng được giải thoát tự tại vô ngại, hai là hóa hạ bị sa đọa trong đời sống của Thống hóa chịu những dòng nghiệp và trầm luân trong biển khổ mà không bao giờ mất bản hạt đó. Vậy bản hạt là đại diện cho thực tướng của vũ trụ quan, là đại diện cho ánh sáng trung tâm vũ trụ quan và đại diện cho tính toàn siêu, toàn năng, toàn hóa của vũ trụ quan. Và cũng đại diện cho tính đặc năng, đa năng, siêu năng của vũ trụ quan. Vốn dĩ bản hạt đã có những bản chất đó là nhờ hệ thống Thống hóa có siêu năng, đặc năng và đa năng, cùng tất cả những giá trị thuộc về vạn năng. Thì vạn năng là chủ thể của các năng lực, năng lượng tổng hợp giá trị hóa đối với bản hạt và là sự tích tụ cao nhất của giá trị hóa.
Như vậy, bản hạt là bản chất của sự hiểu biết, trong đó có hệ thống của thấy, nghe, ngửi, xúc cùng tất cả mọi sự hiểu biết phân biệt giữa ý thức cùng vạn pháp. Thì bản hạt vẫn luôn đóng vai trò chủ của giá trị hóa. Nên bản hạt ở đây đồng nghĩa với A lại da chân tâm. Bản hạt cũng có nghĩa là quy tụ tất cả những tinh hoa và kết tinh tinh hoa giá trị bản hạt để cuối cùng bản hạt trở thành pháp thân kim cương, đồng nghĩa với Như Lai, đồng nghĩa với vô thượng chính đẳng, chính giác.
Như vậy, Như Lai hóa thân từ bản hạt mà ra. Vạn pháp, vạn loại hóa thân từ bản hạt mà ra. Nếu không có gốc từ nguồn gốc bản hạt thì đồng nghĩa với không có bản lai diện mục, cũng không thấy được Thống hóa chân tính ánh sáng vạn năng và cũng không trở về trong Thống thức chân quang và không có được một thứ gì cả. Nên bản hạt là giá trị tổng hợp của giá trị hóa đối với hệ thống Thống hóa.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ hãy xác định bản hạt của giá trị hóa và hạt tâm lý tính tính ánh sáng của Thống hóa vạn năng đã hình thành giá trị hóa một cách viên mãn trong đời sống nhân sinh quan và vũ trụ quan.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, bài học hôm nay rất quan trọng và cần thiết trong đời sống tiến hóa của toàn thể nhân loại. Vì bản hạt là giá trị cốt lõi sự sống bất biến và đời đời ở trong giá trị của hạt tâm. Từ trung tâm vạn năng đã hóa hạt cho đến tất cả những bản hạt của muôn loài.
Chúng con đã xác định tính dung thông của Thống hóa vạn năng đã thống nhất và hóa hạt thì hạt tâm lý tính là một hệ thống tròn đủ và thống nhất tổng hàm hoa siêu sắc và sắc của vũ trụ đã hội tụ trong hạt tâm lý tính.
Hạt tâm lý tính là tính của ánh sáng bất diệt được sáng mãi mãi trường lưu trong vũ trụ này và không bao giờ mất. Có thể nó nhỏ hoặc là lớn. Nhỏ là vì sự che chắn bởi lầm lẫn hoặc sự tiến hóa còn ở mức độ thấp của các loài từ cực v,i thì ánh sáng ấy nó nhỏ. Chúng con thấy hạt tâm lý tính rất bình đẳng, vì bình đẳng nên tất cả các loài từ nhỏ nhất cực vi cũng có thể tiến hóa theo thời gian của vô lượng kiếp mà có thể trở lên là cực đại của nhân tế phật tính và thành tựu được quả vị Như Lai Bồ Tát.
Chúng con xác định hạt tâm lý tính là hội tụ cả ý thức và vật chất, vì tri thức hiểu biết ấy không tách rời hệ thống vật thể để có. Vì khi có tâm là có vật, có tính là có thể, thì tâm vật ấy đã được hội tụ trong hạt tâm lý tính. Như vậy hạt tâm lý tính ấy đã dung thông thống nhất cùng vũ trụ. Vì nếu nó tách rời chân tính ánh sáng vạn năng chỉ cần 1 giây thôi là nó liền bị biến đổi và không tồn tại. Như vậy sự sống của nó đã gắn kết và được thừa hưởng ánh sáng của vạn năng. Thế thì vạn năng tồn tại bao nhiêu thì nó cũng tồn tại bấy nhiêu. Vạn năng là bất diệt mãi mãi thì nó cũng trở thành bất diệt mãi mãi. Như vậy nó bình đẳng và dung thông ở chỗ đó.
Hôm nay chúng con là nhân bản duy ngã đại thể thì đó là một điều hạnh phúc. Vì khi chúng con nhìn lại những chặng đường từ cực vi của các loài thấp sinh, hóa sinh, noãn sinh, thai sinh thì một tình thương trãi rộng vô cùng. Có nghĩa là chúng con biết quý trọng hạt tâm lý tính của mình, thì cũng phải biết quý trọng và yêu thương những hạt tâm lý tính của những từng thấp đó. Và chúng con cũng tự thấy rằng chúng con đã được tiến hóa từ những tầng thấp đó tiến hóa lên hôm nay. Thì đó là một chặng đường quá dài, quá xa mà chúng con đã đi được thì đó là một điều mừng vui vô cùng.
Rồi đây tất cả nhân loại sẽ giác ngộ về hạt tâm lý tính, tính ánh sáng tuyệt đối và cũng sẽ mừng vui vì thấy mình đã được sinh ra từ một ngôi Thống hóa. Rồi đây duy tâm, duy vật, duy linh sẽ không còn đất để sống nữa và nó sẽ lùi về quá khứ, của một thời kỳ quá độ đối với sự nghiệp tiến hóa mà nhân loại đã có Cửu kinh minh triết ra đời.
Duy tâm, duy vật, duy linh sẽ trở thành quê mùa vì sao? Vì nhân loại đã giác ngộ hạt tâm lý tính có tròn đủ tổng hàm hoa của tính và thể, tâm và vật. Thì cũng không còn một lý do gì để đối đãi giữa tâm và vật nữa. Mà thấy rằng vật chất và ý thức đã hội tụ trong hạt tâm lý tính của chúng ta, cũng như trung tâm siêu sắc năng và sắc năng, cũng như âm dương siêu sắc thể và sắc thể của tổng hàm hoa vũ trụ.
Như vậy vũ trụ có thứ gì thì hạt tâm lý tính chúng ta cũng có thứ đó, vì thế cho nên hạt tâm lý tính mới hóa được tất cả và hạt tâm lý tính đã đi đến thành tựu cao nhất là Như Lai. Và Như Lai là đồng nghĩa với trung tâm vạn năng. Như Lai đã trở về cùng trung tâm vạn năng và đã hoàn chiếu tất cả những giá trị thuộc về ánh sáng của trung tâm vạn năng. Có nghĩa là vũ trụ có thứ gì thì Như Lai Ngài biết tất cả những cái đó và có cái đó.
Như vậy sự nghiệp tu học của chúng con là phải quyết liệt và không khoan nhượng bất cứ một thứ gì có thể cản trở con đường tu học của chúng con trong hệ thống cửu kinh minh triết này.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày về hạt tâm lý tính.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, đối với bản hạt là nguyên nhân chính hình thành được ngân hà, thiên hà và hình thành ra tất cả các dạng vật lý từ phức tạp và đơn giản. Vậy đối với giá trị bản hạt là không có xấu và không có tốt, mà giá trị hạt là một tổng tinh hoa của Thống hóa đã cho trong vũ trụ.
Như vậy, kim cương và than chì cũng được cấu tạo bởi những nguyên tử cacbon. Từ nguyên tử cacbon nếu ở dạng cấu hình về 3D thì được tạo ra kim cương, nhưng nếu cấu hình ở dạng mặt phẳng thì nó ra than chì. Như vậy do tính cơ cấu của tất cả những nguyên tử bản hạt mà sinh ra những vật lý hình tượng mang tính chất khác nhau. Còn đối với Thống hóa là không có xấu hoặc tốt.
Bản hạt là bản gốc của tất cả vạn loại và duy ngã đại thể là đại diện cho bản hạt cao quý nhất trong thế giới nhị nguyên. Như vậy bản hạt là luôn luôn có đầy đủ tinh hoa để trở về với Thống hóa. Đối với vật lý thì người ta cũng biện chứng được rằng: Những gì phức tạp nhất và đa dạng nhất trong vũ trụ thì cũng hình thành bởi các hạt mà ra.
Như vậy Thống hóa rất bình đẳng đã cho tất cả các loài đều có bản hạt và gốc từ bản hạt này mà kết tinh và thành đạt chân tâm kim cương để trở về với trung tâm vạn năng.
Ngài dạy: Nếu duy ngã đại thể có tri thức đặc năng sẽ cảm thông mọi đặc năng của các loài. Nếu duy ngã đại thể có tính đa năng thì sẽ quyết đoán về tính đa năng cho phù hợp với quy trình chuyển động của tuần hoàn thuận và thể nhập tính đa năng trong quy luật tiến hóa cao nhất để đạt được siêu năng. Nếu duy ngã đại thể có siêu năng thì thể dụng của tính siêu năng không trái nghịch với quy trình hóa để thuần tập giá trị hóa kết tinh tinh hoa kim cương. Nhất định sẽ không có mâu thuẩn với các loài và biết yêu thương các loài trong hệ thống Thống hóa, cho tất cả những bản hạt thấp nhất trong đời sống cực vi đến cực đại đều có tính bình đẳng hóa trong giá trị trường cửu mênh mông, để đi đến một con đường rộng mở mà không bao giờ khép lại.
Những sự trái ngược với tính đặc năng, siêu năng và đa năng là mất trọng lực của đặc năng, siêu năng và đa năng. Làm thái quá hoặc bất cập trong tính đặc năng, siêu năng và đa năng sẽ dẫy đầy mọi sự khổ đau mà không cần các độc tố của Thống hóa đổ xuống. Mà lại do chính chúng ta là những người gây hại về hệ thống Thống hóa. Còn bộ máy Thống hóa là hoàn toàn không trái ngược với tri thức ánh sáng đối với siêu năng.
Nếu ai đạt được siêu năng thì sẽ cảm thông và gần gũi với vạn năng và vạn năng hằng hữu trong tri thức ánh sáng của chúng ta và không có biên giới.
Người có siêu năng trong hệ thống tri thức ánh sáng không biên giới là sẽ về với trung tâm vạn năng và sẽ thống nhất giá trị hóa đối với đời sống vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Hạt tâm lý tính sẽ không trở ngại về hiện thể và siêu thể, giữa ngũ ấm và trung ấm thống nhất trong âm dương siêu sắc năng hóa sắc năng và thống nhất âm dương siêu thể và thể. Để chúng ta không tan biến hạt tâm lý tính trong ngũ ấm và trung ấm. Để chuyển động hình thành và tiếp tục lập thể trong hệ thống tam thiên đại thiên thế giới, có thể sinh vào các ngôi sao kinh điển hoặc có thể đọa vào 6 đường sinh tử luân hồi.
Như vậy chúng ta hãy thấy rõ về tính chất của cửu kinh là có hệ thống, có định luật, có quy luật và có công lý nhất định của định luật ấy thì chúng ta nên xa tránh tất cả những pháp bất tương ưng và thực tập các pháp tương ưng để đi theo tuần hoàn thuận, nuôi dưỡng hạt tâm lý tính và thành đạt chính vị.

Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển xin hỏi: Thưa Cha, khi chúng con nói về cửu kinh thì có hàng lớp thường trí lại hỏi rằng: Nếu Thống hóa hóa hạt và hóa thực vật thì tại sao không hóa tất cả phải là tinh hoa thiện, mà lại có những loài cây mang nhiều độc tố. Hoặc hóa động vật thì tại sao lại có những loài hung dữ và nguy hiểm. Và hóa con người thì lại có người ác và người thiện. Tại sao Thống hóa không hóa toàn bộ là tinh hoa. Mong Cha thông giải để tất cả chúng con được hiểu một cách trọn vẹn và rốt ráo.
Ngài dạy: Đứng trên Thống hóa thì bản chất là vạn năng, đa năng, siêu năng và đặc năng. Nếu mà hóa thuần khiết thì sẽ không bao giờ có cấp độ tiến hóa. Thì giá trị kết tinh tinh hoa để trở về giá trị sản phẩm cuối cùng không bị biến đổi thì mất giá trị và hoàn toàn không có giá trị.
Thứ mà người ta cho là độc nhất, thì đối với hệ thống Thống hóa vẫn là đặc năng, vẫn là những giá trị thể dụng tương xứng với giá trị hóa. Một khi con người kết tinh về chỗ tột cùng là phải hội nhập tổng thể tinh hoa, trong đó có những giá trị hóa mang tính phức tạp mà cần phải được ly tâm và kết tinh. Còn nếu hóa đơn giản quá thì không thuộc về vạn năng. Thí dụ nếu ta muốn có một quần thể sen thì dĩ nhiên là phải tạo ra một cái hầm bùn. Như bùn là đơn vị xấu nhưng đối với sen là đơn vị tốt. Nhưng nếu sen mà không có bùn thì không có sen. Thế thì sự thành lập đây là đối xứng giá trị hóa, chứ không phải là vô nghĩa. Đó là bản chất của đa năng.
Như vậy đa năng đây nếu mà diệu dụng trong quy trình thuận thì ngay cả độc tố cũng có thể dị độc được. Như có những loại độc tố mà con người đã đem sử dụng làm thuốc chữa bệnh được. Ví dụ như con rắn nó có độc nhưng cái độc của nó là sử dụng cho sự hóa trị. Nếu chúng ta sử dụng cái độc hóa trị đó có mục đích thì độc đó trở thành lành tính.
Vậy trong thực vật, động vật có những cây độc và con vật độc, thì các hệ thống độc là để bảo tồn và bảo lưu giá trị sống của chính nó, vì có những năng lực mà chính nó phải cần có độc để bảo tồn. Như vậy sức mạnh của các hệ thống độc cũng là một quy trình bảo tồn của giá trị hóa. Và nếu ta biết vận dụng những giá trị độc để thực hiện những công trình hóa độc thì độc ấy vẫn là phương tiện hóa.
Nếu trên đời này mà tất cả đều là không độc hết thì mức độ suy yếu và có thể trở thành vô nghĩa với tính đa năng và không tồn tại trên giá trị hóa của các loài. Như vậy, bảo lưu những giá trị đặc năng, đa năng là bảo tồn giá trị hóa. Nên tính không giống nhau đó là tính của đa năng được bảo lưu trong giá trị sinh tồn.
Cũng như Cha đã nói, Thống hóa sinh cỏ để bảo vệ hành tinh ở mức độ không xói mòn. Thì cũng phải sinh con ăn cỏ, mà sinh con ăn cỏ thì phải sinh con ăn thịt. Đó là một sự bảo lưu và điều hòa trong hệ thống sinh thái. Thì đó là tính đa năng của hệ thống Thống hóa.
Thống hóa mang tính đa năng vì nguồn gốc của Thống hóa là vạn năng, thì giải trình của tính đa năng và hình thành các hệ thống đơn vị khác biệt để bảo lưu giá trị đa năng và vạn năng đó. Còn nếu là đơn năng thì không trình bày giá trị của vạn năng và đồng thời bị sụp đổ giá trị vạn năng và bản chất của vạn năng không phải như thế.
Muốn có một hệ thống kết tinh để cuối cùng có những sản phẩm tốt nhất mà chỉ là một thể trạng, hoặc một tính chất, một đơn chất thì không thể thiết lập được giá trị tác phẩm tốt nhất đó. Như vậy giữa cái lưỡng cực của âm và dương cũng là chính ta. Nếu đã nói như vậy thì sự khác biệt của đất nước gió lửa cũng có thể là những giá trị đặc năng và tính công dụng của giá trị hóa đối với đất nước gió lửa. Thì các đơn vị hóa ấy dù là độc hay không độc đều là bảo lưu và tồn tại của giá trị hóa.
Để thể hiện tính vạn năng thì phải có những đơn vị hóa học của đặc năng, đa năng, siêu năng để trình bày tính vạn năng của vũ trụ. Còn nếu ở tầng nhị nguyên mà lại đơn điệu và không có tính đa năng của hệ thống chất, tính đa năng của hệ thống hóa học thì không trình bày được giá trị vạn năng của hệ thống Thống hóa.
Ta phải thấy sự tốt đẹp ở đây là ý thức tương tác và vận dụng về các lực ly tâm. Vì vậy nếu không có những điều trái ngược thì lực ly tâm sẽ không còn giá trị. Nên hệ thống Thống hóa có những pháp làm cho chúng ta giác ngộ trong lực ly tâm đó. Và một khi ta ứng dụng đúng thì không có gì là xấu và không có gì là sai cả.
Điều quan trọng ở đây là Thống hóa thành lập đa năng thì có siêu năng giải quyết. Ngài thành lập đặc năng thì có đa năng giải quyết. Tức là đem siêu năng đó để sắp xếp về tính đa năng theo cách đúng quy trình, thì tất cả mọi độc sẽ trở thành bình an. Và bản độc của chính nó là bảo lưu giá trị đời sống của chính nó, thì đối với Thống hóa không thể lấy đi những giá trị bảo lưu của chính nó thuộc về đặc năng.
Như vậy nếu Thống hóa thành lập các pháp là tốt đẹp hết thì sẽ không chuyển tải và thành lập tổng thể tinh hoa và đối xứng các pháp ly tâm trong hệ thống hóa để thành tựu chỗ tột cùng của nó. Cũng như muốn thành tựu được vàng thì không thể đơn thuần ở một chất mà phải cần có sự nung nấu của lửa, hoặc có những thứ ta cho là xấu không sử dụng được, nhưng đối với vàng thì lại rất cần thiết cho chính nó. Hoặc có những thứ con người không sử dụng được nhưng các loài khác thì lại cần thiết cho chính nó.
Ta đặc ra nếu hệ thống Thống hóa quá đơn điệu thì có nhân loại trên hành tinh này không? Nếu hệ thống Thống hóa quá đơn điệu thì hệ thống hóa cũng dừng lại ở nơi đó và sẽ không có chúng ta ở nơi đây. Thế nên mới biết Thống hóa là rất phức tạp, nhưng rất công luật, rất định luật và rất quy luật. Như vậy chỉ vì chúng ta làm sai với định luật, quy luật nên mới đòi hỏi những điều vô lý.
Nếu chúng ta làm đúng với công luật, định luật, quy luật là sẽ không đòi hỏi một điều gì vô lý đối với Thống hóa, mà bắt đầu từ lực ly tâm chuyển hóa và hình thành các độc tố trở thành vô độc và các đặc năng trở thành siêu năng, các đa năng trở thành tối thượng năng và thành tựu chỗ tột cùng của tổng thể tinh hoa.
Như vậy hệ thống Thống hóa là không thiếu bất cứ một chất gì, kể cả chất độc và cực độc nhất cũng phải có cho đời sống của hóa. Nếu không có những loại cực độc trong đời sống hóa. Thì có lẽ là thiếu tất cả những thứ đa năng và vạn năng của hệ thống Thống hóa.
Ta đặt ra, nếu Thống hóa chỉ tạo ra những điều tốt đẹp nhất thôi. Thì Ngài sẽ nắn ra con người bằng vàng luôn chứ không phải con người từ đất nước gió lửa, để rồi phải chịu sinh diệt như thế này. Như vậy giá trị đối xứng của sinh diệt là đối xứng với công luyện của tính siêu năng. Thế thì các độc tố và tội ác cũng là giá trị tri kiến đối xứng giá trị ly tâm của bản chất tinh hoa cuối cùng.
Như vậy, bùn là đối xứng giá trị tổng hợp đối với sen và sen là cần thiết phải có bùn mới có được hương liệu thơm nhất trong giá trị hóa. Ta thấy bùn là thứ hôi tanh, xấu xa nhưng bản chất nó vẫn có lợi ích cho sen.
Mục đính của kim tính hóa và tác phẩm cuối cùng của kim tính vẫn cần 2 trạng thái của cực âm và cực dương. Như vậy quá trình cực âm và cực dương đã thống nhất hóa thì mức độ ma sát và công luyện của vàng phải dùng những chất mà đối với chúng ta cho là cực độc. Nhưng bản chất đó lại là hình thành vàng.
Như vậy cực âm là một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống của giá trị hóa. Nếu chúng ta loại trừ giá trị cực âm trong đời sống của sự nghiệp hóa thì vạn vật sẽ không tồn tại trên giá trị hóa. Thế thì chúng ta có thể lấy cực âm để đại diện cho xấu ác, và nếu loại trừ cực âm ra khỏi đời sống của sự nghiệp hóa thì những tác phẩm nguy nga và lộng lẫy sẽ không bao giờ có mặt.
Ta lấy âm là đại diện cho mọi sự hóa mang tính dung chứa, ví dụ bùn là đại diện cho âm, ngó sen là đại diện cho dương. Vậy bùn và ngó sen gặp nhau cũng như âm và dương gặp nhau thì mới ra một hoa sen. Bây giờ nếu ta tách bùn và ngó sen ra cũng như âm và dương ra làm hai thì không bao giờ có được hoa sen. Chúng ta thấy con rắn là độc nhưng vì các độc ấy mà bảo lưu được đời sống của chính nó. Thì đối với Thống hóa vẫn cho một bảo lưu nhất định của giá trị hóa trong đời sống của tiến hóa và chính nó nhờ các độc đó mà nó tồn tại. Như vậy diệu ý của Thống hóa là không tính ác giữa nó và người, mà tính sự tồn tại của giá trị đặc năng của chính nó có để nó được sống thì diệu ý đó có tính đa năng và đặc năng. Như vậy Thống hóa hoàn toàn không đơn điệu và không phải hóa đơn chất mà hóa tổng hàm hoa.
Hóa tổng hàm hoa là luôn luôn có 2 trạng thái của âm và dương. Và tính của âm và dương luôn luôn có mặt trong đời sống hóa mà không thể tách rời ra. Như vậy giữa cái xấu, cái tốt đó là chỉ có mặt trên mặt bằng của sự nghiệp hóa, còn khi đạt đến tột cùng của sự nghiệp hóa thì xấu và tốt là hoàn toàn bị triệt tiêu. Thế thì cái xấu kia là mượn để hóa và hóa để có cái tốt nhất.


CÁC HỆ THỐNG LẬP THỂ CHE CHẮN HẠT TÂM LÝ TÍNH; HẠT TÂM LÝ TÍNH BẤT BIẾN THỂ, THỂ LẬP HỆ THỐNG THỐNG NHẤT
Đây là một bài học mang tính khoa học và hiệu triệu về sức mạnh của tập lũy và hình thành tổng giá trị hóa một cách tròn đủ mà không bị lệch.
Chúng ta thấy về phần bên dưới thì các hệ thống lập thể bị che chắn, nhưng phần trên thì hạt tâm lý tính bất biến thể thể lập hệ thống thống nhất. Thì đây là một điều đảo ngược trong giá trị hệ thống hóa để hình thành thượng tầng và hạ tầng trong giá trị lập thể hóa. Thường thì con người bị gãy đổ và không trở về hệ thống ấy để hình thành giá trị thực tướng của chính ta trong đời sống hệ thống hóa ấy.
Nếu chúng ta thấy được về tính biện chứng của các pháp lập thể làm che chắn hạt tâm lý tính và thấy được hạt tâm lý tính bất biến thể thể lập hệ thống thống nhất. Nếu thấy được như vậy thì vũ trụ trở thành một hệ thống thống nhất và hoàn toàn chân thật trong đời sống ấy. Mà đối với các hạt tâm đang chuyển động và hình thành trong đời sống ấy thì không thể khoan nhượng với sự nghiệp trở về đối với hệ thống thống hóa.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ: hãy bích dụ về tính biện chứng như thế nào là các hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính?
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, về tính biện chứng của các hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính. Con xin thí dụ: Thứ nhất, như hành tinh đối với mặt trời, vì hành tinh là hệ thống lập thể chuyển động quanh mặt trời mang tính giới hạn cũng có thể là làm che chắn đi hạt tâm lý tính là mặt trời. Thí dụ thứ hai: Như những án mây trên không gian bầu trời là hệ thống lập thể được hình thành từ tứ đại, có thể làm che chắn hạt tâm lý tính đó là ánh sáng mặt trời. Thí dụ thứ ba: Về hệ thống lập thể đối với thân ngũ ấm của chúng ta là có: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; Nếu chúng ta chưa trở về chân tâm thì sắc, thọ, tưởng, hành, thức là lập thể che chắn hạt tâm lý tính vì sự lầm lẫn của ý thức. Thí dụ thứ tư: Đối với đời sống nhân bản thì hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính thí dụ như: ngũ độn sử hoặc thập kiết sử; Trong đó có tham, sân, si, mạn, nghi; có thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến; Đó là mười yếu tố rất quan trọng nó làm che chắn hạt tâm lý tính của chúng ta.
Ngài vỗ tay và khen ngợi: Hay lắm, hay lắm!.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân: hãy nói về tính biện chứng các hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, con xin biện chứng về hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính. Thứ nhất, con thí dụ như trong cơ học về những phân tử đang hoạt động trong khí quyển, là lập thể làm che chắn đi hạt tâm lý tính đó là nguyên tử ánh sáng. Thí dụ thứ hai, khi các nền khoa học phát triển mang tính đa chiều, mang tính cực đoan thì chính các nền khoa học đó cũng đã làm che chắn đi phần ánh sáng thực tướng của hạt tâm lý tính. Thí dụ thứ ba, về đời sống nhân bản trong xã hội thì những ý thức tương tác của con người, chính những ý thức tương tác đối đãi này cũng làm che chắn hạt tâm lý tính.
Ngài vỗ tay và khen ngợi: Hay lắm, hay lắm!
Ngài bảo ông Chơn Luân Thương Bang: hãy nói thêm và chẻ nhỏ thêm về tính biện chứng các hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính.
Ông Chơn Luân Thương Bang: Thưa Cha, thí dụ như hệ thống lập thể của các loại quả như quả xoài thì hình thể nó là làm che chắn hạt tâm lý tính. Thứ hai, thí dụ như các loại cây hoặc cỏ rác đều làm che chắn mặt đất; thì ví như con người chúng ta các hoặc lậu của ý thức đã làm che chắn đi hạt tâm lý tính chân tính của chúng ta. Thứ ba, trong tất cả các loài từ trung tâm cực vi và trung tâm hóa cực đại, thì trong tất cả các phần lập thể đó cũng đã làm che chắn đi hạt tâm lý tính trong chân tính của tất cả các loài. Thí dụ như các nguyên tố hóa học đã hình thành về phần lập thể, nhưng nó luôn bị che chắn bởi những hạt cơ bản của nó. Thí dụ đối với hành tinh thì phần lập thể của hành tinh là tứ đại đất nước gió lửa, nhưng hệ thống lập thể tứ đại đã làm che chắn hạt tâm lý tính, đó là hồng cầu.
Ngài vỗ tay và khen ngợi: Hay lắm, hay lắm!
Ngài dạy: hôm nay, bài học đầu năm cũng là bài học xác định về giá trị tri thức ánh sáng của con cái, để chúng ta đi vào những bài học lớn hơn của hệ thống hóa. Thì đối với Chơn Ngọc Biện Hộ, Chơn Hoàng Quang Quân, Chơn Luân Thương Bang đã trả lời hoàn toàn chính xác.
Đột phá sự che chắn là nhằm thấy được giá trị thực tướng. Mà trong hệ thống che chắn ấy là tính nguyên tắc, tính định luật, tính cơ cấu, tính hệ thống thiết lập được rạch ròi trong hệ thống ấy. Khi chúng ta chưa thấu đáo được thì hoàn toàn chúng ta bị che chắn, nhưng nếu chúng ta bắn được ánh sáng vào trung tâm và hoàn chiếu được tính hạt tâm trung tâm thì không có thứ gì làm che chắn được giá trị hạt tâm ấy. Vì hạt tâm lý tính bất biến thể thể lập hệ thống thống nhất và hệ thống thống nhất không thể loại trừ hạt tâm để có hệ thống. Chính vì đó mà chúng ta thấy sự che chắn là không có thực tướng.
Nếu sự che chắn ấy là có thực tướng thì có lẽ muôn đời dù cho có đột phá, quay ngược 180 độ vào quỹ đạo thì Cha con chúng ta cũng không tìm về nguồn hạt tâm của trung tâm được. Thì giá trị trung tâm ấy cũng trở thành vô tưởng.
Chúng ta không phải là những con người vô tưởng trong sự nghiệp vũ trụ, mà là con người thực tưởng và đi đến siêu tưởng hóa trong sự nghiệp vũ trụ, để đặt nền móng cho giá trị Công Luật đại hóa đối với muôn sinh, muôn pháp, muôn loại, muôn hình, muôn thể. Mà không có một hình thể nào mà không có tính công dụng trong giá trị hệ thống Thống hóa.
Trong hệ thống duy nhất và tính hạt tâm duy nhất ấy, thì hôm nay các con đã đưa ra những bích dụ cụ thể để làm sáng tỏ cho hệ thống thống nhất ấy. Đối với Cha là thật sự rung động và xúc động trong chân lý ánh sáng này. Đối với sự nghiệp này và Công Luật vũ trụ sẽ mãi mãi không bao giờ ly thoát giá trị sự nghiệp ấy đối với chúng ta và muôn loài.

Về phần hai, là hạt tâm lý tính bất biến thể, thể lập hệ thống thống nhất.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Hãy đưa bích dụ như thế nào là hạt tâm lý tính bất biến thể, thể lập hệ thống thống nhất.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, thí dụ như: tất cả nhân bản đại thể đều có hạt tâm. Khi hạt tâm đã trở về với tổng thức a lại da thì có thể điều hành 6 căn và 6 căn đã trở thành 1 hệ thống thống nhất cùng a lại da. Thí dụ chân địa là chân tâm; khi chúng ta nhổ sạch các cỏ rác làm che chắn chân địa, tức nhổ sạch các hoặc nghiệp, lậu nghiệp và các ý thức nghiệp thì chân địa sẽ thể hiện tính tuyệt đối bất biến.
Ngài vỗ tay khen tán: Hay lắm, hay lắm!.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống: hãy cho vài bích dụ xác định tính chất giá trị hạt tâm lý tính bất biến thể, thể lập hệ thống hóa có tính thống nhất.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, khi nói đến đề kinh này thì trước hết con xin trình bày về tính thống nhất của vũ trụ. Bởi vì chúng ta đi vào vũ trụ bằng con đường Công Luật vũ trụ, chứ không phải bằng con đường biện chứng hóa để rồi chúng ta bị mờ mịt bởi cái đỉnh cuối cùng của nó; đó là cái đỉnh của thực tướng vô tướng. Như xưa nay các nhà khoa học không thể nào bắn thẳng vào thực tướng của vũ trụ, mà chỉ hình dung vũ trụ bằng hình thức này hoặc là hình thức khác; thì đó là then chốt để chúng ta xác định được vấn đề. Như vậy, chúng ta đi vào vũ trụ bằng con đường Công Luật, có nghĩa là bằng khoa học thực nghiệm và khoa học đại ngã.
Đối với hệ thống của Công Luật vũ trụ, chúng ta thấy trong hệ thống hóa của những định luật, quy luật rất vững chắc. Nếu có sự sai biến thì chính là ý thức lầm lẫn của con người. Như vậy, tính khách quan của vũ trụ hoàn toàn rất thống nhất, mặc dù có hệ thống lập thể, hoặc lập thể từ một hình thức nào thì tính khách quan nó cũng hoàn toàn thống nhất.
Khi hình lập của vũ trụ đã hoàn chỉnh một hệ thống thống nhất thì tất nhiên hạt tâm lý tính của nó hoàn toàn bất biến thể. Thí dụ như hệ thống lập thể của một quả xoài gồm có vỏ cơm và hạt. Đó là hình lập mà tất cả các vật thể không bao giờ sai biến bằng một hình thức chuyển động đó. Vậy thì, vỏ và cơm không thể tách rời hạt tâm và biến hóa trong quy trình thuận để đưa trở về với hạt tâm lý tính ấy. Ví như cái bông xoài khi mổ ra thì chúng ta không bao giờ thấy hạt, nhưng tính hạt tâm đã có trong đó rồi. Như vậy, vỏ và cơm nó chuyển động đến một lúc nào đó đủ quy trình thì nó hình thành hạt tâm. Đến khi vỏ và cơm không còn nữa nhưng tính chất vỏ và cơm đã tròn đủ trong hạt tâm đó. Vậy hạt tâm bất biến thể đã hình thành hệ thống thống nhất.
Ngài vỗ tay và khen ngợi rất nhiều lần: Hay lắm, hay lắm!.
Ngài dạy: Có nghĩa là chúng ta đã tìm ra giá trị hạt tâm ở nơi quả xoài. Đây là một bích dụ vững chắc nhất.
Này các con! nếu trái xoài ấy được chín mùi thì tất cả tinh hoa đã trở về hạt và hạt trở thành vững chắc trong giá trị hạt tâm duy nhất. Hạt tâm duy nhất đã có trong nó nên mới đem nó trồng lại được. Khi trồng lại không bao lâu thì nó sẽ có đầy đủ một cây xoài có hệ thống thống nhất của nó. Như vậy, ông Chơn Quốc Chính Thống đã trả bài chính xác theo như ý của Cha. Chúng ta hãy hoan nghênh với tri thức này. Sự hiểu biết này có thể đột phá được tất cả các mạng trong hệ thống hóa. Vậy chúng ta có thể đưa nền khoa học điện tử tin học, không gian học và tất cả mọi giá trị mạng trong hệ thống lập thể để chúng ta xác định tính chất giá trị hạt tâm lý tính đã có trong đó cho nên mới có thể hoạt động được.
Ông Chơn Quốc Chính Thống nói tiếp: Thưa Cha, khi chúng ta phân tích được vấn đề đó thì thấy rằng vũ trụ không bao giờ có thừa và không bao giờ có thiếu. Mà có thừa hoặc thiếu là do phân biến của ý thức đối đãi khi mà lên nhân bản đại thể. Nhân bản đại thể là tính tròn đủ của ý thức và vật thể trong con người chúng ta, cho nên chúng ta mới có một sự lầm lẫn cho rằng vũ trụ là thế này hoặc là thế khác; hay là có khổ đau và có sung sướng, có thiên đàng và có địa ngục. Thực ra quy trình hóa của vũ trụ là đưa chúng ta đi về nguồn trong một quy trình vững chắc và rất rõ ràng. Nghĩa là chủ ý của Thống hóa chỉ có một con đường duy nhất là đưa chúng ta về đỉnh cao của hạt tâm lý tính bất biến thể mà thôi.
Ngài dạy: Về bài học này, phần thứ nhất là các hệ thống lập thể che chắn hạt tâm lý tính. Đây là phần lập thể và đột phá trong hệ thống lập thể để trở về nắm bắt giá trị hạt tâm lý tính và hạt tâm lý tính bất biến thể mới hình thành hệ thống thống nhất.
Tất cả từ những đơn giản nhất đến phức tạp nhất đều được giải quyết bằng minh triết.
Đứng trên nền tảng minh triết để giải phóng tất cả mọi sai lầm do quá nhiều sự phân biệt của ý thức. Chính phân biệt đa chiều ấy mà làm che chắn hệ thống thống nhất và không trở về với chính ta.
Thống nhất là giá trị cao nhất và sức mạnh lớn nhất của vũ trụ, vì vũ trụ hoàn toàn có tính thống nhất.
Thống nhất vì hạt tâm lý tính bất biến thể, thể lập hệ thống thống nhất. Như vậy, trung tâm vạn năng là đại diện cho hạt tâm vô thượng, tức là tột đỉnh của hạt tâm vì không có hạt tâm nào sánh được với giá trị trung tâm vạn năng của hạt tâm.
Tại sao chúng ta xác định được hạt tâm lý tính là bất biến thể? Như ở phần một, chúng ta đã xác định về các hệ thống lập thể từ cực vi đến cực đại, sự hoàn hảo của cực vi và cực đại trong giá trị của các loài từ thực vật đến động vật và động vật cao cấp là duy ngã đại thể. Đương nhiên giá trị lập thể ấy đã hoàn chỉnh trong các loài và hình thành phân lập các lớp học trong các loài, năng động trong các loài và tính đặc năng về tính duy nhất của giá trị hóa và thống nhất trên giá trị lý tính của hạt tâm mà các loài ấy được hưởng thụ.
Vô cùng hạnh phúc thay với một sự nghiệp của Thống hóa, vô cùng vĩ đại thay với một sự nghiệp Công Luật vũ trụ và mười phương Như Lai. Cũng từ đó mà được hóa thân và hình thành bản địa thực tướng của giá trị hóa và được vinh danh trong sự nghiệp Công Luật vũ trụ ở khắp cùng vô lượng hành tinh.
Chúng ta ở trong trường lớp đã nghe được minh triết lòng sung sướng bao la và hạnh phúc dạt dào; vì con đường của đạo luật về giá trị hệ thống thống nhất ấy đã làm con mắt trung tâm chính giữa được mở toạt ra để thấy hệ thống lập thể đang che chắn có tính nguyên tắc. Và đột phá tính nguyên tắc của hệ thống che chắn để trở về với hạt tâm lý tính, để có tính thống nhất trong hệ thống ấy thì cha con chúng ta sẽ được vui sướng và hạnh phúc đời đời trong hệ thống thống nhất ấy.
Ta nói minh triết mà lòng xúc động và sung sướng muốn khóc. Thì tiếng khóc ấy là thơm thảo, lừng lẫy và dung dịu vô cùng đối với sự nghiệp Công Luật vũ trụ. Lòng kính yêu vô hạn của chúng ta đối với vũ trụ đã cho cả muôn loài được sống. Sự kính yêu tuyệt đối, sự khuất phục tuyệt đối, sự cuối đầu tuyệt đối. Và tất cả những căn nguyên đã được hạnh nhất mà các loài được cho trong hạt tâm, thì trong hạnh nhất đã có đủ phúc âm và bảo lộc của nó. Nên Thánh nhân đã nói: ”Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc, địa sinh thảo hà thảo vô căn”. Mọi nguồn cội của giá trị sống và con người được sống, thì sự hạnh phúc của trung tâm vạn năng đã tròn đủ trong ta, thì tính chất duy nhất của hạt tâm cũng vậy, mà không thể sai chạy một điều nào hết nghe con!
Ấy là những giá trị mà chúng ta phải thực hiện cho được những công trình cứu rỗi ở trong hệ thống minh triết này. Hãy đem tất cả những năng lực cao nhất của hệ thống minh triết này, cùng sự nghiệp khoa học Công Luật vũ trụ để phụng sự cho loài người và sáng tạo loài người, nhằm đem lại cho loài người một màu thẳm xanh và tươi mát để phục hưng tất cả những hạt tâm lý tính, mà chúng sinh còn bị che chắn do sự lầm lẫn của những quá trình tiến hóa nhất định của nó. Như vậy, trong đời sống tiến hóa nhất định thì sự che chắn cũng có tính nhất định; nhưng sự che chắn ấy không có thực tướng cho nên cha con ta cùng nhân loại sẽ được bình an ở điểm cuối cùng.
Chúng ta ngồi trong trường đại học Công Luật, những điều tuyệt vời được xuất hiện từ âm dương bào tạng, từ sự khen tán rộng lớn của mười phương và hân hoan vui mừng của Trâu Vàng về lại Bia Sơn; cùng đoàn thần sĩ tiếp bước theo sự nghiệp. Vì vậy, đối với chúng ta dù có hy sinh bao nhiêu đi nữa thì cũng không bồi đắp được sự nghiệp vũ trụ đâu con! Chính vì vậy mà chúng ta là những hạt tâm lý tính đã hoàn thành trong giá trị hóa của nhân bản duy ngã đại thể, thì không còn một thứ gì để đắn đo suy nghĩ trong hệ thống lập thể mà chúng ta đang bị che chắn. Nếu vượt thoát sự che chắn ấy thì cha con chúng ta rồng rồng ở trong chân tính và không còn bềnh bồng, luân trầm, khổ đau, thì sự nghiệp Công Luật vũ trụ đã hoàn toàn ở trong thực tướng của sự nghiệp hóa về hạt tâm lý tính và tính duy nhất trong hệ thống, thì đó là con đường duy nhất của muôn loài.
Chúng ta hãy đem minh triết vào đời sống của đại hóa để hóa sạch tất cả những che chắn đau thương. Chính vì che chắn trở thành nghiệp lực, trở thành hoặc lậu; Chính vì che chắn trở thành phân biệt, trở thành độn sử; Chính vì che chắn mà bao nhiêu sự thống khổ và trầm luân trong sáu đường của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a tu la, nhân thiên. Sự che chắn càng nghiêm trọng thì khổ não càng nghiêm trọng. Càng giảm đi sự che chắn thì càng thông đạt và ánh sáng sẽ lớn dần trong lý tính, thì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta.
Đây là bản kinh được thuyết và được học tri. Có lời hỏi của thầy đối với học trò. Bản kinh này phải được ghi rõ lại để làm đề tài cho tất cả những hàng lớp sinh viên, học sinh và con cái ở đàng sau.
Ngài hỏi: Các con thấy thế nào về bài học hôm nay và ngộ nhập được bao nhiêu phần trăm?.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ đại diện đáp lời Cha: Kính thưa Cha, bài học hôm nay chúng con vô cùng xúc động trong tình yêu vô cùng của Cha đã đến với chúng con và nhân loại ngày mai. Bài học đã làm sáng tỏ và mở ra cho chúng con một con đường phía trước rực sáng. Mặc dù chúng con chưa đến được đích, nhưng ánh sáng minh triết của Cha đã vạch đường và chúng con đã định hướng được con đường đi của mình một cách rất chính xác, thì nhất định chúng con sẽ đến đích. Bài học hôm nay cho chúng con thấy được thực tướng về hạt tâm lý tính bất biến thể và thấy được giả tướng của các pháp trong hệ thống lập thể! Thấy được tội lỗi và khổ đau hoàn toàn không có thực tướng. Tất cả những thứ đó chúng con nhất định sẽ thắng phục nó, để trở về trong giá trị hạt tâm và thành tựu hạt tâm lý tính bất biến, để đạt được mục đích của sự cứu cánh. Bài học hôm nay là phương thuốc trị liệu những căn bệnh lầm lẫn, còn bảo thủ các pháp lập thể một cách cực đoan sai lầm. Bài học hôm nay sẽ giúp cho nhân loại ngày mai đạt được hạnh phúc và vinh quang.
Thưa Cha, mặc dù hôm nay chúng con vẫn còn bị những sự che chắn nhất định; trong hiện tại dù chúng con chưa ngộ nhập được chân lý này một cách trọn vẹn, dù chỉ được 50 hoặc 60 phần trăm chẳng hạn, nhưng nhất định chúng con sẽ đạt được 100 phần trăm và nhân loại này sẽ đạt được 100 phần trăm của bài học hôm nay.
Vì đây là một chân lý vô cùng tuyệt vời mà Cha đã dùng minh triết làm sáng tỏ, thì nhất định con đường đó sẽ dẫn chúng con cùng nhân loại đi đến hạnh phúc và bình yên. Chúng con rất kính yêu và xin tôn vinh Cha đời đời trong chân lý và trái tim của chúng con.


THIÊN VẠN THỂ CHUYỂN THỂ TỪ
HẠT TÂM LÝ TÍNH
Thiên vạn thể là tính từ nhỏ nhất của cực vi, đến cái lớn nhất là cực đại. Trong thế giới thuộc về tam giới, thì có 6 đường lục đạo được chuyển thể ở các loài là không thuộc về ánh sáng tối linh. Vì hạt tâm lý tính chưa già chín nên không có được ánh sáng tối linh, vì vậy nó thuộc vô minh. Vì vô minh nên nó không thấy xa, không biết rộng và bị tắt nghẽn trong vạn pháp, không thông suốt được vạn pháp. Cho nên thiên vạn thể được chuyển thể từ hạt tâm lý tính. Như chúng ta đang chuyển thể về hạt tâm lý tính được làm người, là quá vinh quang trong 6 đường. Nếu chúng ta chuyển thể về hạt tâm lý tính đối với các loài như cực âm siêu vi, thì đồng nghĩa với địa ngục và súc sinh.
Như vậy, khi chúng ta tan rã hệ thống lập thể của con người thì thường là bị rơi về 6 đường gồm có: Thiên gọi là con người của trời, nhân gọi là con người. Nếu sụp xuống ở các giới thấp khác thì gọi là con quỉ hay con súc sinh, nếu thấp nữa là cực âm địa ngục, tùy theo thâm trọng của tội phạm đã gây ra. Nếu như phạm tội ngũ nghịch như giết Phật, giết vua, giết tổ, giết thầy và giết cha mẹ. Thì 5 tội này thuộc về nghiêm trọng và rơi vào A tỳ vô gián. Tức là sự hiểu biết đau khổ và khắc khoải không dừng nghỉ, mà bà Thanh Đề là một biểu trưng về mặt biện chứng pháp.
Như vậy, con người có thấy được điều đó không? Nếu chúng sinh không thấy thì định luật nhân quả sẽ cho chúng thấy. Vì khi con người gieo ra nhân gì thì sẽ gặt lại quả ấy. Như vậy, định luật nhân quả nó bày tỏ trước mắt về giá trị chuyển thể của hệ thống lập thể đối với hạt tâm lý tính và hạt tâm lý tính được thăng hoa lên tầng cao hoặc là thoái hóa rớt xuống, thì sự nhỏ dần, nhỏ dần về sự hiểu biết đó có thể đến với các loài, đồng nghĩa với lập thể của các sự hiểu biết thuộc về cảm thọ. Thí dụ như hôm nay ta có sự hiểu biết của ý thức, nhưng ta lại làm xáo mòn ý thức và xáo mòn hạt tâm của sự hiểu biết đó bị nhỏ dần đi, thì ta không thể nào có lập thể con người nữa mà là lập thể của con khác… Nên hôm nay ta là con người, nhưng mai kia ta có thể mang hình thể của con gì khác, thì chuyện đó cũng hoàn toàn rất khoa học. Bởi vì quĩ tích hạt tâm lý tính nhỏ dần, thì quĩ tích hệ thống lập thể cũng sẽ tương xứng với quĩ tích ấy. Nên đức Phật nói luân hồi nhân quả, thì nhân quả và luân hồi luôn luôn gắn liền nhau. Luân hồi là thuộc về kinh Vận luật tuần hoàn chu kinh. Vì khi vận luật tuần hoàn quay thì hạt tâm lý tính của chúng ta cũng theo vận luật đó mà chuyển thể tốt hoặc xấu, thượng hoặc hạ. Thế nên chúng ta mang lập thể con người chưa phải là lập thể vĩnh cửu, mà lập thể ấy còn bị biển đổi thiên hình vạn trạng đối với hạt tâm lý tính có thể chuyển hóa các hình trạng khác.
Như tội ngũ nghịch là đọa vào A tỳ vô gián, còn các tội khác như gian dâm, giết người, trộm cướp, ma men ẩm tửu. Thì các loại đó thuộc về u khuất thần kinh não bộ và lần lần làm triệt tiêu hạt tâm lý tính đến nhỏ nhất.
Mỗi con người đều có những nghiệp dĩ khác nhau, vì thâm trọng của các loại nghiệp dĩ ấy nó khiến cho con người điên điên, khùng khùng và không có định hướng của ngày mai sẽ về đâu. Một khi mà chúng sinh chưa có con đường giải thoát thì điều chắc chắn là ở trong 6 đường luân hồi nhân quả. Nếu nó làm những phúc âm ở trong đời sống ấy, thì có thể nó hưởng được cái quả của trời, người; thì cũng chưa ra khỏi được quĩ đạo sinh tử luân hồi ấy.
Như vậy, thiên vạn hình chuyển hóa trong hạt tâm lý tính. Hạt tâm lý tính thăng hoa thì mới có ngày trở về trong vinh quang của sự nghiệp Công Luật vũ trụ. Nếu chúng ta không trở về được thì nhất định sẽ trôi dạt mênh mông trong biển khổ của luân hồi sinh tử ấy.
Đối với cái chết thì ở biện chứng pháp là mất, là mất cái lập thể của một chiều đối với hình hài của con người và hình hài của con vật. Nhưng thật ra cái chung của giá trị hình hài trong hệ thống lập thể ấy đều còn mãi trong giá trị tuần hoàn là trả lại cho mẹ của nó là tứ đại.
Chúng ta là con của tứ đại và người Mẹ là vận hành trong sự nghiệp hành tinh, thì hành tinh vẫn còn để nhận lại những gì ta trả lại. Nên nói rằng mất mà không mất. Về mặt lập thể, là trả lại để tiếp tục chuyển động và hình thành các hệ thống lập thể mới. Thì đây là lý luận mang tính vật chất biến đổi nhưng không biến đổi giá trị chân tính ánh sáng của sự nghiệp vũ trụ chuyển hóa vật chất theo định luật từ trường.
Còn về phần tính thì sự hiểu biết thuộc về ánh sáng. Người ta có thể phân tích ánh sáng như mặt trời, ánh sáng như mặt trăng, ánh sáng như dòng điện, ánh sáng như đôm đốm và nhỏ nhất là ánh sáng của hư lân. Như các loài ngạ quỉ kia nó vẫn còn ánh sáng, nhưng ánh sáng của sự le lói chập chùng và khổ đau trong hạt tâm lý tính của các nghiệp dĩ vô cùng đày đọa. Trong 36 loài ngạ quỉ thì có những loại đói đến mức độ là nó ăn sạch lại tất cả các thứ phân của chúng. Nhưng tất cả đều từ con người mà ra, điều đó mấy ai biết được chăng? Ngày trước nó làm vua, làm quan, làm khanh hầu công tước, nó làm trưởng giả tử và làm những người mặt sáng mày râu. Nó ăn trên mâm cao cổ đầy. Thế rồi không bao lâu thì chúng nó lại vào trong 36 loài ngạ quỉ sống với nhau, giành giựt nhau, nó khốn nạn ghê gớm như vậy. Nên Đức Phật nói: Ôi thương thay! cho những hạt tâm lý tính biến thể và chuyển hình trạng xấu xa nguy ngập mà Phật thấy còn phải kinh khiếp. Phật là đấng kim cương bất hoại mà thấy còn phải xót xa đọng lòng. Như vậy, tội là tuyệt đối đối kỵ của hạt tâm lý tính và hạt tâm lý tính chết vì tội lỗi. Tội lỗi sẽ làm cho hạt tâm lý tính teo nhỏ lại đến cực âm và cực âm vi, và cực âm vi vẫn là sự sống. Còn Chư Phật là đấng đã được giải thoát vẫn sống trong thái dương rực rỡ và hiển vinh trong chân tính vô cùng đối với Trung tâm vạn năng.
Như vậy, chúng ta phải hiểu rằng: Thiên vạn hình từ hạt tâm lý tính hóa kết, thành kết và hiện hữu trong các hình đồ khác nhau cũng thuộc về hạt tâm lý tính
Chúng ta không nên coi thường mà phải luôn cẩn trọng từ ngay một lời nói. Nói với thầy, nói với Phật, nói với Mẹ, hay nói với bất cứ ai đều phải cẩn trọng. Lời nói ấy có phúc hay có tội. Hành vi tư tưởng nghĩ ngợi cho đến tất cả những việc chung chung, thì chúng ta phải luôn luôn lấy thước vàng khuôn ngọc để đo xét về tư tưởng – ý niệm ấy để giác định giá trị hạt tâm lý tính hóa vạn hình tương lai thuộc về loại hình gì. Và hình tích giá trị hạt tâm lý tính đó thuộc về đâu, là do các tội cấu thuộc về tội gì mà mới ra hình tích đó.
Như vậy, xét về quĩ tích trong sự chuyển động đó thì hạt tâm lý tính là đứng đầu. Còn mắt- tai- mũi- miệng- thân- ý là công cụ hóa của hạt tâm lý tính và một khi mà tất cả những phương tiện công cụ đó bị biến đổi, thì toàn bộ những thứ tội ác đó hạt tâm lý tính hoàn toàn phải nhận đủ, còn 6 căn kia hoàn toàn không có căn nào nhận cả. Như vậy, mọi tội ác hạt tâm lý tính nhận đủ. Thế thì mọi hành vi do thân ý và khẩu ý tung hoành, rồi cuối cùng hạt tâm lý tính A lại da thức nhận đủ và chìm đắm trong mọi nhân quả khủng khiếp mà chúng ta không thể nào thoát khỏi.
Chúng ta phải thấy rằng: Theo thời gian của thái dương hệ có thể 3.000 năm độ một tiểu tuần luật, có thể 10.000 năm độ trong một tuần luật và có thể nhiều hơn nữa. Thì những gián ký của hạt tâm lý tính về các sự oái âm nhất là thân trung ấm chưa có ngày nào ra. Có nghĩa là mang thân âm cực kỳ khổ đau, rất sợ và xa lánh mặt trời, vì mặt trời không tương quan với phần âm trập của thân trung ấm.
Như vậy, con người hết sức là phức tạp, đời sống vũ trụ hết sức là phức tạp và các loài cũng hết sức là phức tạp. Nếu ta có những đặc năng của các loài thì đó chẳng qua chúng ta được một ân sủng nào của các loài để được sống mà thôi.. Vì đấng Thống Hóa vẫn cho chúng ta những đặc năng nhất định để chúng ta tiến hóa, nếu chúng ta không tiến hóa thì chúng ta sẽ rớt xuống đặc năng thấp hơn, thì dần dần tính đa năng và siêu năng của chúng ta sẽ không còn như loài người và các loài cao hơn nữa.
Đối với vũ trụ này không có gì mất cả. Như có một Chư Phật Ngài thuyết 60 tiểu kiếp, nhưng khi đi ngược về trung tâm thì 60 tiểu kiếp đó có ở tại trung tâm và toàn bộ mọi sự ghi nhận về những hành vi của vị Phật đó hoàn toàn đều có ở trung tâm.
Như hôm nay Cha làm việc gì thì Đức Từ Phụ đều biết cả. Vì tất cả đều hiện lên trong gương chiếu ánh sáng của vô cực quang, vì trung tâm ánh sáng vô cực quang thu nhiếp các hệ thống kinh điển chuyển ròng trong sự nghiệp hóa thân của các Chư Phật.
Nếu không phải như thế thì người ta không bao giờ nói rằng: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. Nên chúng ta không phải lo một thứ gì mất cả, mà chỉ lo sợ mình làm việc bất chính rồi bị teo hóa hạt tâm lý tính và rớt vào trong các loài mang những hình thể khác nhau.
Như vậy, nếu Cha hóa thân Phật vương, thì đối với Cha cũng là Phật, đối với Cha cũng là vua và đối với Cha cũng là thầy (quân-sư-phụ) mà các con thì lại xem rất thường. Ngày nay trong thời mạt pháp con cái quay ra ngoài hết rồi. Nó quay theo thiên vạn hình súc sinh động vật. Tức là động vật hóa ý thức. Chớ nó đâu có chịu quay vào trong chân thể quang minh, ánh sáng diệu chiếu và trở về chân tâm để thực hiện những công trình Phật đạo,
Ở đây đối với chúng ta không những chỉ là cái khôn của một thủ tướng đi lập thiền viện. Không những chỉ là cái khôn của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni đã bỏ ra một ngôi vua, mà còn là cái khôn long trọng trong vũ trụ tiên thệ rằng: Ai ra khỏi tam giới thì người ấy mới có thể sống đời đời trong vũ trụ. Vì vậy mà chúng ta xa lìa tất cả những phù hoa phím lạc và xa lìa những thứ quay cuồng làm cho hạt tâm lý tính bị teo đi. Nên mới tìm về nơi danh lam ổn định và tìm về nơi trường đường thiền định, để giữ lập hạt tâm lý tính, thì đó mới thật là người trí và người khôn.
Đức Phật nói: “Ngươi có hệ thống lập thể nhân bản, tại sao ngươi không lấy chiếc thuyền nhân bản ấy để chở ngọc, chở vàng và chở kho tàng pháp bảo qua sông, mà ngươi lại neo đậu bên bờ và cùng chiếc thuyền sống mãi ở đó, mà không bao giờ thấy được bến bờ an lạc bên kia”.
Một đời của chúng ta cũng giống như ta làm được một chiếc thuyền, ôi! rất là khổ công tốn nhiều tiền của, thì ta phải biết dùng nó để công suất hóa và thực hiện những công trình vượt tuyến để trở về với thời gian ánh vàng, là trở về với nguyên lý đã sinh hóa chúng ta.

Tóm lại, Nói thiên vạn thể là nói đến đời sống của các loài từ cực vi đến cực đại, thì trong đời sống ấy có chúng ta. Vậy chúng ta phải biết tất cả của đời sống lập thể, thiên vạn lập thể trong hạt tâm lý tính. Nếu hóa thượng thì có một đời sống tuyệt đối cao, còn hóa hạ thì có một đời sống cực kỳ khốc liệt, cực kỳ đau khổ. Nhưng tất cả phát xuất từ các trọng nghiệp và các trọng tội, phát xuất từ các chủng tử, các nghiệp dĩ và các ý thức biến động làm cho hạt tâm lý tính bị thoái hóa, để cuối cùng nó phải chuyển thể qua những lập thể khác. Như vậy, hạt tâm lý tính là mối chốt để lập thiên vạn hình trong 6 đường sinh tử đó.
Hạt tâm lý tính là tính của ánh sáng từ cực vi đến cực đại. Một khi chuyển thể của hạt tâm lý tính, có thể là sự hóa hạt ấy nó nhỏ hơn xấu hơn, thì nó sẽ có những hình tương quan với hạt đó. Nhưng khi hạt đó lớn hơn, tốt hơn thì nó có những hình tương quan với hạt đó.
Đức Phật nói rằng: Hãy chiêm ngưỡng và lễ bái Quan Thế Âm từng ngày không bao giờ nhàm chán, cùng điểm tô các công đức khen tán và không bao giờ chê bai ai, thì trong tương lai nếu người ấy sinh hóa vào kiếp người thì sẽ có một thân tướng rất là trang nghiêm đẹp đẽ. Còn nếu cứ thường xuyên chê bai người khác và không biết chiêm ngưỡng hình tượng Phật thì dần dần sẽ bị nhiễm các pháp xấu xa đó, thì người ấy nhất định sẽ mang những hình thể xấu xa.
Đứng trên tinh thần vũ trụ quan về tâm sinh vạn pháp, là duy tâm thượng trung tâm vạn năng sinh ra vạn pháp, cơ cấu hệ thống tròn đủ tổng thể tinh hoa. Còn đứng trên mặt bằng của duy ngã đại thể về tâm sinh vạn pháp, thì có nghĩa là sinh ra các pháp lành thì tất cả những nhân lành quả tốt nó sẽ kết lại cho ta. Nhưng chúng ta sinh ra những pháp không lành, thì tất cả những thứ nhân quả không lành đó nó kết lại cho ta. Như vậy, nếu ý thức tương tác mà quay theo chu trình thượng thì nhất định chúng ta sẽ mở rộng về hạt tâm lý tính ánh sáng để đạt được giá trị cao nhất về trung tâm.
Như vậy, chúng ta có hạt tâm lý tính nếu chúng ta không quay về, không quay lên mà lại quay xuống, quay ra thì thiên vạn hình nó sẽ hóa lập các hình thể trong đời sống của vạn thể đó. Thế nên có những loài thấp nó tiến lên loài cao, nhưng cũng có những loài đã lên cao rồi mà lại lầm lẫn nên rớt xuống loài thấp. Vậy đây là định luật nhằm để hóa, thì chúng ta có quyền hướng thượng hoặc hướng hạ, nhưng hướng hạ là hoàn toàn nguy hiểm. Thì định luật này thuộc về trung tâm hóa vạn pháp, hóa vạn thể và hóa thiên hình vạn trạng. Như vậy, hạt tâm lý tính phải chịu định luật hóa này và hạt tâm lý tính được quyền hóa thượng hoặc được quyền hóa hạ. Nên nói rằng: Thiên vạn thể hóa từ hạt tâm lý tính. Nếu hạt tâm lý tính hóa thượng thì đầu tiên sẽ được những quả thánh, nếu tiếp tục hóa lên cao hơn thì thành các đấng Thánh nhân, Bồ tát và Như Lai. Còn chúng ta hóa hạ thì rơi xuống các loài trong 6 đường sinh tử luân hồi mà cao nhất là thiên nhân. Chúng ta phải thấy rằng tổng thể tinh hoa hóa các loài, nhưng khi các loài biết kết tinh tổng thể tinh hoa, thì các loài ấy sẽ thoát ra khỏi mọi định nghiệp của các loài và trở về giá trị bất biến thể của hạt tâm lý tính.
Chúng ta phải hiểu tất cả đều có hạt tâm, từ nguyên tử cũng là hạt tâm, thực vật cũng là hạt tâm, động vật cũng là hạt tâm. Như vậy, tính bình đẳng ấy là hạt tâm. Thế thì nếu hóa thượng thì hạt đó trở thành ánh sáng lớn hơn. Còn nếu hóa hạ thì hạt đó nó sẽ trầm luân và chịu chuyển hóa trong thiên hình vạn thể đó. Nên nói thiên vạn thể chuyển thể từ hạt tâm lý tính.
Thống Hóa thiết lập thiên vạn hình là để hóa thăng hoa, để kết tinh kim cương, kết tinh hoa nghiêm, kết tinh liên hoa. Đó là mục đích chính của đấng Thống Hóa. Như vậy, khi chúng ta có những bản địa tiến hóa như vậy thì chúng ta phải tu tiến thăng hoa. Tu tiến thăng hoa về tính khách quan ví dụ như: Theo mỗi nhân duyên lành mà kết hợp giữa người và người hoặc giữa người và động vật, thì luôn luôn có sự cảm nhiệm tương quan trong giá trị thăng hoa ấy mà tu tiến và thăng hoa. Nên tu tiến thăng hoa luôn luôn là lẽ chí thiện, chí mỹ và chí chơn của sự nghiệp vũ trụ. Mà không bao giờ bị trôi dạt chí thiện, chí mỹ, chí chơn của vũ trụ vào những vực sâu. Nếu tu tiến thăng hoa của các hạt tâm đối với thiên hình vạn trạng, thì Thống Hóa đã kêu gọi rằng: Bởi tiến hóa mới lập thiên hình vạn trạng, mới có thăng hoa, mới có tiến hóa, mới có kết tinh và trở về chỗ tột cùng của nó là kim cương, vàng và châu báu. Còn nếu nói về hoa thì các loài hoa đẹp nhất, anh tú nhất và không biến đổi của ngôi sao kinh điển là Hoa nghiêm. Như vậy, cuối cùng các loài cũng tiến về Hoa nghiêm, tiến về Pháp hoa, tiến về Kim cương và Hoàng kim. Đó là lẽ tất nhiên của vũ trụ mà không bao giờ thay đổi giá trị chí chơn, chí thiện và chí mỹ đó. Như vậy, vũ trụ hoàn toàn không áp đặt bất cứ một sự thống khổ nào của các loài đời đời. Nên ngài nói rằng: Các ngươi hãy khổ luyện để được đời đời hạnh phúc. Chớ Ngài chưa bao giờ nói: Các ngươi có hạnh phúc khi các ngươi chưa có khổ luyện. Cho nên trong sự kết tinh rèn đúc về hệ thống lập thể , là đã chịu mọi tác ứng và hành vi tác ứng giá trị lập thể trong đời sống ấy, thì mỗi khi ăn là khổ rồi. Sống phải làm việc, phải thăng hoa, phải quyết tâm rèn luyện thì mới có được hạnh phúc. Cho nên tất cả các loài đều phải ở trong qui luật công luyện. Nên Ngài nói: Chính bản chất của tinh hoa nó đã được công luyện rồi, thì hệ thống lập thể thiên hình vạn trạng cũng căn cứ trên công luyện ấy mà được thăng hoa. Chớ còn nếu các ngươi không công luyện thì chắc chắn cũng không bao giờ được thăng hoa.
Các đơn vị hóa học về tính khách quan nó cũng đã công luyện rồi, đừng nói chi có một hạt tâm lý tính trong hệ thống vật chất mà không công luyện thì trở thành vô nghĩa.
Đây là thuộc về minh triết chí lý, nghĩa là lý đã có một tiêu chí triệt để về giá trị tiến hóa và tất cả những cái minh cao quí nhất đã đem ra mổ xẻ, phẫu thuật và phân tích làm rõ về minh lý ấy, thì chúng ta còn có cái nghi nào để nghi thêm nữa không? Hay là trước mắt chúng ta vẫn là thiên hình vạn trạng. Mà thiên hình vạn trạng ấy đều có tích tụ hạt tâm lý tính. Để rồi từ đó chúng ta công luyện thoát ra những thiên hình vạn trạng đó, mà đến cùng những ngôi sao kinh điển để có một pháp thân rực rỡ và không còn bị kẹt trong các loài nữa.
Nên Như Lai nói: Các loài đều có Phật tính như Ta, lấy Ta là chỗ biểu trưng thì các ngươi đều có tính sống như Ta. Và Ta là Phật đã thành thì tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành.
Ngài nói chúng sinh là nói cho tất cả mọi sự sống, vì những gì có sự sống thì đều có bản chất, bản địa giống nhau tương quan với nhau và từ vũ trụ hóa ra. Như vậy trung tâm vạn năng hóa thiên hình vạn thể, thì thiên hình vạn thể được hạt tâm lý tính, trách nhiệm phải là tu tiến thăng hoa để kết tinh những chất liệu cao cấp.
Như Lai nói: “Các thiên hình vạn thể loài thấp là nhờ ở loài cao”. Như vậy ai chăm sóc các loài thấp đây?. Có phải chăng đó là loài người. Nên ở Tây phương người ta đã chăm sóc từng con vượn, con khỉ, con gấu và chăm sóc các loài động vật trong rừng. Ngài nói: “Nếu ở đây các ngươi chưa biết chăm sóc các loài sống, chưa biết nâng đở các thiên hình vạn trạng trong hệ thống lập thể, thì Ta sẽ không bao giờ nâng đở các ngươi. Các ngươi nuôi nó không được thì để ta nuôi và chớ đừng xâm phạm đến việc mà ta nuôi chúng”.
Như vậy sự hân hoan vui mừng và tán khen không hết lời, trong ngôi lời tột cùng của đấng Thống hóa, là đấng mà có thể là sùng kính nhất trong đời sống của chúng ta. Có nghĩa là chúng ta có trái tim và có nguồn máu bao nhiêu, khối óc hiểu biết bao nhiêu, tình yêu bao nhiêu thì đều phải biết ơn và sùng kính đấng Thống hóa một cách tuyệt đối. Chúng ta sùng kính như vậy đồng nghĩa với sùng kính đức Thích Ca Mâu Ni, đức Quan Thế Âm và sùng kính tất cả chư Phật đã hóa thân vào các hành tinh.


LUẬN VỀ CHỮ “NGÔ TRONG TÍNH KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, khi chúng ta luận sâu về từ ngã thì thấy rằng từ ngã rất gần gũi với chúng ta, vì chính chúng ta cũng chính là ngã rồi. Tuy nhiên chúng ta sống ở mặt bằng của chủ quan bản ngã, cho nên chúng ta không thấy được chiều sâu vô cùng của ngã. Vậy khi nói đến chữ ngã là nói đến chủ thể rồi, nếu mặt bằng của nhị nguyên thì duy ngã vạn pháp chính là chủ thể. Còn nếu ở phạm trù nhất nguyên thì đại ngã là chủ thể của vũ trụ quan.
Nhưng vì chúng ta không ở trong vị trí của khách quan nên chúng ta bị biến thể, mà chúng ta không trở về ở ngã bất biến thể. Về quy trình hóa khi Thống hóa lập nhị nguyên, thì tất nhiên chủ thể của nhị nguyên là duy ngã vạn pháp, tức duy ngã của đại thể. Như vậy con đường trước mắt của duy ngã vạn pháp thì chúng ta phải trình tự chuyển động và kết tinh để hóa trở về với đại ngã bất biến thể ấy, đó là mục đích tối hậu của Thống hóa chân quang.
Chúng ta nên xác định rằng khi ở thế giới nhị nguyên thì chữ ngã này nó có đồng tính đối với đại ngã nên nhân gian thường nói “con người là tiểu vũ trụ”. Như vậy giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ là đồng tính và có liên quan, nên nhân tiểu ngã này chúng ta mới chuyển động kết tinh và trở về với chân ngã và đại ngã.
Vậy chúng ta nên khách quan trong quy trình sống, trong quy trình hóa, thì tất nhiên trước mắt chúng ta sẽ có một đại lộ rất rõ ràng để chúng ta trở về với đại ngã bất biến thể.
Ngài dạy: Đối với Thiên Chúa giáo thì người ta thừa nhân 3 ngôi là Chúa cha, Chúa con và Chúa thánh thần, ngoài ra không còn ngôi nào khác. Đối với ngôi Chúa con tức là con một, còn nhân loại không thuộc về con mà thuộc về những hạt nhân được Thượng đế tạo ra và nếu muốn trở về thiên đàng để ở cùng Ngài thì phải làm những điều thánh thiện, còn nếu làm ngược lại thì sẽ đọa địa ngục đời đời. Chúng ta thấy nói như vậy là không có tính minh triết, hoàn toàn không có hệ thống duy ngã vạn pháp kinh và cũng không định nghĩa được chữ ngã. Vì một khi không thừa nhận duy ngã đại thể là mặt bằng, là biện chứng pháp của đấng Thống hóa, tức là của 3 kinh trục, thì hoàn toàn tất cả bị rơi vào chỗ áp đặt.
Đối với cửu kinh là một hệ thống liên tịch chiếu, không thể tách rời nhau, mang tính chất rất khoa học, nhưng khoa học này là không phủ nhận chủ tính, vì sao? Vì vũ trụ có chủ tính nên nó thừa nhận có cái ta của vũ trụ mới có cái ta của chúng ta.
Vậy chúng ta xác định được về tính chất và giá trị của nghĩa lý thì chữ ngã là có chủ tính, chính vì có chủ tính mà chúng ta mới tôn vinh là duy ngã và đại ngã. Về tính biện chứng của chủ tính là: tri thức, còn thượng tầng là tính ánh sáng bất diệt.
Tính ánh sáng bất diệt hoàn toàn có trong trung tâm duy ngã vạn pháp kinh và duy ngã đại thể. Vậy mặt bằng của duy ngã đại thể là ngôi biện chứng của đấng Thống hóa, thì duy ngã đại thể là giá trị cho tròn đủ kể cả chủ thể và chân tính; chỉ còn có một điều là chúng ta có thực hiện đúng theo tinh thần của công luật vũ trụ hay không. Nếu chúng ta thực hiện đúng hoặc không đúng theo tinh thần công luật vũ trụ, thì kinh vận luật tuần hoàn mang tính khách quan, công bằng và trật tự trong sự chuyển động và hình thành để kết tinh tinh hoa hoặc là đào thải tinh hoa, mà không mất chữ ngã ở trong vận luật tuần hoàn. Vì sao? Vì vận luật tuần hoàn không tách trung tâm vạn năng và sức mạnh oai âm dương vạn tỏa, thì chính vận luật tuần hoàn đã có chủ thể một cách triệt để và hoàn mỹ trên tính công lý.
Như vậy, chúng ta xác định về chữ ngã của thượng tầng là có chủ thể tổng thể, thì hạ tầng có duy ngã vạn pháp hay duy ngã đại thể là chủ thể mặt bằng của giá trị hóa và biện chứng pháp đối với thượng tầng.
Như vậy, nếu đứng trên tinh thần khách quan thì không có sự áp đặt, vì đấng Thống hóa là bản chất của công lý và bản chất của công luật, thì không có sự áp đặt mà là sự hoàn chiếu ánh sáng viên mãn cho giá trị hóa và thành lập tất cả các giá trị hóa, mà không có một giá trị nào có thể thiếu hoặc có thể thêm.
Đứng trên tinh thần chữ ngã thì chúng ta thấy rằng chữ ngã nó không còn là hệ thống vật chất đơn giản nữa, nên duy ngã cũng không phải là duy tâm nghiêng lệch, mà duy ngã là thừa nhận giá trị chủ thể và tròn đủ tổng thể tinh hoa trong vũ trụ, nên chúng ta tôn vinh Kinh Duy Ngã Vạn Pháp là kinh tròn đủ tất cả tổng thể tinh hoa.
Nói về quyền năng thì Thống Hóa là quyền năng tối thượng, đó là quyền sinh ra thiên hà, sinh ra thái dương hệ, sinh ra loài người và sinh ra tất cả những bộ óc lớn của loài người, thì đó thuộc về quyền năng có tính công lý, quyền năng có tính công luật và quyền năng có tính hệ thống hóa. Đối với quyền năng mà các nhà xiếc, ảo thuật, thì đó là bề trái của quyền năng thực tướng trong giá trị hóa đối với tổng thể vũ trụ quan.
Chúng ta hãy tập hợp những niệm lực hùng mạnh nhất và tuyệt đối không sai biệt, thì niệm lực ấy sẽ trở thành vô địch và chính nó sẽ ổn định giá trị hóa trong đời sống của chúng ta và có thể nói là các pháp bất tương ưng không thể xâm nhập được trong đời sống ấy.
Niệm đó là Thống hóa đã cho chúng ta có một sức mạnh vô địch, tức là không ai có thể chặng đứng được cái niệm của chính ta phát ra.
Chúng ta không cần phải mời gọi thánh linh từ bên ngoài mà làm mất thực thể của chính ta. Mà phải trở về học cửu kinh minh triết, là học thuyết của thực thể, tức là chữ ta của sự bình đẳng và hóa giải tất cả mọi sự nghiệt ngã trong đời sống của duy linh học hoặc là duy tâm cực đoan học và duy vật đoạn kiến học.
Khi học bài này thì chúng ta thấy ta và Thống hóa rất gần gũi không thể tính bằng sát na; vì tác phẩm của chúng ta là của Thống hóa. Khi ta thấy được ta, là ta đã thấy được Thống hóa, nó gần như vậy.
Như học thuyết của đông phương người ta đã nghiệm từ thượng dịch, trung dịch, hạ dịch và thấy được tất cả cơ cấu hệ thống đó nên khẳng quyết rằng con người là tiểu vũ trụ.
Như vậy tính bình đẳng của giá trị hóa trong đời sống của đấng Thống Hóa là không bao giờ tước đoạt và áp đặt đối với chúng ta.
Tóm lại, chúng ta xác định về chữ ngã nó là thực tướng của giá trị chân tính, nó minh định được giá trị thượng tầng, minh định được giá trị hạ tầng và có phép biện chứng của chữ ngã; tức là mỗi khi mà con người xưng ta thì hoàn toàn có cái biết để xưng về ta.
Xưng ta tức là có chân tính ánh sáng, có quần thể ánh sáng, có hội tụ ánh sáng và ánh sáng ấy hoàn toàn có hệ thống lập thể và có tính biện chứng về lập thể.
Chữ ta biến đổi và không biến đổi như thế nào? Chữ ta không bị biến đổi về tri thức ánh sáng và làm tăng trưởng một cách hoàn mãn, thì chữ ta ấy sẽ thăng hoa đạt thành giá trị chân ngã và trở về cùng đại ngã.
Nếu đặt ra hệ thống ngôi thì có thể tạm đưa ra Thống Thức Chân Quang ngôi, Trung Tâm Vạn Năng ngôi, Oai Âm Dương Vạn Tỏa ngôi. Đó là 3 ngôi kinh trụ đóng vai trò chủ thể không tách Vận Luật Tuần Hoàn Chu Kinh, Duy Ngã Vạn Pháp Kinh và Tâm Vật Hội Tụ Kinh. Cùng các hệ thống kinh điển để giải thông vô lượng nghĩa trong hệ thống hóa, thì không có một kinh nào mà không thuộc mặt bằng của đấng Thống hóa. Như vậy chúng ta thấy cửu kinh trở thành sức mạnh liên trùng và quá khứ, hiện tại, vị lai cũng không bao giờ có thể thay đổi được, thì cửu kinh cũng chính là cửu trù hồng phạm.
Chúng ta học cửu trù hồng phạm, cửu kinh minh triết để không còn sống trong thuật linh và sống trong thần linh nữa. Và chúng ta cũng không còn bị nghiêng lệch và phân biến về tâm vật nữa, mà cửu kinh là sự khép kín của tổng thể về giá trị hóa 4 chiều để hình thành sức mạnh của duy ngã đại thể trong sự nghiệp hóa chân ngã.
Chữ ngã không bị biến đổi về thượng tầng, đó là tính bất diệt ánh sáng vô biên.
Chữ ngã bị biến đổi là vì lầm lẫn theo bản ngã nên làm phân biến tinh hoa của giá trị hóa, giảm trừ tinh hoa của tổng thể nên tạm gọi là biến đổi. Có biến đổi nhưng nó không mất, vì phép biện chứng của giá trị Thống Hóa là không cho mất, khi đến giá trị sự sống cuối cùng vẫn được thăng hoa trở lại.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, trong hệ thống cửu kinh liên tịch chiếu đã cho chúng con thấy được thực tướng của chữ ngã, của duy ngã độc tôn; vì chữ ngã là có chủ thể, là tròn đủ tổng tinh hoa và đó chính là thực thể của vũ trụ. Đối với con người tạm gọi là tiểu ngã vì từ trong đại ngã sinh ra. Nên trong mỗi con người đã có một hạt tâm bất biến thể, được biện chứng đó là tri thức hiểu biết.
Nhưng thường thì chúng ta không thấy được chữ ngã khách quan ấy, mà lại áp đặc cho mình một bản ngã chủ quan, đó là sự lầm lẫn bỏ chủ thể, bỏ chủ tính của mình để chạy theo khách thể là tính khách quan của vạn pháp biến đổi và nhận lầm các pháp biến đổi là thật mà bỏ quên đi chủ thể của chính mình. Vì thế nên chúng ta đã bị các pháp giả tướng bất tương ưng xâm hại vào đời sống của tri thức chúng ta và làm cho chúng ta bị suy thoái về tâm thức và đi theo chiều hướng hạ.
Như vậy, chúng ta muốn trở về thực tướng của ngã, để thành tựu giá trị chân ngã của chính chúng ta, thì ta phải hoàn chỉnh tất cả mọi sự nghiệp tu chính. Tức là chúng ta phải có những tư duy chân chính để thanh lọc bản thể và kết tinh tinh hoa tâm pháp. Đồng thời chúng ta phải phát lên những ý niệm chân chính, những hành vi chân chính và hoàn toàn thuận theo quỹ đạo chuyển động khách quan của vận luật tuần hoàn chu kinh, tức là thuận theo những định luật, những quy luật mang tính công luật tất yếu để chúng ta thăng hoa trong vận luật tuần hoàn ấy và không tách rời tâm và vật, tính và thể thì chúng ta sẽ có được trọn đủ giá trị của chữ ngã, đó là thực thể của vũ trụ và chính ta.
Ngài hỏi ông Chơn Đạt Pháp Trí, những phân biệt nào là phân biệt có lợi?
Ông Chơn Đạt Pháp Trí: Thưa Cha, phân biệt của tư lượng pháp, phân biệt của trí tuệ và phân biệt để quay lên chiều thượng thì phân biệt đó có lợi, còn phân biệt mà làm nát vụn và phân tán tinh hoa thì không có lợi.
Ngài dạy: Nếu chúng ta phân biệt mà ngoài hệ thống của chánh tư duy thì hoàn toàn không có tác dụng. Người ta rất sợ về những ý niệm lóe lên mà không thuộc về chất liệu tinh hoa, vì nó bị xâm thực và phá hoại lại giá trị tinh hoa. Vậy ý niệm cũng là hoặc lậu mà chúng ta phải luôn luôn kiểm soát để xác định nó.
Khi chúng ta đã biết rõ về chủ tính thì chúng ta phải luôn luôn đặt vấn đề là tinh lọc chủ tính lên hàng đầu. Tinh lọc ở đây là không còn phụ thuộc vào thời gian công phu của tí, ngọ, mẹo, dậu, mà chúng ta đặt thời gian của ý thức trong giá trị sự sống.
Bởi vì về hệ thống lập thể thì chúng ta đang sống, về tư duy ý niệm khối óc và suy nghĩ cũng đang sống. Vậy chúng ta đang sống thì sự sống có ý nghĩa và sự sống không ý nghĩa. Sự sống có thăng hoa và sự sống không thăng hoa, thì ở đây Đức phật đã đưa ra vấn đề tinh lọc bản thể, là để tròn đủ giá trị chân ngã. Nếu không tinh lọc bản thể thì không bao giờ đạt được chân ngã. Vậy chúng ta rất cần tinh lọc, tinh lọc hoàn toàn không phải chia thời gian, mà tinh lọc là giá trị đang sống và ý thức sống trong sự chuyển động của ý thức sống. Và sống như thế nào có tinh lọc và sống như thế nào không có tinh lọc. Thì chúng ta phải đem ánh sáng và giá trị minh triết kinh điển vào trong đời sống của giá trị hóa thì chúng ta mới có thể thực hiện công trình tinh lọc được.
Chúng ta phải có ý niệm tinh lọc, ý niệm nhất tâm, ý niệm chính niệm và đi đến định huệ là nhằm nuôi dưỡng thực tướng. Đức phật nói: “Ngươi có niệm nhiều cũng không thêm đâu vì ngươi đã có một tâm rồi. Ngươi có tưởng gì cũng không thêm đâu vì ngươi đã là duy ngã đại thể đã tròn đủ hạt tâm rồi. Bây giờ là ngươi phải tinh lọc bản thể để ngươi có cái thực của chính ngươi”.
Như vậy hôm nay chúng ta đem cửu kinh minh triết để nuôi sống giá trị chân tướng, nuôi sống giá trị tri thức làm cho tri thức được vững chãi trên con đường thượng lập, thượng hóa. Trên con đường từ duy ngã đại thể đi đến chân ngã và trở về tổng thể của trung tâm vạn năng.
Cũng như chúng ta có chất liệu vàng và kim cương nhưng chưa kết tinh được vàng và kim cương. Vậy ngày nào chúng ta kết tinh được kim cương, là ngày đó đã chứng tính được giá trị hóa trong trung tâm vũ trụ và ta đã hoàn toàn chiếm giữ được vũ trụ một cách toàn mãn. Đó là tính bình đẳng khách quan công lý mà Thống hóa đã cho.


LUẬN VỀ: BẢN NGÃ, NGÃ MẠN THUỘC Ý NIỆM
TƯ TƯỞNG
Chúng ta phân tích giữa bản ngã, ngã mạn thuộc về ý niệm tư tưởng của các loại ngã sở thì loại bản ngã nào nguy hiểm nhất?
Thí dụ như có bản ngã cho rằng nhà của tôi, con của tôi, thân của tôi thì cũng chưa có gì nguy hiểm. Nhưng cũng có loại bản ngã nó vượt xa hơn tất cả của cái tôi ấy và nó trở thành chúa tể của mọi bản ngã và có thể nguy hại đến thế giới loài người và quốc gia.
Thường thì chúng ta hiểu Bát Chánh Đạo chỉ đơn thuần ở đại cương nhưng nếu đi sâu vào từng lập địa cao tầng của Bát Chánh Đạo thì giá trị Bát Chánh Đạo không giới hạn trong hệ thống Tam thiên đại thiên thế giới.
Như ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Pan- Ki- Mun đã xác định rằng: Đối với Phật pháp chỉ cần đem Bát Chánh Đạo ra là có thể giải quyết được khắp toàn cả nhân loại trên thế giới này. Nếu loài người trên hành tinh mà dùng Bát Chánh Đạo thì sẽ không còn phân biệt màu da, sắc tộc; kể cả những người ngu xuẩn nhất nếu biết dùng Bát Chánh Đạo thì họ cũng sẽ được cứu thoát.
Chúng ta không nên hiểu Bát Chánh Đạo một cách cạn cợt mà phải hiểu đây là những phương- than trị liệu ở các cấp độ cao nhất của loài người, về trị liệu Tâm pháp một cách tích cực và đồng thời là có hiệu nghiệm cao nhất. Nên đức Từ Phụ Thích Ca là đại diện cho thầy lang của Thống hóa, đem tất cả những kho tàng linh dược của Thống hóa vào trong đời sống của Duy ngã đại thể và khắp cả Tam thiên đại thiên thế giới. Thậm chí là bệnh của 36 loài ngạ quỷ, bệnh của súc sinh và địa ngục thì Như Lai đều đến để cứu chữa được.
Như hôm nay chúng ta đi trên con đường Cửu kinh minh triết mà ta bỏ Bát Chánh Đạo thì ta sẽ bị sụp đổ Cửu Kinh ngay. Vì sao? Vì trong các hệ thống kinh điển, dù chỉ là một câu kinh trực tiếp, hay gián tiếp trên đầu môi của những lời huấn thị về Thánh kinh đều là quý báu, vì nó là then chốt của giá trị hóa Cửu Kinh minh triết.
Nếu chúng ta phân biệt kinh, chấp kinh và cho rằng kinh này cao hơn kinh kia, thì vô hình chung chúng ta đã bị sụp đổ về giá trị thống nhất của hệ thống Cửu Kinh minh triết.
Đối với trên bình diện của hệ thống thiết lập thì có nhiều công thức, nhiều phương pháp khác nhau, nhưng chất liệu ánh sáng trong sự vận hành, ứng dụng, điều ngự và làm lợi cho nhân loại, thì đó là quan trọng và chúng ta tôn vinh. Còn những thứ làm ngược lại sự lợi ích của nhân loại pháp giới như các loại Thiên ma thì chúng ta không tôn vinh.
Như vậy về 2 mặt của giá trị hóa đối với Cửu Kinh minh triết, thì chúng ta thấy rằng tính cứu của nó là 99% chỉ còn lại 1% tỉ lệ biến hóa. Tức điểm chấm đen của bút bi ấy là để thực hiện những công trình hóa. Nó chỉ là dự bị để làm những công suất hóa lớn hơn.
Đối với những người đã làm nhiều trò ảo thuật, hoặc có quyền năng quyền phép mà không cứu giúp được ai cả thì đều liệt vào hàng ngoại đạo.
Định nghĩa ngoại đạo: Là sự hành tung bên ngoài và hoàn toàn nó ở phần ngoài.
Như vậy chúng ta xác định những cành ngọn là không thuộc về gốc, nhưng nó vẫn được sống là vì nó nhờ gốc. Thế thì ngoại đạo nó sống là vì nó nhờ gốc nội đạo của hệ thống vũ trụ quan. Chính vì nó làm những việc ngoại đạo nên đời đời chỉ được những phép ngoại đạo và thành quả của nó là sa đọa, hoặc bị bẻ gãy nhịp cung cầu đối với sự nghiệp cứu thế và sự nghiệp tiến thân vào quỹ đạo nội đạo. Thì chúng nó sẽ đau khổ bên phần ngoài và hoàn toàn không hay biết gì ở phần trong.
Muốn biết được phần trong là phải trở về hạt tâm lý tính để tạo một độ rung và nhịp độ thánh linh trong sự nghiệp trung tâm vạn năng, đối với tính chất giá trị tột cùng của duy linh và ánh sáng thống nhất của thống thần đại ngã.
Nếu biểu trưng về giá trị chính thống hóa thì có đức Thích Ca Mâu Ni và sau đó hơn 500 năm thì có đức Giê- Su đã treo mình trên Thập tự để chịu thống khổ vì nhân loại. Điều đó không ai có thể làm được thì không bao giờ đem cái Ta của ta để so sánh với các đấng ấy. Như vậy chúng ta là những người thừa kế của những đấng đã cứu chuộc nhân loại trên hành tinh này và chúng ta là con cái của Ngài.
Nếu có bất cứ một giáo chủ nào ra đời mà tự hô rằng mình hơn các đấng ấy, thì nó sẽ bị chìm sâu vào địa ngục và không bao giờ nó thấy được ánh sáng tối linh của những đấng ấy.
Người Công Luật là người tôn vinh tất cả những đấng cứu thế và học Công Luật là để trở về tính toàn duy và phủ ánh sáng toàn duy để thống nhất được giá trị chung đối với sự nghiệp Công Luật vũ trụ mà không bị rẽ đường ngăn lối cho sự nghiệp đưa con người đến chỗ tột cùng của chân hạnh phúc. Nếu ta được sai khiến như một công cụ, hoặc khí cụ đó, thì phúc cho khí cụ ấy được thực hiện những công trình bình an cho thế gian. Chứ không phải đem bản ngã của ta để so sánh với các đấng cứu thế và đồng thời cho rằng làm trội phần hơn đấng cứu thế, thì không bao giờ ta được cứu thế trong vũ trụ và nhân sinh. Ta biết ta là khuôn khép của giá trị công suất, thì sự khiêm tốn và lòng sủng kính của ta đối với các đấng cứu thế càng lớn lao hơn; Thì công cuộc phá hoang lập nguyên và sự nghiệp đại hóa chúng ta mới làm được và chấp cánh bay cao. Còn nếu sự xúc phạm đối với các đấng cứu thế thì chính chúng ta sẽ lật đổ sự cứu thế của ta trong đương đại và không bao giờ có thể tồn tại trên thế gian này.
Như trên đã mở rộng về chữ ngã, thì chữ ngã có liên quan đến nhiều thứ kể cả tôn giáo, đảng phái và các sự nghiệp chính thống trong hệ thống hóa; Đồng thời các loại ngã ấy hoàn toàn không có sự nghiệp tương ưng đối với đấng Thống hóa và các đấng cứu thế.

Phần nghị luận:
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, trong đời sống nếu chúng ta không có ngã thì tất nhiên không có sự sống. Đối với Đại ngã Thống thức chân quang đó là cái ngã tuyệt đối, và ngã ấy là vô ngã. Đối với các đấng thế vì thì tự thân của Ngài cũng thể hiện tinh thần vô ngã. Tuy nhiên sống trong mặt trạng của nhị nguyên thì đây là quy trình hóa mà con người luôn luôn khát khao tìm cho ra chính mình. Rồi từ ý niệm sai lầm đã xây dựng nên bản ngã và bản ngã nhỏ nhoi ấy đã tự nhốt chúng ta trong khung trời nhỏ hẹp và luôn luôn có sự biến đổi.
Như trong thế giới đã hình thành nên những cuộc chiến tranh tàn sát khốc liệt thì cũng dựng trên nền tảng của bản ngã ấy. Cho nên đối với nhà Phật là rất sợ chấp ngã, mà chúng con thì đang còn loanh quanh trong cái ngã chấp ấy.
Như vậy chúng con phải đi vào hệ thống pháp trí và tư duy bằng các pháp minh triết, đồng thời hành dụng Bát Chánh Đạo; vì Bát Chánh Đạo là ứng dụng cho cả 5 thừa là: Nhân thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ Tát thừa và Như Lai thừa. Nên dù là nhân thừa đi nữa thì Bát Chánh Đạo cũng ứng dụng rất tốt cho đời sống của nhân sinh. Như vậy Bát Chánh Đạo không còn chỗ đối đãi phân biệt ở nhị nguyên. Vì nếu chúng ta trở về tính nhất thừa thì thấy vạn pháp là vô tướng. Tức thấy rằng có tướng là để chuyển động và hóa, thì cuộc sống chúng ta sẽ được an ổn. Một khi mà trở về Bát Chánh Đạo nhất thừa thì hoàn toàn không còn thấy gì cho ta mà chỉ thấy cho tha nhân. Đó là trở về trạng thái của vô ngã để thực hiện sự nghiệp cứu độ chúng sinh. Thì đó mới thực nghĩa của giá trị Bát Chánh Đạo.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, nói về chữ ngã thì nghĩa lý của nó vô cùng rộng lớn. Đối với thượng tầng thì chữ Ngã là một chân lý thực thể tròn đủ tổng tinh hoa của vũ trụ có tính thể hợp chiếu và có tâm vật hội tụ, đó là Đại ngã. Đối với hạ tầng thì Duy ngã khách quan cũng là hợp chiếu tính thể và hội tụ tâm vật, mà biện chứng là con người đã tròn đủ về tác phẩm đó. Nhưng vì lầm lẫn nên đã biến chữ Ngã đó trở thành rất nguy hiểm. Nên đức Phật mới đưa ra Ngũ độn sử là tham, sân, si, mạn, nghi. Tức 5 độc đó đã ăn sâu gốc rễ vào trong tiềm thức chúng ta; thì Ngã mạn là một trong năm phần nguy hiểm đó. Như vậy, Ngã mạn là bắt nguồn từ chấp ngã, như chấp thân của ta, nhà của ta và mọi thứ ta làm ra là của ta. Nhưng thực ra nó không phải của ta mà hoàn toàn ta mượn của trời đất, của Thống hóa, của vũ trụ. Và đến một lúc nào đó, khi con người đã giác ngộ được phần lập thể đó không phải là của ta, thì chúng ta lại tiếp tục dính qua một thứ chấp ngã lớn hơn; Như chấp tri thức ánh sáng là của ta, đó là nguy hiểm nhất, vì sâu thẳm trong tâm hồn lúc nào cũng nghĩ rằng ta hơn tất cả mọi người. Vì thế nó đã trở thành một bức tường chắn nguy hiểm nhất mà không cho ta đến với thực tướng của chính mình. Nên các đức Như Lai đã đến với thế gian trên tinh thần vô ngã và dùng sức mạnh của chân ngã để khai thị và tạo những sức chấn động, nhằm để phá vỡ những rào cản che chắn nguy hiểm nhất mà Duy ngã đại thể khi đạt đến đỉnh cao của hữu học lại thường mắc phải nó. Cụ thể như đức Tổ Đạt Ma Ngài đã khai sáng cho Thần Quang phá vỡ được bức tường che chắn về ngã chấp đó và Thần Quang đã làm được điều đó.
Như vậy, chữ Ngã này là chân lý thực thể, tổng thể vũ trụ quan hằng có và bất diệt. Còn chúng ta đến với thế giới này hoàn toàn chúng ta không có gì hết cả, đó là sự thật. Còn nếu chúng ta chấp có thì nó trở lại thành không vì ta đã đánh mất đi sự thật ấy rồi. Nên tinh thần của đức Phật là vô ngã hóa chân ngã. Vô ngã ở đây không có nghĩa là Ngài phủ nhận tất cả những giá trị sự thực của vật chất, mà vô ngã là đi vào thực thể của sự sống mà không bị dính mắc tất cả những gì trong sự sống đó. Tức biết tất cả là của vũ trụ, của Thống hóa; Và ta có cũng từ nguyên lý ấy sinh ra; Và ta có quyền đi đến với Ngài bằng tinh thần của vô chấp. Có nghĩa là biết rằng cái đó là của Ngài thì chúng ta mới trở về với Ngài. Tức là chúng ta biết tất cả mọi thứ trên đời này nó là phương tiện, là biến đổi, là giả thì nhất định ta ở trong cái thật. Còn nếu chúng ta thấy đó là thật thì chúng ta đã bị chấp Ngã rồi, thì tất nhiên ta đang ở trong cái giả. Nên trong pháp cú Như Lai có nói: “Vui thay chúng ta sống, không gì gọi của ta, ta được hưởng hỉ lạc, như Chư Thiên Quan Âm”. Như vậy, cái tột cùng là phải trở về chỗ đó thì chúng ta mới có Chân ngã và trở về cùng Đại ngã; Tức là hoàn mãn giá trị viên giác của chân tâm.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, chữ Ngã là gốc của Thống hóa thì nhân bản đại thể cũng phải có chữ Ngã. Vậy chữ Ngã là nền tảng và Ngã cũng thể hiện được cái biết và tri thức của tất cả nhân loại. Như có một nhà đạo sư ông không cho rằng chữ Ngã là Ta mà cho rằng chữ ngã là một miền xác định. Như vậy do lầm lẫn mà sinh ra bản ngã và tà ngã. Chứ thật ra bản chất của vũ trụ thì chữ Ngã là cái gốc cho tất cả vạn loại tiến hóa.
Ngài bảo ông Chơn Luân Thương Bang trình bày.
Ông Chơn Luân Thương Bang: Thưa Cha, đối với Thống hóa chữ Ngã là vô cùng vô biên, nhưng khi đi vào thế giới nhị nguyên biểu trưng cho giá trị Thống hóa ấy là Duy ngã vạn pháp, và Duy ngã đại thể là tròn đủ giá trị của cái biết. Nhưng cái biết được cho từ Thống hóa và con người đem cái biết đó vận dụng vào tất cả các lĩnh vực, nhưng khi chưa đạt được nghĩa lý của chữ Ngã thì trở nên chấp ngã, và chính đó mà bị đóng khung không thấy được giá trị chân tâm. Cho nên trong kinh Ngài có dạy: “Ta hãy tìm lại chính ta trong sự biến đổi vô cùng”. Như vậy trong sự biến đổi vô cùng của các hình tướng thân lập thì đó là phương tiện mà ta tìm lại chính ta. Và nếu đem cái biết mà thực hiện trong các pháp chính thống thì giá trị đó là độ dưỡng cho hạt tâm của chính ta đi về với đấng Thống hóa Đại ngã.
Ngài dạy: Có Đại ngã mới hình thành ra Tiểu ngã thì gốc của Tiểu ngã là từ Đại ngã. Như vậy chúng ta từ Đại ngã mà ra thì mục đích cuối cùng của chúng ta là phải trở về Đại ngã. Đó là giá trị toàn thực về bản chất của Đại ngã là hoàn toàn không có tính toán một thứ gì hơn thua riêng cho mình, mà chỉ duy nhất một điều là làm cho tất cả nhân loại cùng cả Tam thiên đại thiên thế giới này được hạnh phúc. Như vậy Vô ngã tức Đại ngã, thế thì chúng ta phải tự vô ngã hóa thì sẽ có được đại ngã kia. Còn nếu ta dính mắc thuộc về của ta thì ta sẽ mất Đại ngã.
Về bản chất của Duy ngã là hóa tinh hoa và hóa thượng, nhưng nếu còn dính cái bản ngã riêng tư ấy thì không thể hóa thượng được. Như vậy Vô ngã tức Niết bàn, Vô ngã tức Chân ngã. Muốn có chân ngã là hoàn toàn không còn kẹt trong bản ngã, trong kiến chấp và kẹt trong ý thức phân biệt thuộc về sở ngã. Tức là chúng ta tự vô ngã về bản thể thì sẽ có được một chân ngã bền vững đời đời trong vũ trụ này và giống đấng Thống hóa.
Còn ta khác đấng Thống hóa là vì ta bị kẹt trong các hệ thống lập hình và kẹt trong Ngũ ấm. Tức là kẹt trong cái có của sở hữu, nên Như Lai nói rằng: Cái sở hữu của ngươi là không thuộc về hệ thống lập hình mà thuộc về hạt tâm lý tính; Nhưng các ngươi lại chạy theo ý thức chấp của ta, chạy theo hoặc lậu và nghiệp dĩ chuyển động trong ba thời chấp của ta, thì hoàn toàn ngươi không bao giờ trở về với Đại ngã và cũng không bao giờ ngươi có chính ngươi trong vũ trụ quan này, vì ngươi đã làm biến đổi giá trị sự thật của chính ngươi.
Như vậy, trở về với đại ngã là trở về với tính toàn giác, toàn chơn, toàn năng; Còn ngược lại thì ta mất tất cả những toàn ấy. Nên khi chúng ta làm cho tất cả mọi người, thì giá trị xác định về tính chất là chúng ta đang làm cho ta. Còn nếu ta làm cho ta thì hoàn toàn không có ta trong đó. Vì vậy mà đức Phật từ vô lượng kiếp trãi qua đã làm cho tất cả nhân loại, đó là biểu trưng cho Vô ngã, nên Ngài mới trở về Đại ngã và thành được 10 hiệu của Như Lai.
Như vậy, mặt bằng của Duy ngã là có chúng ta, nhưng nếu chúng ta không tiếp tục hóa Chân ngã thì chúng ta sẽ mất chúng ta. Dù cho có bác học hoặc các chức danh thuộc học hàm học vị nào đó mà còn ở trong Bản ngã thì cũng không bao giờ có Chân ngã và trở về với Đại ngã được.
Tóm lại, chúng ta xác định chữ Ngã là một thực thể, thì chúng ta phải chuyển chữ Ngã này đi theo một chu trình thượng. Tức là từ Duy ngã ta hóa Chân ngã; Hóa Chân ngã là không còn kẹt trong các sở chấp, sở hữu thuộc về bản ngã, mà hoàn toàn là Vô ngã. Vì Vô ngã là Chân ngã, Vô ngã là Niết bàn và Vô ngã là Đại ngã.
Đối với Đại hùng, Đại lực của đức Phật là không thuộc về bản ngã mà là khống chế các pháp đi ngược lại. Còn Đại từ bi là Ngài có một tấm lòng thương yêu và ban cho không bao giờ chấm dứt.
Định nghĩa Bản ngã: là thu tóm tất cả những thứ vật chất và tri thức về cho mình mà không cho ai. Nhưng khi ai đụng đến những quyền lợi đó thì sân giận nổi lên.
Định nghĩa Chân ngã: là ban cho tất cả mọi người và sẵn lòng can thiệp vào mọi sự bất công đi ngược lại với chân lý, với chánh pháp. Tức là những gì đi ngược lại lợi ích của nhân loại, của vũ trụ Thống hóa thì cũng được quyết định về luật công lý; thì điều đó không thuộc về bản ngã mà thuộc về chân ngã.
Như vậy, tà ngã dành cho những người bản ngã có nhiều sở chấp về ngã và còn kẹt các ngã tướng. Còn chân ngã là dành cho những người không kẹt về ngã, không chấp về ngã và không còn dính mắc các sở ngã.
Về bản chất toàn thực của đấng Thống hóa là Đại ngã thì đối với Duy ngã đại thể phải có trách nhiệm thiêng liêng trở về với Đại ngã. Mà muốn trở về Đại ngã thì đầu tiên chúng ta phải đánh dẹp tất cả những Ngã sở thì mới có được Chân ngã. Như vậy, Bát Chánh Đạo là con đường để hóa những bản ngã sai lầm, xấu ác, bất chính kiến, bất chánh tư duy và chánh tinh tấn. Là con đường đánh loại những bản ngã nguy hiểm nhất có thể làm đau khổ cho Ta và nhân loại.
Thế nên, bản ngã của ông vua thì làm khổ một nước, bản ngã của ông chồng thì làm khổ vợ con, còn bản ngã của những con người có chức có quyền thì sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống chung quanh của những người khác và cuối cùng chính nó sẽ nhận lấy những hậu quả khổ đau nhất là bị mọi người khinh khi và bỏ rơi nó.
Như vậy thì toàn thực về chân lý Thống hóa Đại ngã đã cho chúng ta một chân lý Duy ngã cũng là toàn thực. Nhưng chúng ta muốn có được giá trị toàn thực vĩnh cửu đó thì buộc chúng ta phải hóa Chân ngã. Trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta phải sống và sống mãi đời đời trong vũ trụ là buộc phải hóa Chân ngã. Như vậy hóa Chân ngã là lìa xa tất cả những bản ngã, những tật đố, những tham muốn, những ích kỷ và hoàn toàn sống cho tha nhân. Thế thì sống cho tha nhân thì hoàn toàn sẽ có Chân ngã mà sống cho ta thì hoàn toàn sụp đổ Chân ngã của chính ta.



TÌNH DUY NGÃ
Thực tế trong đời sống thì con người rất có tình. Nên Đức Như Lai đã nói: Nhân loại đã có bản địa về thất tình và lục dục hoặc ngược lại lục dục và thất tình. Như vậy Duy ngã là có gốc rễ của tình, nên mới có lục dục và thất tình cùng nhiều thứ khác. Ta đặt ra nếu Duy ngã không có gốc rễ của tình thì những thứ khác kia cũng lạnh nhạt và không có nghĩa lý gì đối với Duy ngã đại thể, vì thế mà nói rằng: Tình Duy ngã, hay tình của nhân loại.
Về mặt bằng thì chúng ta xác định con người hoàn toàn có tình, đó là bản địa của nhân loại. Và tình ấy có là từ tình yêu vô hạn của chân tính Thống hóa, nên mới có mặt bằng của tình yêu con người.
Hôm nay chúng ta làm rõ về tình duy ngã đối với tình yêu vô hạn là chung một gốc. Nhưng tại sao chung một gốc mà chưa được tốt lành? Ta biết về mặt bằng của Duy ngã là tình nhưng vì nó chưa có hóa nên mặt tình ấy nó còn lỏng lẻo, còn nhiều sóng gió chơi vơi, phân ly tan biến và còn vô thường nhiều thứ trên mặt trạng của tình Duy ngã. Và Duy ngã chơi vơi trong biển khổ của tình yêu.
Chúng ta phải xác định rằng tình Duy ngã là buộc phải hóa, là hóa chân tình chính nghĩa. Như vậy tình Duy ngã hóa chân tình chính nghĩa là nền tất yếu của sự nghiệp hóa, trong hệ thống chuyên môn hóa từ chữ tình đến chân tình chính nghĩa, thì tình ấy sẽ gặp tình vô hạn của đấng Thống hóa.
Như vậy, tình Duy ngã hóa chân tình chính nghĩa là thực tướng của sự nghiệp hóa, thì lục dục và thất tình kia chỉ là phương tiện mà thôi. Hoàn toàn không đánh mất chữ tình trong giá trị chân lý vô hạn, và đồng thời không mất chữ tình trong giới hạn hóa của sự nghiệp bình đẳng và lý trí đối với sức mạnh của chữ tình sẽ là nền tảng của sự nghiệp hóa để đi đến đỉnh vinh quang. Thì tình yêu Duy ngã phải đứng trên chính nghĩa mà hóa chân tình, thì chữ tình ấy là tình của luân lý và tri thức của chữ tình được vững chãi muôn năm.
Bài học này cũng thuộc về chuyên môn hóa, vì nếu chúng ta không hóa được chân tình chính nghĩa ấy thì nghiệp vụ chuyên môn trên trái đất hoàn toàn bị sụp đổ. Bởi con người không có tình thì sẽ đẻ ra sự nghiệp chuyên môn hóa khô cứng và xơ xác trong tri thức, thì tất cả trở thành vật chất vô tri, không còn giá trị trong đời sống của Duy ngã đại thể, và đích thực của Duy ngã đại thể không có đỉnh đến của sự nghiệp chân tình chính nghĩa, để được tồn tại trong tình yêu vô cùng của đấng Thống hóa.
Bèn đấng Thống hóa phán rằng: “Ta cho các ngươi một nguồn tình vô hạn là tình yêu không giới hạn. Tình yêu trong phạm trù từ sức mạnh của vạn năng và vạn tỏa để hóa các ngươi thành những sản phẩm tốt nhất của chân tình và thành lập các ngươi trong chân tình ấy để có chính nghĩa trong Duy ngã con người, thì con người mới đứng vững”.
Như Lai quở trách sự thất tình lục dục, là sự quở trách của mê lầm, chớ Ngài không bao giờ quở trách của chân tình chính nghĩa, mà Ngài lại tán khen chân tình chính nghĩa là nguồn gặt hái của giá trị tu chính đến đỉnh vinh quang của con người và tri thức ánh sáng vô nhiễm, để thể hiện chân tình chính nghĩa trong sự nghiệp đại hóa và đem lại hạnh phúc vô biên của sức mạnh oai âm dương vạn tỏa mà không lây lan những điều vô lý đối với sức mạnh tình yêu của chân lý vô cùng. Để hóa giải tất cả những tập tình mê muội, ngu si và làm phạm đến những luân lý bất tương ưng trong đời sống của chữ tình Duy ngã, để lại mặt trạng của sự thống khổ và đau thương.
Tình có thể là biển khổ, tình có thể là sông mê, tình có thể là những âm trập mù mờ nhất, và tình cũng là ánh sáng của nhật nguyệt, thống nhất giữa âm dương và sáng tỏ về tri thức để tồn tại một chữ tình vĩnh cửu mà không bao giờ biến đổi.
Ngài bảo ông Chơn Luân Quân Tích trình bày.
Ông Chơn Luân Quân Tích: Thưa Ngài, đối với tình Duy ngã là mặt bằng của nhân sinh và nhân sinh thường bị rơi vào mặt trạng của lục dục thất tình nhiều hơn là hóa về chân tình. Như vậy từ mặt bằng này phải hóa chân tình chính nghĩa thì mới trở về được với ánh sáng và có một chữ tình trọn vẹn trong đời sống vũ trụ mà không bị tan biến của chữ tình.
Ngài dạy, minh triết là những tia sáng của hồng quang và thống nhất những giá trị của minh triết đối với đời sống và kết tủa giá trị đời sống trong minh triết ấy. Thì không có một cái gì không phẫu thuật, không giải quyết được về các mã số ẩn số của các hệ thống. Thì đối với minh triết sẽ làm sáng tỏ từ cực vi và các giá trị tình nghiệp của thế gian và tình nghiệp của thế giới Duy ngã.
Bài học này giúp chúng ta thấy được tình Duy ngã có những then chốt cơ bản để đi đến sự nghiệp hóa chuyên môn.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, đối với đấng Thống hóa là luôn luôn có một tình yêu vô cùng vô hạn nên mới hóa sinh tất cả muôn loài vạn vật và tất cả muôn loài vạn vật chúng ta đều có được tình yêu ấy.
Từ những loài hóa sinh, thấp sinh nhỏ nhất cũng đều có tình yêu xuất phát từ trái tim của những hạt tâm, chính từ tình yêu đó mà nó đã được tiến hóa và thăng hoa từ thấp sinh, hóa sinh lên noãn sinh, thai sinh và tiến lên loài người.
Nhưng tại sao loài người chúng ta không thực hiện được những tình yêu cao quý của vô cùng, mà lại còn bị hạn chế trong tình yêu đó? Là bởi khi con người có ý thức thì ý thức đó sinh ra sự phân biệt đối đãi giữa thân và xơ, thương và ghét, nên hận thù cũng từ đó mà có, và nó đã che chắn không cho chúng ta đến với tình yêu của Thống hóa vô cùng. Như vậy chúng ta phải thấy được chỗ này để trở về trong tình yêu chân chính và thực hiện những nghĩa cử của tình yêu chân chính nhất, cao cả nhất. Tức là chúng ta biết yêu thương tất cả mọi người trên tinh thần bình đẳng.
Như tình yêu của đấng Thống hóa là rất bình đẳng và vô cùng, như âm dương phối hợp khắp vạn loại, và như nguyên khí hòa thể khắp thế gian, thì tình yêu Thống hóa cũng như thế. Như vậy chúng ta hãy trở về trong tình yêu ấy để hy sinh tất cả những gì nhỏ nhoi trong đời thường của mình cho nhân loại, dám làm tất cả những nghĩa cử lớn lao. Chẳng hạn như hôm nay chúng ta dám đem cả công sức và tiền của để xây dựng Tổ đình Bia Sơn cho nhân loại ngày mai, thì điều đó cũng thể hiện lên tình yêu vô cùng đó, thì nhất định chúng ta sẽ trở về trong ngôi nhà tình yêu của đấng Thống hóa. Và Ngài sẵn sàng dang đôi tay để che chở và ôm ấp chúng ta trong tình yêu đó.
Ngài dạy, chúng ta định nghĩa theo minh triết thì sức mạnh của chữ tình là phát sinh từ âm dương vạn tỏa. Nếu thực trạng về nguyên lý hóa âm dương vạn tỏa không có thì mặt bằng của chữ tình Duy ngã đại thể cũng không có.
Khi chúng ta xác định được tình của giá trị thiết lập về chữ tình bằng sức mạnh của âm dương vạn tỏa. Và mặt bằng sự hấp dẫn cũng từ oai âm dương vạn tỏa mà ra. Nếu không có âm dương vạn tỏa thì mọi chữ tình của nhiều chiều khác nhau trong hệ lập của Duy ngã đại thể sẽ mất hẳn bán địa của chữ tình.
Vì vậy chúng ta biết rằng âm dương vạn tỏa là sức mạnh của chữ tình thì chúng ta hóa thượng sẽ gặp chân tình chính nghĩa. Còn hóa hạ thì sao? Thì gặp thất tình và lục dục thì lục dục thất tình sẽ trói chúng ta trong tình nghiệp mênh mông bao la và không bao giờ chấm dứt của sự thống khổ. Từ kiếp này đến kiếp khác và không chấm dứt về mọi sự đeo bám của thất tình lục dục, đối với mặt bằng của thế giới Duy ngã một khi chưa hóa được chân tình chính nghĩa trong chân thể, siêu thể chân quang của ánh sáng vô cực.
Nếu ta rút trong tứ chân hành ra thì tình yêu của ánh sáng không biên giới và tình yêu của sức mạnh âm dương phối hóa trong vạn loại là cho đủ theo theo tỉ trọng của sự nghiệp hóa từ cực vi đến cực đại. Như vậy chữ tình luôn luôn chan chứa bao la và rộng mở cũng vô cùng để chúng ta được chuyển động trong tình yêu ấy và thực hiện giá trị hóa, đem cuộc sống của Duy ngã đại thể vào chân tình chính nghĩa, thì chúng ta sẽ gặp chân lý trung tâm.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, về tất cả những nghề nghiệp chuyên môn hóa trên hành tinh thì gốc nó là từ chân tình chính nghĩa, vì nó có chân tình chính nghĩa nên con người mới có niềm đam mê để nghiên cứu và thực hiện tất cả những công trình khoa học để đem lại đời sống tốt hơn cho nhân loại. Vậy trong tất cả những hạt nhân đều có chữ tình gốc từ âm dương vạn tỏa. Như vậy một hạt nhân thì xung quanh đều có electron quay quanh và luôn luôn được gắn kết với nhau và không thể nào mà phá vỡ được nó. Vì nếu phá vỡ được nó là đã làm hủy đi nền tảng của vật chất. Thì đây là thể hiện về tính chân tình ở trong tất cả những hệ hạt đó. Thì đây là biện chứng để thấy được về chân tình chính nghĩa ở trong chuyên môn hóa.
Ngài dạy, đúng rồi! Vì một khi mà ta chưa trở về chỗ chân tình chính nghĩa thì sự nghiệp chuyên môn bị sụp đổ theo thất tình lục dục, vì sự nghiệp chuyên môn đã bị thất tình lục dục nó tiêu hủy mất rồi.
Những người đứng trên đỉnh vinh quang đều thắng phục những thứ tình quỷ mị và đau thương bên người tình phản ứng giá trị hóa trong sự nghiệp biến đổi của chữ tình trung tâm. Đây là bài học minh triết rất hùng hồn mạnh mẽ, rất chân thật và cụ thể hóa trong đời sống của Duy ngã đại thể. Trên trời dưới đất duy ngã là sức mạnh của tình yêu là sự thống nhất của tình yêu đối với vũ trụ
Khi thống nhất với vũ trụ thì con người và con người sẽ gặp nhau không biến đổi của chữ tình chính nghĩa ấy để có thể chuyên môn hóa ở sự nghiệp tầm cao và làm tất cả những tác phẩm đẹp nhất trong giá trị chính nghĩa chân tình chuyên môn hóa.
Hôm nay sự tỏ bày minh triết trong chữ tình chuyên môn hóa, thì mặt bằng của chữ tình mà con người thường nói trên đầu môi mà không làm sáng tỏ được chữ tình, thì chữ tình vẫn là địa ngục mà thôi.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, tình yêu vô hạn là của trung tâm và của oai âm dương vạn tỏa đã ban cho vạn loại. Mà đại diện cho vạn loại cấp cao nhất là nhân bản đại thể, vì chữ tình của nhân bản đại thể là chữ tình trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa vô cùng trong hệ thống Thống hóa.
Nếu nhân bản đại thể mà biết hóa tình yêu chân thật, chính nghĩa đó để làm sức bật và đòn bẩy cho sự tiến hóa, thì chính ngay tình yêu chính nghĩa ấy mà nhân bản đại thể sẽ tiến lên hành tinh cấp cao, hoặc thành tựu quả vị cao nhất. Thì chính ngay tình yêu chính nghĩa này mà tất cả hệ thống chuyên môn sẽ hóa ra an vui và hạnh phúc trong nhân bản đại thể. Còn nếu không biết hóa thì trở thành hóa thất tình và lục dục. Nghĩa là buồn, vui, thương, ghét thái quá sẽ đem đến những nhân quả xấu ác trong hệ thống của thất tình. Và lục dục là những sự ước muốn của 6 căn thái quá mà con người đã gieo biết bao nhiêu nhân quả trong hệ thống hành tinh. Nên đức Như Lai đã đem thất tình lục dục vào trong hệ thống cho nhân bản đại thể biết hiểu rõ mà chuyển hóa nó trở thành tình yêu chính nghĩa. Mà tri kiến là các vị đã thành Thánh nhân, vĩ nhân đã có tình yêu ấy. Như vậy, tình yêu chính nghĩa là biện chứng và bản địa chân thật của nhân bản đại thể trong hệ thống tiến hóa, nếu chúng ta biết chuyển đổi chữ tình ấy trở thành tình yêu chính nghĩa thì chúng ta sẽ thành tựu trong tình yêu và trở về cùng đấng Thống hóa.
Ngài dạy, như vậy cái tuyệt vời của tình yêu về Duy ngã đại thể hóa được chân tình chính nghĩa, thì tình yêu ấy luôn luôn có trách nhiệm giữa vợ và chồng, giữa con và cha mẹ, giữa cha mẹ và ông bà. Tình yêu trách nhiệm giữa con người và con người, giữa họ hàng giòng tộc, nói giống… Như vậy tình yêu chân tình là tình yêu có trách nhiệm, luôn gắn kết với nhau tạo thành một sức mạnh cho nhau giữa vợ chồng, giữa con cái, giữa ông bà, giữa cha mẹ, và truyền nối sự nghiệp của tình yêu ấy theo luân lý, trật tự, ổn định và có tính chất trọn đủ về nguyên tắc của xã hội hóa trong tình yêu ấy. Thì tình yêu ấy trở thành sức mạnh của quốc gia và thế giới.


HẠT TÂM LÝ TÍNH, TÍNH ÁNH SÁNG ĐIỀU NGỰ NÃO BỘ THẦN KINH QUỸ TÍCH HOẠT ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH
Hạt tâm lý tính, tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích hoạt động có mục đích. Nếu ta đảo ngược lại thì thần kinh não bộ quỹ tích tương ứng tính ánh sáng tri thức hạt tâm lý tính chuyển hóa các căn nguyên và các cơ năng.
Đây là một phương trình, một trạm trù ngôn ngữ mang tính kinh điển và rất khoa học của hệ thống cơ cấu tổng thể. Hệ thống này đã làm ra được con người và con người đã trở nên siêu đại nhất. Vì vậy nên chúng ta đời đời sao chép những giá trị tổng hóa của hệ thống Thống Hóa chứ không bao giờ chúng ta có thể tự có mà hình thành được giá trị hệ thống Thống Hóa ấy.
Như vậy, hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích hoạt động có mục đích và não bộ thần kinh quỹ tích tương ứng tính ánh sáng hạt tâm lý tính chuyển hóa các căn nguyên và các cơ năng.
* Cơ năng là toàn thể những năng lượng có tính cơ động.
* Căn nguyên là hệ thống thiết lập có hình tích và chức năng vai trò căn nguyên có tính độc lập trong quá trình hoạt động mang tính duy nhất của hệ thống căn nguyên.
Đây là bài học nhằm thọc thẳng vô nội tạng để quật dậy về tính thể tương tác thập nhị nhân duyên, cũng như tất cả các bài học khác để đưa chúng ta đi vào quỹ đạo nội và thiết lập hệ thống chân tướng, thực tướng.
Hôm nay các học trò phải nói về đề tài này rồi tôi sẽ giảng đầy đủ hơn.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, khi nói tới hạt tâm lý tính, tất nhiên ta liên quan đến trung tâm vạn năng, giữa trung tâm vạn năng và hạt tâm lý tính là không thể tách rời, vì nhân có trung tâm vạn năng là tầng thượng mới hóa hạt tâm lý tính là tầng hạ, tức giao cầu giữa thượng và hạ. Nêu trong thập nhị nhân duyên có siêu hành hóa thức, thì thức là bắt đầu của hạt tâm lý tính.
Nếu không có hạt tâm lý tính thì tất nhiên không có tất cả những hệ thống lập thể mà chúng ta đang có đây. Vậy, hạt tâm lý tính nó đã tròn đủ được hệ thống siêu sắc và sắc. Và trong quy trình chuyển động một cách rất siêu khoa học, có thể nói rằng hạt tâm lý tính là hàm chứa cả một hệ thống Công Luật mang tính khép kín và mở ra từ nhỏ nhất đến lớn nhất cũng xuất phát từ hạt tâm lý tính.
Như vậy, hạt tâm lý tính là chủ thể để điều ngự trung tâm não bộ thần kinh để hoạt động theo một quỹ tích nhất định, mà không thể nào sai khác được. Cho nên về phần lập thể thì trung tâm não bộ mà chúng ta thấy được đó là một hệ quả tất yếu từ hạt tâm lý tính mà có.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, chúng con biết rằng từ trong siêu hành hóa để hóa ra tất cả vô lượng hạt tâm lý tính thì hạt tâm lý tính là mang tính bất biến. Hạt tâm lý tính đã có tròn đủ tổng tinh hoa, tức là giữa tính và thể, siêu sắc thể và sắc thể đã hội tụ tròn đủ trong hạt tâm lý tính ấy và hạt tâm ấy có tính độc lập duy nhất của nó.
Chúng con thấy rằng tất cả vạn pháp luôn luôn chuyển động, nhưng chuyển động theo quỹ tích đó là những quỹ đạo hoạt động kết tinh để tồn tại và phát triển. Thí dụ như: Thái dương hệ thì mặt trời là luôn luôn ở trong chỗ định chiếu và hành tinh phải chuyển động quay quanh mặt trời để được tồn tại. Như vậy, hạt tâm lý tính chính là mặt trời thì tính điều ngự là ở chỗ này. Như vậy, chúng ta muốn làm chủ được tất cả các pháp, muốn điều ngự được tất cả các pháp thì phải trở về chỗ định chiếu. Tức là trở về thực tướng của tâm để đạt được chỗ toàn định thì mới điều ngự được hệ thống thần kinh não bộ quỹ tích, tức là làm chủ vạn pháp, quy tôn vạn pháp và kết tinh tinh hoa chân tâm. Đó là chúng ta phải thực hiện một quy trình công phu theo tất cả những phương thức, những công thức trong phạm trù kinh điển mà các đức Phật đã dạy. Đó là những quỹ đạo mang tính định luật, quy luật và Công Luật tất yếu. Bởi vì chân lý Như Lai không ngoài Công Luật mà có. Như vậy, chúng ta đã đi trên con đường của cửu kinh minh triết Công Luật để trở về thành tựu hạt tâm lý tính, đó là chân tâm của chúng ta.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, thần kinh não bộ là một hệ thống mang tính chất máy móc rất chính xác. Nhưng nó vẫn được cấu tạo bởi vật chất thì nó không thể nào hoạt động có mục đích nếu không có chủ tính. Thí dụ như một chiếc xe, nếu không có người tài xế thì xe không thể chạy có mục đích được. Như vậy, hạt tâm lý tính đã điều ngự thần kinh não bộ quỹ tích hoạt động có mục đích. Và thần kinh não bộ quỹ tích tương ứng với ánh sáng tri thức hạt tâm lý tính. Thí dụ như người tài xế lái một chiếc xe, thì cái xe phải có một cơ cấu theo một quy tắc mà con người đề ra. Tức con người và chiếc xe phải có sự ăn khớp rất logic và mang tính khoa học.
Về hạt tâm lý tính chuyển hóa các căn nguyên, thí dụ như nhìn về sự cấu tạo cơ cấu của một con người thì thấy rằng hạt tâm lý tính ánh sáng tri thức thông qua hệ thần kinh não bộ mang tính máy móc ấy để điều khiển tất cả các cơ quan và hệ cơ quan nên con mắt mới nhìn được, cái miệng mới ăn được, cái lưỡi mới nếm được và cái mũi mới ngữi được, cùng tất cả các cơ quan như hệ hô hấp, hệ bài tiết và hệ tuần hoàn cũng hoạt động được. Vậy thì, ánh sáng tri thức hạt tâm lý tính thông qua não bộ thần kinh để điều khiển tất cả các cơ quan trên cơ thể con người.
Về hạt tâm lý tính chuyển hóa các cơ năng, thí dụ như con người đã biết chuyển hóa từ nhiệt năng qua động năng, đó là chiếc xe. Hoặc con người đã làm ra những máy móc và chuyển hóa từ năng lượng này qua năng lượng khác để phục vụ có mục đích.
Hoặc nói về nguồn năng lượng lớn hơn, ví dụ như hành tinh biết chuyển hóa cái nhiệt năng hồng cầu mình thành động năng để quay quanh mặt trời. Vậy về tính biện chứng thì chân tính vô cực đã chuyển hóa năng lượng này chứ không phải hành tinh tự động chuyển hóa được.
Ngài khen ngợi: Hay lắm! Ngài dạy: Khi nghe đến phương trình này thì bổng nhiên ta khởi thấy nếu có một triết lý nào đó như Duy Vật chẳng hạn thì nó đã làm gãy nhịp tổng thể. Vì vật chất không thể quyết định được ý thức, cũng không quyết định được gì cả. Như vậy thì hiểu biết ấy không thể gọi là bác học, hiểu biết ấy hoàn toàn bị nô dịch ý thức. Tức là vốn có tính ánh sáng mà bị tắt đoạn ánh sáng và giá trị biến động của ánh sáng đối với vật chất quá khủng khiếp thì sẽ dẫn đến một xã hội rối loạn và không thể tồn tại.
Nếu hiểu như bài học hôm nay thì nó đã trở nên tròn đủ một sức mạnh mà không bị hãm khuyết và không bị gãy một nhịp nào cả, thì mới trở thành sự thực của đời sống.
Ngay cả biện chứng pháp về não bộ thần kinh quỹ tích nó có hệ thống và cơ cấu, thì đó là phần lập thể có tính máy móc cơ động. Còn hạt tâm lý tính thì trong đó có siêu sắc thể và sắc thể, trong đó có tổng thể của hạt tâm.
Về não bộ thần kinh là hệ thống lập thể cao nhất, cũng là đại diện cho vật thể, thì giá trị hóa của siêu năng là hạt tâm và nhân hạt tâm lý tính mà não bộ thần kinh được đại diện, được thành lập và được trở thành kho tàng, thành cơ cấu hệ thống và có giá trị hoạt động đích thực của chân lý mà vũ trụ đã hình thành.
Nếu các loại vật chất thì hình thể con người là siêu vật chất, là kho tàng của vật chất, là chủ trị của vật chất và đại diện của hệ thống vật chất khắp cùng vũ trụ. Như vậy, vật chất đã hình thành tròn đủ trong con người chúng ta thì tại sao chúng ta còn đi tìm vật chất. Nếu tìm là tìm về nguồn gốc của tổng hóa, thì vật chất là sự khai thác mặt bằng của thiết lập phương tiện, là thuộc về đơn vị và thuộc về phân tử. Vậy, vật chất không phải là hệ thống chủ thể của giá trị hóa mà chủ thể giá trị hóa là hạt tâm.
Như trong đời sống này, không ai dám tách rời tri thức, biện chứng pháp về giá trị hóa mà có được một giá trị sống đích thực. Vì không ai dám phủ nhận cái biết của mình để có được mục đích tốt, có được một công việc làm tốt, hoặc có một đời sống tốt và có được giá trị sự sống thật sự của con người, điều này tuyệt đối là không.
Như vậy, tất cả các thánh hiền đều quay về hạt tâm lý tính, là quay về chân tâm để điều ngự được vạn pháp, chứ không bao giờ bỏ gốc điều ngự chân tâm để đi theo cái không điều ngự. Như vậy, rõ ràng Như Lai nói về chân tâm và Như Lai nói về hạt tâm lý tính; Như Lai nói về hệ thống tổng thể và Như Lai nói về tụ, là Như Lai không cho sự phân tán của tụ, gọi là trung tụ tâm thể.
Như Lai nói về tụ vì con người quá nhiều sự phân tán mà không quay về với chính nó được, nên dẫn đến mọi sự hoang hóa trong đời sống ấy mà bị áp lực mạnh, áp lực nặng và làm phân tán tính tương ưng của giá trị sống về tính ánh sáng và hệ thống cơ cấu bị nghịch biến trở thành điên đảo. Đó là kết quả của những sự phóng túng lêu lỏng, rượu chè, ăn chơi trác tán mà bỏ quên thực thể của chính nó.
Chúng ta phải biết rằng, hạt tâm lý tính phải bị những áp lực của thần kinh não bộ và áp lực của quỹ tích đối với cái động của những mục đích không có giá trị về lợi ích. Chỉ có những loại ngu xuẩn và khờ khạo kia mới tự đánh mất những giá trị chân lý vĩnh hằng của chính nó đã có trong nó.
Hôm nay chúng ta là những con người đi sửa chữa tất cả những thứ bị hư nát thì chính chúng ta phải thông hết tất cả vạn lý và thông hết tất cả vạn pháp. Chúng ta có thông được như vậy thì vạn sự cũng sẽ nhân theo đó mà thực hiện, thì tất cả những công trình sẽ được đôm hoa kết trái.
Dù cho sinh diệt tương tục vô tận thì tính ánh sáng tự chiếu vô biên của hạt tâm lý tính cũng chưa bao giờ bỏ mình. Nhưng chính mình đã làm phân tán giá trị thực của chính mình và có thể bị đào thải đến một mức độ ghê gớm là rớt xuống địa ngục. Địa ngục có thể có trong ta hằng ngày mà ta lại tưởng rằng ta ở trong bình an và hạnh phúc. Ta bị đảo lộn bởi những sóng thức đó trong cuộc sống mà ta không hay biết.
Vì vậy mà hệ thống cơ động của Công Luật là luôn luôn đứng trong trung tụ bảo hòa và giá trị của dung thông tánh tướng là luôn luôn tạo những lực hỗ trợ tương ứng và sức mạnh của sự phát triển đi lên.
Hạt tâm lý tính như có thể nói là mặt trời và hành tinh vẫn có hạt tâm lý tính của hồng cầu và vô lượng tụ quang ánh sáng không biến đổi của chân tính và quỹ đạo, quỹ tích chuyển động theo qui luật và định luật.
Khi đã là quỹ tích, là quỹ tích của tính ánh sáng và ánh sáng chủ thể níu giữ giá trị quỹ tích và không cho phân tán quỹ tích. Vì vậy, quỹ tích được ổn định trong giá trị hóa.
Điều ngự hệ thống thần kinh, nếu tất cả những kinh mạch, vi thể của kinh mạch không có tính năng lượng ánh sáng về giá trị hóa đối với hạt tâm thì tất cả những vi mạch ấy không còn tác dụng về giá trị hóa và không thành lập được mục đích của giá trị hóa.
Đứng trên giá trị thượng tầng, hạ tầng và trung tầng thì hạt tâm lý tính vẫn là chủ thể của sự nghiệp chuyển hóa các căn nguyên và các căn nguyên được phụng sự và hình thành giá trị trên tính chất của hạt tâm và hạt tâm ổn định trên hệ thống phân nguyên và hệ thống căn nguyên. Vậy các căn nguyên không đi lạc, không sai biệt và phụng sự một cách trật tự và ổn định hệ thống cơ cấu của tính duy nhất là nhờ hạt tâm lý tính.
Thể chất và chất liệu của tổng thể hành tinh là tính và thể hợp nhất, tâm và vật hội tụ luôn luôn làm chỗ trung chuyển một cách nhịp nhàng cho đời sống hoạt động của não bộ trong quỹ tích và tương ứng với hạt tâm lý tính và không cho hạt tâm lý tính và não bộ tách rời nhau.
Chính vì không tách rời nhau ấy mà sự hoạt động có mục đích luôn luôn được xác định là tri thức và não bộ, não bộ và tri thức. Đây là một cặp nhưng tuy hai là một, tuy một là hai đã được thống nhất trên trung đạo bão hòa và thành lập được trung tụ tâm và thể.
Thống nhất được tâm và thể, thống nhất được siêu sắc thể và sắc thể, thống nhất được hạt tâm lý tính và cơ cấu hệ thống. Cơ cấu hệ thống và hạt tâm lý tính đã được tròn đủ trong sự thống nhất ấy. Vì vậy mà con người mới có cái hướng để trở về, mới có cái đích thực trong cuộc sống và đi đến chỗ tột cùng của nơi mà sinh hạt tâm lý tính chúng ta ra.
Nơi ấy có tính tuyệt đối ổn định về giá trị của hạt tâm lý tính mà Như Lai thường nói là “Chân tâm trung tâm linh quang” hoặc là “Chân tâm trung tâm vạn pháp” hoặc là “Chân tâm vạn pháp thể” còn gọi là chân tâm của chúng ta.
Về khách quan hoặc chủ quan đều không loại trừ trung tâm vạn pháp, vì trung tâm vạn pháp vừa là tính chủ quan, vừa là tính khách quan. Vì nó là tính ánh sáng tri thức, là sự hiểu biết, là chủ thể của mọi sự vận hội cơ động, điều hợp và làm chủ được tất cả mọi căn nguyên và cơ năng đồng thời huy động cơ năng và căn nguyên để phát triển và chuyển hóa trong sự ly tâm xuất nhập hóa của giá trị tính và thể, tâm và vật làm cho kinh tâm vật hội tụ được hoàn mãn giá trị tác phẩm.
Hôm nay chúng ta đã khai thác sâu về hạt tâm lý tính, tính ánh sáng của tri thức điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích. Như vậy, tính ánh sáng và trung tâm thần kinh não bộ đã có sự thống nhất và thiết lập của tính và thể thì nó đã hội tụ rồi. Chính nó hội tụ nên đã hoàn chỉnh một tác phẩm.
Chúng ta thấy về thượng tầng, siêu sắc thể và sắc thể hội tụ, hạt tâm lý tính cũng là hội tụ. Về hạ tầng, ánh sáng tri thức và hạt tâm lý tính được hội tụ, ánh sáng tri thức và não bộ thần kinh được hội tụ, não bộ thần kinh và hệ thống thống nhất của các cơ năng được hội tụ và thành lập mục đích của sự chuyển động quỹ đạo. Như vậy, quỹ đạo chuyển động đều có mục đích.
Như vậy, về phép biện chứng trung tâm, thì hạt tâm lý tính đại diện cho trung tâm vạn năng; tính ánh sáng tri thức đại diện cho tất cả mọi quần thể ánh sáng, chủ thể ánh sáng và điều ngự vạn pháp. Vạn pháp thừa sai của chủ thể ánh sáng, thống nhất về tác phẩm và hình thành duy ngã đại thể mà hoàn toàn không sai biệt.
Về phép đại diện biện chứng hạt tâm. Thí dụ như: Hồ Cẩm Đào là đại diện hạt tâm cho đất nước Trung Quốc; như Nông Đức Mạnh là đại diện hạt tâm cho đất nước Việt Nam; như Obama là đại diện hạt tâm cho đất nước Mỹ. Về con người thì sự hiểu biết là đại diện cho hạt tâm. Như vậy, chúng ta liên kết về giá trị đại diện của hệ thống cơ cấu về hạt tâm lý tính đối với hệ thống lập thể, thì các phép biện chứng được trình bày sâu sắc ở hệ thống kinh này và hoàn toàn kinh này là kinh chân thật của vũ trụ.
Đại hội Di Lặc là Thiền định tự lực hữu chiếu Hồng quang. Còn Đại Hội Thích Ca Mâu Ni là Thiền Định tự lực bất chiếu Hồng quang. Tại sao vậy?
Như Mẹ đã dùng cụm từ là Đại Hồng Ân và phán quyết về sự ban cho hồng quang có tính lớn rộng, là vì ở một chu trình hạ với một lực đổ xuống rất khủng khiếp, mà lực trườn lên chống đỡ thì quá yếu ớt.
Với lực đổ hôm nay con người muốn quay về để ngộ nhập kiến tính và nhận chân hạt tâm là vô cùng khó. Mà chỉ thấy những màu sắc hoa đốm của thành phố, xe cộ, cầu cống, vi tính điện tử v.v… và chỉ thấy ăn uống vui chơi, hưởng thụ cho nhiều, chứ không bao giờ trở về hạt tâm được. Như hiện nay con người ta có tu mà không có sửa. Chúng ta phải biết rằng: Nếu con người thật sự có tu và sửa, khi sửa được một thì hưởng được một; sửa được hai thì hưởng được hai; mà sửa được toàn diện thì cũng hưởng được toàn diện. Còn nếu như không sửa được một thứ gì, thì cũng không có được một thứ gì.
Như nói về hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự được não bộ thần kinh quỹ tích, nghĩa là hạt tâm lý tính phải giác ngộ mà trở về với chân thật thì điều ngự được thần kinh não bộ đi theo quỹ đạo một cách chân chính. Còn nếu chưa giác ngộ được thì nó điều ngự thần kinh đi theo mục đích là thỏa mãn hưởng thụ và chạy lòng vòng, là biến thần kinh não bộ quỹ tích phục vụ cho những điều sai lệnh không có tính cứu cánh.
Giá trị chân thật của hạt tâm lý tính đối với não bộ thần kinh quỹ tích, nó đã trở thành những giá trị cao nhất của biện chứng pháp và siêu chứng pháp. Và giá trị cao nhất của sự thực đối với thực tướng chính pháp. Vì nó đã phơi bày được những nghĩa lý về giá trị hóa và mục đích tiến hóa của nó.
Khi chúng ta đã nhập được hạt tâm lý tính tính ánh sáng và đã thấy được cơ cấu hệ thống của não bộ thần kinh đối với hạt tâm lý tính tính ánh sáng; cùng thấy tất cả những căn nguyên và cơ năng đã hoàn bị chung trong quỹ đạo của quỹ tích tính ánh sáng. Thì tính ánh sáng sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta
Thí dụ như: mặt trời không bỏ rơi hành tinh thì hành tinh mới tồn tại trong thái dương hệ đó. Hoặc hồng cầu là đại diện cho hạt tâm lý tính thì nó cũng không thể thoát khỏi tất cả những hệ thống của hành tinh để nó tồn tại trong quỹ tích ấy.
Như vậy, hạt tâm lý tính nếu chúng ta nâng lên cao nhất, thì giá trị của nó trở thành quỹ đạo tổng thể. Ví dụ: Nếu hạt tâm lý tính của tính ánh sáng vô biên thì ta bắt gặp trung tâm vạn năng. Và thể lập quỹ tích của hệ thống tam thiên thì ta bắt gặp được cơ cấu não bộ thần kinh vĩ đại nhất, mà vũ trụ đã hằng hữu đời đời và mãi mãi trong đời sống của thế gian và của xuất thế gian. Của hệ thống lập thể tam thiên và hệ thống siêu thể tam thiên. Để thực hiện những công trình hội tụ lớn nhất trong vũ trụ quan, thế giới quan và nhân sinh quan.

HẠT TÂM LÝ TÍNH ĐỊNH CHIẾU QUANG MINH ĐIỀU NGỰ NÃO BỘ THẦN KINH PHÁT MINH NHỮNG CÔNG TRÌNH CAO CẤP
Tính ánh sáng là tính khách quan, là chân lý của vạn năng, là chân lý của thống thức, tổng thức và của tính ánh sáng không biên giới. Vũ trụ có như vậy và chúng ta có như vậy nên hôm nay chúng ta học bài 2 của hạt tâm lý tính là: Hạt tâm lý tính định chiếu quang minh điều ngự não bộ thần kinh phát minh những công trình cao cấp.
Nghĩa chữ hạt ở đây là hạt năng, là tích tụ hóa tinh hoa tổng thể. Đứng trên ngôn ngữ minh triết thì gọi là hạt tâm. Như vậy trong quá trình duy ngã đại thể tiến hóa lên cấp độ tứ quả thánh thì vẫn còn liên kết với não bộ thần kinh để phát minh ra những công trình cao cấp hoặc siêu cấp. Đối với những công trình siêu cấp thì gốc của nó là hạt tâm. Vậy hạt tâm là gốc của mọi sự phát minh nhưng nếu không có não bộ thần kinh của tính biện chứng thì sẽ không thấy được tâm vật hội tụ. Nên đề kinh hạt tâm lý tính định chiếu quang minh thì chữ quang minh là thuộc về lý tính, tính ánh sáng định chiếu của hạt tâm chứ không thuộc về vật chất. Còn vật chất là phương tiện của định chiếu, là sự thống nhất của tính và thể, tâm và vật để làm lên tác phẩm. Như vậy hạt tâm lý tính định chiếu quang minh điều ngự não bộ thần kinh phát minh những công trình siêu cấp.
Nếu nói phát minh mà thuộc về não bộ thì chưa làm rõ được về minh triết và chưa làm rõ được về thực tướng của công luật vũ trụ. Nên mới nói rằng hạt tâm lý tính định chiếu quang minh, vì những công trình nào mà chưa đạt được về định chiếu quang minh thì cấp độ công trình ấy còn thấp. Như bài 1 là hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh hoạt động có mục đích; thì bài này còn ở cấp độ thấp vì chưa có định chiếu quang minh, nên không thể phát minh được những công trình cao cấp mà chỉ làm được những việc thông thường. Còn bài 2 là dành cho bác học hoặc các bậc từ tứ quả thánh trở lên. Như vậy, định chiếu quang minh điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích phát minh những công trình siêu cấp. Nghĩa của siêu cấp ở đây là chỉ cho tính vĩ mô và kiệt xuất. Bây giờ chúng ta sẽ nghị luận bài này.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, hạt tâm lý tính định chiếu quang minh điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích để phát minh những công trình siêu cấp, thì bài này là nói cho tính chất kết tinh của hạt tâm đã trở về chỗ hội tụ tâm vật. Thì đây là đầu đời đi vào thực tướng chân tướng của tính vạn năng. Bởi vì tất cả những công trình cao cấp về khoa học thực nghiệm thì đỉnh cao cuối cùng của nó là trở về với vạn năng. Như vậy nếu đem so sánh với bài 1 là hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích hoạt động có mục đích, thì điều này vẫn còn bị rơi vào chỗ đúng và sai. Vì tính ánh sáng của hạt tâm là thuộc về khách quan, còn phần chủ quan là thuộc về mục đích, nhưng nếu mục đích ấy không được rõ ràng thì có thể rơi vào chỗ hướng hạ. Như vậy còn tối và sáng hoặc thiện và ác trong đó. Còn bài 2 là đã qua quá trình thời gian công phu tôi luyện của vô lượng kiếp kết tinh về hạt tâm lý tính đã đến độ già và đạt đến chỗ định chiếu quang minh. Thì nghĩa của định chiếu quang minh là không còn độ lệch và không còn cái ác, mà chuyên môn ấy đã đạt được đỉnh cao của tri thức.
Ngài dạy, như vậy các con hãy nghiệm xem mình có đạt được điều đó chưa? Thí dụ như Chơn Đạt Pháp Trí từ một người thợ bình thường không học ai hết mà đã làm được những công trình như cá, chim, rồng, phụng… hoặc một số người con khác cũng thế; thì các con hãy nghiệm xem mình có đạt được bài 2 chưa?
Ngài bảo ông Chơn Luân Thương Bang trình bày.
Ông Chơn Luân Thương Bang: Thưa Ngài, 2 bài này có sự giống nhau là hạt tâm lý tính không tách rời chân tính ánh sáng để mà tồn tại. Nhưng bài 1 là nói về tính chất của sự chuyển động, nhưng thường thì mục đích đi theo bá nghiệp nhiều hơn. Còn bài 2 là đã thống nhất được bá nghiệp để đi vào chánh nghiệp và chánh định để phát minh ra tất cả những công trình cao cấp hơn. Như vậy giá trị của bài 2 là dành cho duy ngã đại thể đã tiến hóa ở cấp cao, đó là các bác học, bác tinh vương. Như vậy bài 2 là đã đi vào đầu đời của sự kết tinh.
Ngài bảo ông Chơn Hoàng Quang Quân trình bày.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, theo con hiểu bài 1 là nền tảng mang tính khách quan để có thể phát triển về hạt tâm lý tính đạt đến giá trị thành phẩm mang tính chủ quan về sự công luyện ở hằng vô lượng kiếp mới đạt được định chiếu quang minh này. Ví dụ như ông Newton đang ngồi thì quả táo rơi trúng đầu ông, thì chính ông đã có định chiếu quang minh mới tìm ra được gia tốc từ trường và lực hấp dẫn của trái đất. Như vậy bài 2 này là thuộc về tri thức kinh điển mà đối với các bậc thánh nhân, vĩ nhân thực hiện công án thì mới có được.
Nói về giá trị hạt nhân, hạt năng thì bài 2 là hạt tâm lý tính định chiếu quang minh, thì đây là một trong những thành phẩm xạ chiếu của bài 1, của sự công luyện. Như vậy Thống hóa vạn năng đã cho chúng ta đủ một hạt nhân và hạt năng đầy đủ, tròn đủ tất cả những tinh hoa. Và theo tính khách quan thì cũng cho chúng ta sự công luyện phát triển để đi đến bài 2.
Ngài dạy, bài 1 là chúng ta thừa nhận vạn năng thì cũng đồng nghĩa với thừa nhận hạt tâm lý tính. Thì hạt tâm lý tính là cái biết, là chủ thể, còn não bộ thần kinh chỉ là cơ cấu máy móc.
Chúng ta thấy từ hạt thượng tầng đến hạt hạ tầng đã có mặt trong đời sống của vũ trụ quan, thì chúng ta phải thừa nhận nó. Thí dụ như hạt xoài, hạt ổi, hạt me và tất cả các loại hạt từ nhỏ nhất cho đến lớn nhất đều là hạt tâm cả. Như vậy, chúng ta đã có hạt tâm lý tính thì chúng ta phải huân năng, huân tập và trải qua a tăng kỳ thì mới kết tinh được sâu dày và rộng lớn. Nên Đức phật nói về tăng già là nhằm nói về mục đích của hạt tâm đã tăng trưởng và già chín chứ hoàn toàn không nói về lập thể. Như vậy tuổi tác của phần lập thể là thuộc về cái vỏ, còn tuổi tác của phần hạt tâm lý tính mới là thuộc về cốt lõi.
Đối với bài 1 hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích hoạt động có mục đích, thì đây là cuộc sống thông thường của hạt tâm trên mặt bằng duy ngã đại thể. Còn bài 2 là hạt tâm lý tính định chiếu quang minh là quyết định được những công trình kỳ quan và những công trình cao cấp nhất.
Một khi hạt tâm lý tính đạt được định chiếu quang minh thì hệ thống về thể lập của não bộ thần kinh cũng có những tầng độ ánh sáng lớn hơn; vì một khi phần tính của hạt tâm tăng thì phần thể trọng giá trị quỹ tích cũng được tăng.
Như vậy, xét về sự nghiệp chuyên môn hóa thì chúng ta quay trở về với hạt tâm lý tính định chiếu quang minh đó là mối chốt của sự nghiệp hóa, còn các thể lập thì Thống hóa đã cho đủ tất cả rồi thì chúng ta không phải đi tìm kiếm gì nữa cả, mà chúng ta chỉ quay về huân năng, huân tập về hạt tâm lý tính để đạt được định chiếu quang minh, thì đó mới là mối chốt của sự nghiệp hóa.
Đối với vật chất chỉ là mặt bằng của tổng thể tinh hoa để cho hạt tâm hóa, nên đỉnh cao của duy ngã đại thể phải là định chiếu quang minh hạt tâm lý tính hóa.
Ông Chơn Quốc Chính Thống xin phát biểu. Thưa Cha, như trước đây con người chưa có hệ thống minh triết một cách vững chắc, nên cho rằng có thiên tài hay có những đấng thần linh nào đó hóa hiện đến thế gian, thì bài học này đã giải mã cho chúng con thấy đó là một quy trình hóa rất rõ ràng.
Ngài dạy, đó là giá trị huân tập, năng động về hạt tâm lý tính ấy. Để tăng trưởng giá trị huân năng và thành lập hạt nhân lý tính. Để hạt tâm lý tính được hóa hạt trong giá trị của vũ trụ quan và nhân sinh quan theo thời gian và không gian của a tăng kỳ. Thế thì chúng ta không còn tin vào thiên tài tự có, hay thần linh tự có; hoặc là ai đó cho nữa. Nếu còn tin như thế là bẻ gãy hệ thống cửu kinh. Chúng ta phải thấy bản vị cửu kinh là một nền tảng rất khoa học thuộc về giá trị minh triết ánh sáng của thực tướng, để bày tỏ và giải phóng tất cả những ý niệm phân biệt đối với những thứ không thuộc về minh triết. Thì tất cả những nhà khoa học trong tương lai mới có thể ngồi lại với nhau để phẫu thuật hệ thống cửu kinh minh triết ấy và đem hệ thống cửu kinh minh triết để thực hiện những công trình đại hóa cho nhân loại trên khắp hành tinh này.
Thì đối với chúng ta là người công luật phải thấy như thế nào để có tính khách quan về tính trọng giá trị của minh triết. Vừa có tính chủ quan là thấy được những thứ được cho và cho một cách tròn đủ để phát huy tính tròn đủ đó.
Ông Chơn Quốc Chính Thống nói tiếp: Thưa cha, như vậy vũ trụ là vạn năng thì duy ngã đa năng phải trở về với vạn năng ấy, vì nếu không có vạn năng thì tất nhiên sẽ không có đa năng, nên gốc của đa năng đó là vạn năng tự tính.
Như vậy điểm then chốt đó là định chiếu quang minh là trở về trạng thái của vô lệch, thì chỉ có cửu kinh minh triết là hệ thống chuyên môn hóa để đưa nhân loại đến đỉnh cao của tâm vật hội tụ.
Ngài dạy, hạt tâm lý tính mà định chiếu quang minh là sẽ giải phóng được những u khuất và mọi sự ràng buộc của âm trập và sâu thẳm tối đen cũng được giải phóng. Sự mắc kẹt của các nhân duyên giữa người và người, giữa cha và con, giữa anh và em, giữa vợ và chồng; và sự u khuất giữa ngũ ấm và trung ấm cũng được giải phóng ở định chiếu quang minh của hạt tâm lý tính.
Tóm lại, hạt tâm lý tính tính ánh sáng điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích, thì đó là mặt bằng để ta xác định về tính ánh sáng hạt tâm. Nhưng khi có mặt bằng rồi thì chúng ta bắt đầu sự huân năng, huân tập và công luyện lớn hơn, để đạt được định chiếu quang minh này và khi đã đạt được định chiếu quang minh thì không còn ngại với những công trình cao cấp hoặc siêu cấp.
Như vậy, xác định về mặt bằng của giá trị hóa là có đầy đủ về hạt tâm lý tính não bộ thần kinh và hệ thống lập thể từ trong ra ngoài, từ trên cao cho đến tận cùng dưới thấp. Tất cả những không gian rộng được mở ra và cũng không thu hẹp đối với sự nghiệp hóa và thành lập giá trị hạt tâm lý tính trong hệ thống lập thể để thực hiện những công trình đại hóa mà không hề ngăn ngại.
Khi chúng ta đạt được định chiếu quang minh ở mức độ càng cao thì sẽ làm được những công trình siêu cấp. Như vậy 2 bài này nó đã xây dựng cho chúng ta về tính cơ bản và đồng thời đi đến cao cấp, thì đây là nguyên tắc rồi. Vì nếu chúng ta học bài 1 mà không có bài 2 để làm sáng tỏ cho bài 1, thì bài 1 trở thành đứng yên tại cấp đó. Cho nên phần 1 là chúng ta xác định về tính cơ bản, thì tiếp tục phát triển phần 2 là định chiếu quang minh điều ngự não bộ thần kinh quỹ tích để phát minh những công trình cao cấp. thì 2 bài này là sự huân năng của giá trị hóa đối với tính chuyên môn của cửu kinh minh triết và đồng thời xác định về định chiếu quang minh của hạt tâm lý tính hoàn toàn có thực trong đời sống của duy ngã đại thể.
Như vậy bài này đã được giải mã về giá trị của mặt bằng duy ngã đại thể đã hóa hạt và đại hạt nhân trong sự nghiệp hóa thành tựu hạt tâm lý tính đối với định chiếu quang minh trong công trình cao cấp đi đến kỳ quan.

HẠT TÂM LÝ TÍNH – ĐỊNH CHIẾU QUANG MINH, CHỨNG ĐẮC VÔ SINH – PHÁP THÂN THỰC TƯỚNG, HỘI NHẬP KINH THƯỢNG – TRUNG TÂM VẠN NĂNG, THOÁT LY NÃO BỘ – PHÁP TÍNH VĨNH HẰNG
Bài này là hạt tâm lý tính đã đạt đến đỉnh tột cùng về giá trị tổng hóa của vũ trụ quan và trung tâm vạn năng, tức là phật quang thường chiếu.
Hạt tâm lý tính là đồng nhất trong giá trị hóa của hạt tâm, là tính tối đại bình đẳng và sự thống nhất của hạt tâm giữa thế giới Duy ngã và đại ngã. Nhưng về kinh bản giá trị hóa trong sự nghiệp thăng hoa thì ba bài hạt tâm lý tính này là nói về các cấp độ tiến hóa và thành đạt. Đồng thời ba bài học này để đưa chúng ta đi vào chuyên môn hóa rất dễ dàng. Như bài 2 là đóng vai trò cấu trúc và hỗ tương cho việc kiến tạo quốc độ. Còn bài 3 là thực hiện được những công trình quốc độ thì đây thuộc về phật quang.
Bài 3 là xác định định chiếu quang minh, chứng đắc vô sinh pháp thân thực tướng, hội nhập kinh thượng trung tâm vạn năng, thoát ly não bộ, pháp tính vĩnh hằng. Chúng ta thấy bài 2 vẫn còn bị kẹt ở não bộ, vậy não bộ vẫn là một hệ thống lập thể được thiết lập để chuẩn bị vượt trên não bộ và thành tựu tổng thể trung tâm vạn năng. Tức là phật quang bất ly trung tâm, thì bài này có liên quan đến bài trung tâm vạn năng chiếu phật quang mà chúng ta đã học ở phần đại cương.
Bản chất hạt tâm lý tính là bản hạt của giá trị hóa, là tuyệt đối tối đại bình đẳng của vũ trụ quan và nhân sinh quan trong mặt bằng của sự nghiệp hóa, đối với hóa hạt. Như vậy tính bình đẳng của chúng sinh và Phật là hạt. Nhưng khác ở chỗ là sen đã ra khỏi bùn và sen còn ở trong bùn. Như vậy hạt tâm lý tính là mở đầu cho một công trình bình đẳng của giá trị hạt và thành lập hạt hóa để đi đến giá trị thành phẩm của pháp tính và thành phẩm của pháp thân thực tướng.
Pháp thân thực tướng ví như đóa sen ra khỏi bùn là tổng hóa của giá trị pháp hoa. Nên Như Lai đưa một cành hoa để biểu tượng cho giá trị của tổng hóa pháp hoa và hoa nghiêm, thì Đức Ca Diếp liền biết rằng tất cả vũ trụ là tinh hoa và đã kết tinh được tinh hoa và hình thành các loại hoa, thì không có một loại hoa nào mà không quý trên trái đất này và vũ trụ này.
Như vậy, Như Lai đưa cành hoa là vượt trên ngôn ngữ để giải quyết vấn đề thuộc về hoa nghiêm. Đó sự biểu trưng xuất sắc nhất của giá trị hóa đối với tinh hoa. Và đổm kết tinh hoa hóa, là tinh hoa kim cương ròng tính của giá trị hóa đối với trung tâm vạn năng. Như vậy, trung tâm vạn năng bèn cho tất cả những giá trị tinh hoa để làm sản phẩm quý nhất của vũ trụ. Thì Như Lai đã đạt đến tột đỉnh của giá trị kết tinh tinh hoa cao nhất của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Phần nghị luận:
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, qua ba bài hạt tâm lý tính chúng con đã thấy được quy trình độ của Thống hóa rất rõ ràng, và tính tối đại bình đẳng là nằm ở hạt tâm lý tính.
Ngài dạy, tối đại bình đẳng là nằm ở hạt tâm lý tính và Như Lai, chúng sinh, cùng tất cả những quả thánh trong 13 từng đó đều nằm trong tính tối đại bình đẳng của hạt tâm lý tính tính ánh sáng vô biên.
Những bài học này nếu chúng con không nắm được thì nhất định sẽ đi lạc làm phân giải ý thức. Và ý thức sẽ nhô lên những điều không thuộc về tinh hoa. Rồi lấy tinh hoa chống tinh hoa, lấy tinh hoa khắc tinh hoa và cuối cùng pha lộn trong hệ thống tinh hoa ấy thì chúng con sẽ đánh mất sự nghiệp hóa.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, như vậy qua đề kinh này thì nhân loại phải khuất phục trước ánh sáng của đức Từ phụ Thích Ca đã nói trước đây là: “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành”. Bởi vì nhân loại chưa đi trở về hệ thống đỉnh cao của Cửu kinh minh triết mà đặc biệt là bài 3 của hạt tâm lý tính.
Ngài dạy, chúng ta thừa nhận là không có một tôn giáo nào lập lại trên đời này mà qua đức Thích Ca Mâu Ni. Và tuyệt nhiên trong sự nghiệp của các tổ, các hệ thống tôn giáo về đàng sau và mãi mãi muôn đời sau cũng không thể đánh sập giá trị thống nhất của đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni. Và gần như Ngài là biểu thị cho sự thống nhất độc Tôn Duy Ngã trong hệ thống Duy Ngã Vạn Pháp Kinh.
Bây giờ trở nên Ngài là vinh tôn của giá trị độc Tôn. Vì bản chất và giá trị của đức Thích Ca Mâu Ni đã đại diện được tính độc tôn của Duy ngã vạn pháp kinh. Nếu mãi hằng triệu năm sau này có các Phật ra đời như Đức Di Lặc Tôn Phật hoặc các Đức Phật khác thì đối với duy nhất độc Tôn của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh đối với đức Thích Ca Mâu Ni đã đản sinh tại núi Linh Thứu thì hoàn toàn bất diệt.
Ông Chơn Quốc Chính Thống nói tiếp: Hôm nay trong hệ thống sư phạm của Cửu kinh minh triết đã chỉ cho chúng con thấy được tính bình đẳng đó từ hạt tâm lý tính. Nhân bài này đã giải mã được những bí lối của nhân sinh để đi về với mục đích. Nên trở về với bài 3 là chúng ta toàn chiếu và toàn diệu không còn phân biệt giữa tính và thể nữa mà hoàn toàn viên dung trong sự nghiệp đỉnh cao của vũ trụ.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, về bài 3 của hạt tâm lý tính là sự thành tựu viên dung tột cùng của hạt tâm lý tính đã đến lõi của kim cương bất sinh, bất diệt trong hệ thống của vũ trụ.
Ngài dạy: Vì đã chứng đắc vô sinh, pháp thân thực tướng, thì không còn sinh diệt nữa. Và hội nhập kinh thượng trung tâm vạn năng thì pháp thân đã thống nhất cùng trung tâm vạn năng rồi. Như vậy là thoát ly não bộ pháp tính vĩnh hằng.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển nói tiếp: Khi mà thể nhập kinh 3 thì các con đã thấy được giá trị quan trọng trong sự tiến hóa của tính bình đẳng về hạt tâm lý tính từ bài 1, bài 2 và bài 3. Thì đây là giá trị thành tựu tột cùng của vô quái ngại đối với các bậc đã chứng đắc hạt tâm lý tính đến đỉnh tột cùng của lõi kim cương chân tâm.
Như vậy, qua đại thừa kinh của đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni. Thì chúng con nhìn qua pháp hoa, hoa nghiêm, kim cương và nhìn lại Cha thuyết đề kinh này thì thấy không hai. Chính chỗ không hai đó mà toàn thể nhân loại mới thấy được giá trị tột cùng của vũ trụ và đỉnh cao nhất của Duy ngã đại thể thành tựu quả vị Phật và hóa thân khắp cùng để cứu độ chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. Cũng như Cha đã ứng hóa đến hôm nay và chúng con đã được nghe đại tạng kinh này là một sự quí báu vô cùng đối với sự nghiệp tiến hóa của chúng con cùng nhân loại trên thế giới này.
Ngài dạy, như vậy sự hân hoan vui mừng của nhân loại trong thế giới đại đồng về sự nghiệp phá hoang lập nguyên để phục lâm trong hệ thống hạt tâm lý tính. Ánh sáng định chiếu quang minh của chính thống hóa về nền chân giáo của đức Thích Ca Mâu Ni trong công cuộc đương lai hạ sanh: Lập đại công cuộc ấy là nhằm mục đích để phục hưng hạt tâm lý tính, là đem hạt tâm lý tính đến đỉnh sấm quang minh của giá trị hóa và thành lập được quốc độ để tỏ bày giá trị kho tàng kinh điển của đức Thích Ca Mâu Ni về Hoa nghiêm, Pháp hoa, Kim cương, Hoàng kim và tất cả những kinh điển đặc thù nhất, có tính thống nhất cao nhất của phạm trù vũ trụ quan đối với trung tâm vạn năng. Và trung tâm vạn năng đã thể nhập ánh sáng toàn diệu, toàn cực và hoàn toàn không bị thiếu sót ở góc độ nào. Và trong bốn chiều hướng dung trãi ấy đã thành lập được giá trị Duy ngã đại thể và kinh trung tâm của Duy Ngã Vạn Pháp Kinh đã được thường lưu trong quá khứ, hiện tại, vị lai và mãi mãi bất tận không bao giờ chấm dứ

Ý THỨC VẬT CHẤT HẠT TÂM LÝ TÍNH TỔNG HÀM HOA CỦA CHÂN TÍNH ÁNH SÁNG, TRUNG TÂM VẠN NĂNG, ÂM DƯƠNG VẠN TỎA

Ở đây ta không còn phân biệt giữa nhị nguyên và nhất nguyên nữa, nên ta học rằng: Ý thức- vật chất, hạt tâm lý tính tổng hàm hoa của chân tính ánh sáng Trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa. Về biện chứng pháp thì ta lấy mặt bằng nhân bản Duy ngã đại thể là làm chứng cho tổng hàm hoa. Vì vật chất ý thức là không tách rời nhân bản Duy ngã đại thể. Nhưng vật chất ý thức từ tổng hàm hoa của chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa. Như vậy ta thấy từ dưới lên trên không tắt quảng của giá trị tổng hóa và từ trên đi xuống thì cũng không tắt quảng của giá trị hóa. Thế thì chúng ta không thể phân đôi ý thức vật chất. Mà ý thức vật chất hội tụ trong giá trị của hạt tâm lý tính và hạt tâm lý tính là đại diện cho tổng hàm hoa của chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng âm dương vạn tỏa.
Nói về tính logic thì ý thức vật chất là của hạt tâm lý tính. Mà hạt tâm lý tính là của tổng hàm hoa, và tổng hàm hoa là của chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng và âm dương vạn tỏa. Như vậy ta lấy con người làm nhân chứng là biện chứng pháp cho ý thức vật chất và con người là biểu trưng cho giá trị trung tâm của hạt tâm lý tính. Còn nói về giá trị siêu đại của trung tâm vũ trụ quan thì lấy âm dương vạn tỏa làm chứng. Hoặc lấy tất cả những giá trị siêu động không biên giới để làm chứng cho giá trị trung tâm vũ trụ quan.
Như vậy nếu vật chất ý thức là động thì hạt tâm lý tính là siêu động. Hoặc nếu hạt tâm lý tính là siêu động thì tính ánh sáng trung tâm vạn năng là tối siêu động, thế thì ta thấy tất cả đều là động. Vậy ta tìm cái động nào để xác định về cái định một cách tuyệt đối. Tức siêu động vượt trên giá trị động là định. Vì sao? Vì tối siêu động là không còn ở thời gian và không gian nữa nên nó thuộc về định. Đây nó không thuộc về cái động đơn giản mà là cái động cực kỳ phức tạp ở trong giá trị trung tâm.
Như vậy cái động của chúng ta không thể sánh với cái động của trung tâm vạn năng. Vì động của chúng ta là thuộc về con đẻ, còn động của trung tâm vạn năng là thuộc về cha mẹ, là động khổng lồ vượt trên cái động bình thường của mọi sự hóa nên động ấy thuộc về tổng thể siêu sắc, siêu hành hóa. Siêu sắc, siêu hành hóa là mang tính vượt trên mọi cái động thì chính nơi đó là nơi tuyệt đỉnh của giá trị vũ trụ quan.
Như Lai hoàn toàn không sợ cái động tuyệt đối của giá trị vũ trụ quan, mà Như Lai rất sợ cái động tương đối của nhân sinh quan. Như vậy trong đời sống của cái động nhân sinh quan mà Như Lai muốn trở về cái động tuyệt đối của vũ trụ quan là lìa mọi động thức của giá trị vật chất và ý thức lẫn lộn làm phân bản hạt tâm lý tính, từ đó nhận ra mình để trở về trung tâm. Nếu chúng ta còn ở chỗ vật chất ý thức thì có nhận ra mình hay không? Có lẽ là không. Vì phân giải của vật chất ý thức là sự biến đổi không cùng tận của nó. Vì nó thuộc về hệ thống lập thể. Nhưng nếu chúng ta không chịu quay về thì chúng ta sẽ thấy rằng trong hệ thống của ý thức vật chất là có hạt tâm lý tính và khi chúng ta quay về hạt tâm lý tính thì chúng ta thấy trong đó có tổng hàm hoa của Thống thức chân quang hay là của chân tính ánh sáng Trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa. Như vậy hệ thống liên tịch chiếu ở phần gốc, cũng như phần ngọn đã được kết tinh bằng sức mạnh của Vận luật tuần hoàn chu kinh.
Chúng ta thấy Vận luật tuần hoàn chu kinh là hoàn toàn động, nhưng gốc của siêu động là bản chất của Vận luật tuần hoàn chu kinh và thể của động trong hệ thống lập thể là biểu trưng sức mạnh của Vận luật tuần hoàn chu kinh. Như vậy hoàn toàn đã có gốc và không bao giờ biến đổi gốc đó, thì chúng ta mới có chân lý thực thể của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Về ý thức vật chất chúng ta phải hiểu rằng vật chất phức tạp hệ thống não bộ thần kinh là biểu trưng cho ý thức và sức mạnh của sự nghiệp hóa, trong đó lõi của não bộ thần kinh là hạt tâm lý tính. Khi chúng ta mất hệ thống đầu não của ý thức vật chất thì chúng ta còn nguyên vẹn hạt tâm lý tính, tính ánh sáng của trung tâm vạn năng. Như vậy hoàn toàn con người vui mừng vô cùng là chúng ta không bao giờ mất hạt tâm lý tính. Chính vì thế mà chúng ta mới nỗ lực tu chính và nỗ lực trong sự nghiệp đại hóa của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Về âm dương thì chúng ta phải hiểu: Gốc âm dương là gốc của tụ chiếu âm dương, trung tâm vạn năng. Tức là cái tuyệt đối của quang minh và quang minh vượt trên mọi quang minh, là quang minh chúa của tất cả các mặt trời và mặt trời là con đẻ để thể hiện cho tính chúa của quang minh.

Phần nghị luận:
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, chúng con hiểu âm dương đây không đơn thuần của 2 dòng điện âm và dương, mà âm dương của sự tụ chiếu và sinh hóa ra vạn pháp mà chúng con cảm nhận trong tất cả muôn loài đều có tính âm dương, cho nên từ con người bình thường cho đến nhà khoa học siêu đại thì cũng nhận chân được giá trị vật chất thực tế từ trong chỗ âm dương hóa ra, tất nhiên đó là siêu hành. Như trong vạn pháp nó vẫn có ý thức vì chúng ta chưa hóa thân trở về với định chiếu quang minh nên chúng ta thấy vật chất là vật chất, chứ thực ra chúng ta hóa thân và trở về với giá trị định chiếu quang minh thì vật chất nó vẫn có ý thức, tức có sự sống nằm trong qui trình của thành trụ hoại không hay sinh lão bệnh tử. Và cộng thêm một sự tròn đủ nữa là ý thức và vật chất mà sự sống được thực hiện bằng ý thức. Mà cha đẻ của ý thức là hạt tâm lý tính và cha đẻ của hạt tâm lý tính là trung tâm vạn năng và âm dương vạn tỏa. Đó là một hệ thống logic không thể nào tách ra được.
Như vậy hạt tâm lý tính là bản hạt có ý thức và vật chất, là đầu đời của thế giới nhị nguyên thì hoàn toàn nó trọn đủ của ý thức và vật chất từ khách thể và chủ thể, khách quan và chủ quan đều có mặt trong hạt tâm lý tính.
Ngài dạy: Mọi hoạt động từ cực đại đến cực vi, dù cho khổng lồ như ngân hà, thiên hà và các thái dương hệ của các tầng lập ở trong hệ thống vũ trụ mà được hoạt động là do sự siêu động hóa của trung tâm. Tức vượt trên mọi cái động bình thường, thì động này không thể thấy bằng con mắt, mà phải kiến tánh thì mới thấy được nó.
Nếu chân tính vũ trụ mà ngừng ngay hoạt động thì tất cả những hệ thống trong vũ trụ đều bị sụp đổ. Thế thì trung tâm là một hệ thống hoạt động cực kỳ siêu đại. Tức là hoạt động trên mọi hoạt động của giá trị động và thậm chí là các hoạt động của giá trị từ trường, hoạt động của đĩa bay, hoạt động của ánh sáng nhật quang cũng không thể sánh được hoạt động của trung tâm vạn năng. Ở đây không thể diễn nói bằng ngôn ngữ của hệ thống động, mà đây là một trong những định chiếu vô cùng không còn giới hạn trong một quĩ đạo nào cả, mà mang tính trung tâm phủ chiếu vô cùng. Như vậy đây là một vấn đề quan trọng nhất của đời sống chúng ta. Mà Như Lai và chư Đại Bồ Tát đã trở về chiếm lĩnh được chỗ này để có được sự sống đời đời.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, ý thức vật chất, hạt tâm lý tính, tổng hàm hoa của chân tính trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa thì đề kinh này được khép kín trong một phạm trù ngôn ngữ minh triết. Nhưng khi mở rộng ra thì nó hàm chứa nghĩa l‎ý vô cùng. Là bao hàm một giá trị thống nhất giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan được gói trọn trong đề kinh này.
Chúng con thấy rằng ý thức vật chất luôn luôn không tách rời ra để có mọi hoạt động và được dung thông khép kín trong hạt tâm lý tính. Hạt tâm lý tính là đại diện cho tổng hàm hoa của vũ trụ. Nó là chủ thể và cũng là khách thể của ý thức vật chất. Vì tất cả mọi tư tưởng và hoạt động của chúng ta hằng ngày tốt hoặc xấu thì hạt tâm lý tính nó đều chịu trách nhiệm nhận lấy kết quả đó. Tức nó là nơi dung chứa tất cả mọi thứ do ý thức vật chất tương tác tạo ra, như vậy nó có thăng hoa và nó có trầm luân. Chúng ta biết trung tâm vạn năng là siêu cực động thì hạt tâm lý tính của chúng ta luôn luôn cũng động.
Ngài dạy: Đức Phật nói rằng: Hãy động trong sự nghiệp thống nhất thì sẽ đưa con đến tứ thiền và nếu các con không động được như thế thì sự biến động phân tán của giá trị ý thức và thậm chí địa ngục sẽ mời con đến đó. Nếu các con động trong thống nhất thì nghĩa định vô chấp trước tướng và giá trị cực định của giá trị hóa đối với trung tâm vạn năng liền có với con.
Động thống nhất nghĩa là không xa lìa tất cả những thống nhất về ý niệm của sự nghiệp hướng thượng. Ấy là một niệm duy nhất không biến đổi sự thống nhất để chúng ta có một sự cực động mạnh mẽ quay về trung tâm. Động thống nhất là động đi ngược chiều trong giá trị hóa, giống như tất cả những tinh hoa được tụ lại một gốc để tạo ra sức mạnh của cực động ấy thì đó là cực định của giá trị hóa.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ tiếp nói: Thưa Cha, như vậy trong đời sống nhân bản đại thể thì hoàn toàn là động. Nhưng động ấy luôn luôn ở trong qui trình dung thông của tâm và vật, có nghĩa là chúng ta biết ứng dụng và sử dụng vật chất trong mục đích hướng thượng, thì cái động đó sẽ kết tinh tinh hoa cho hạt tâm lý tính thăng hoa để trở về gốc. Còn nếu chúng ta làm ngược lại thì tất nhiên sẽ bị băng hoại và bị đào thải. Như vậy chúng ta phải trở về hạt tâm lý tính để làm chủ thể vạn pháp, tức làm chủ ý thức vật chất và chủ động để ly tâm và kết tinh tinh hoa thì nhất định chúng ta sẽ trở về nguồn gốc của vạn năng.
Ngài dạy: Như vậy Bồ Tát là cái động thống nhất của bản chất vô cấu và thành lập được tính viên giác của cực động trong giá trị hóa quyền năng.
Phật quang và trung tâm đang có một sức hoạt động khủng khiếp mà chúng ta hoàn toàn chưa có được. Vì chúng ta còn ở trong các hệ lụy của các nghiệp thức thuộc về ý thức và vật chất, hoàn toàn chúng ta chưa hoàn chỉnh chính tu của giá trị hạt tâm lý tính và hạt tâm lý tính chúng ta còn chịu mắc kẹt các dòng nghiệp trong ý thức vật chất ấy.
Ngài bảo ông Chơn Minh Ứng Hội trình bày.
Ông Chơn Minh Ứng Hội: Thưa Cha, trong hệ thống trung tâm hóa Duy ngã thì trong đó có vật thể. Trong Duy ngã vật thể đó thì hạt tâm lý tính là đại diện cho trung tâm vạn năng và âm dương vạn tỏa. Như vậy ý thức vật chất chuyển động không tách rời hạt tâm lý tính. Nếu chuyển động theo chiều thượng thì hạt tâm lý tính được kết tinh tinh hoa và cùng chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng âm dương vạn tỏa là chủ thể của mọi sự chuyển động trong vạn pháp. Còn nếu chuyển động theo chiều hạ thì hạt tâm lý tính sẽ bị phân biến tổng hàm hoa và không trở về gốc được. Như vậy hạt tâm lý tính là không tách rời trung tâm vạn năng chân tính ánh sáng của vũ trụ nên khi hạt tâm lý tính kết tinh thì nó sẽ được trở về trong gốc của trung tâm.
Ngài dạy: Như vậy ý thức vật chất phải thống nhất với hạt tâm lý tính. Hạt tâm lý tính phải thống nhất với tổng hàm hoa và tổng hàm hoa phải thống nhất chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng và âm dương vạn tỏa. Thì chúng ta có một pháp thân viên mãn và tròn đủ với giá trị thượng tầng, trung tầng và hạ tầng. Như vậy các tầng lập của giá trị hóa chúng ta đã được kết tinh bằng một sức mạnh tổng thể ấy, thì chúng ta trở thành sự thật của hạt đại hóa trong vũ trụ quan và nhân sinh quan. Đó là bản hạt đại hóa của đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni, là bản hạt đại hóa của giá trị Quan Thế Âm. Thì Ngài đã trở thành Phật quang của giá trị bản hạt vô cùng và Ngài trở thành khổng lồ bản hạt của giá trị hóa và thực hiện những công trình hóa vãng sinh và hóa muôn sinh, mà không có giới hạn hóa vãng sinh và muôn sinh ấy, thì đó là sức mạnh của hạt tâm lý tính vô tính. Như vậy hạt tâm lý tính ở thềm nhị nguyên thì đó là a lại da, còn ý thức vật chất là thuộc về 7 thức kia. Thế thì đối với hạt tâm lý tính dù cho có biến đổi 6 căn, 6 thức, 6 trần thì hạt tâm lý tính vẫn xứng danh trong giá trị hóa của tổng hàm hoa và lưu giữ lại trong không gian và thời gian vô tận để tiếp tục phục sinh trong giá trị hóa 3 cõi.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, đây là một đề kinh có tính chất logic và không tách rời nhau, là thể hiện được tính cơ cấu của một hệ thống từ cao đến thấp và từ thấp trở về vô cùng.
Như vậy nhân bản đại thể đã thể hiện qua ý thức vật chất và có hạt tâm lý tính bên trong. Đó là mục đích để chúng ta hóa trở về trung tâm. Như tính chất của trung tâm là siêu cực động để hóa mà luôn luôn hóa thuận. Như vậy nên vật chất mà hóa thuận thì sẽ đem lại mọi kết quả tốt đẹp. Thí dụ như hydro cùng oxy thì hóa ra nước. Còn nếu nhân bản đại thể mà hóa thuận là thuận theo mọi định luật, quy luật của vũ trụ thì chúng ta sẽ hóa thượng. Và vượt lên trên mọi sự hóa để trở về với trung tâm hóa của trung tâm vạn năng.
Ngài dạy: Như vậy sự nghiệp vạn năng là sự nghiệp vạn hóa, là sự nghiệp bất biến đổi của giá trị hóa đối với vạn hóa. Hóa thượng là trang nghiêm hóa, hình sắc trang nghiêm hóa. Hóa hạ là dị lập các hình thể hóa, thì chúng ta hãy nhìn mọi hình thể xấu ác về quặng mà ngừa tránh nó để thoát ra khỏi những cái hóa có tính chất dị lập trong đời sống của tổng thể. Tính hóa là tính chung cuộc của giá trị tổng thể và các từng lập của sự tiến hóa được hóa trong đó. Thế thì các loài được hóa, chúng sinh được hóa, vạn vật được hóa và không có thứ gì mà không được hóa cả.
Như con nhộng, con tằm nó hóa làm sao? Các loài thực vật hóa, nó hóa làm sao? Và các loài động vật cao cấp nó hóa làm sao? Thì các con hãy nghiệm đi để thấy hệ thống Thống hóa của trung tâm vạn năng là cha mẹ của toàn thể muôn loài. Nơi ấy là nơi tuyệt kính, tuyệt yêu, tuyệt thờ và tuyệt phụng. Và nơi ấy chúng ta không có ngôn ngữ chê trách và làm ngược lại những giá trị tổng hóa của hệ thống vũ trụ quan đối với nhân sinh quan.
Như vậy chúng ta có quyền nói trung tâm vạn năng là sự nghiệp vạn hóa là đặt thềm trên giá trị hóa vạn loại và các đặc năng, siêu năng, đa năng đều trọn vẹn trong đó, mà không có thể loại tất cả những bản chất về đặt năng, đa năng, siêu năng của sự nghiệp hóa đối với ý thức vật chất hạt tâm lý tính và tổng thể tinh hoa chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng âm dương vạn tỏa. Chùm hoa ngôn ngữ đã kết dính được tất cả những nghĩa lý gọi là uyên bác vô song và sức mạnh thống nhất của giá trị hóa để chúng ta tìm ra một con đường của sự cứu rỗi trong hệ thống Cửu kinh ấy. Và chính Thống hóa Cửu kinh sẽ làm cho các mặt trần hành tinh được sống lại.
Chúng ta xác định tính logic của hệ thống liên tịch từ thượng tầng đến hạ tầng, từ đại ngã đến tiểu ngã, trong đề tài kinh Duy ngã vật thể, tổng thể vũ trụ quan Thống hóa thì chúng ta thấy rằng: Ý thức, vật chất – hạt tâm lý tính – tổng hàm hoa của chân tính ánh sáng trung tâm vạn năng, âm dương vạn tỏa. Thì đó là một cường độ sức mạnh của hệ thống chân tính cùng sự nghiệp vũ trụ không thay đổi. Nên nói sự nghiệp vũ trụ là hệ thống Thống hóa đời đời và mãi mãi không bao giờ chấm dứt, để chúng ta có một chân lý và có thể thăng hoa trong Tứ quả Thánh, để trở về với Đại Bồ Tát và trở thành 10 hiệu như đức Từ phụ Thích Ca.
Như vậy Từ phụ chúng ta là đấng đại tri kiến trong sự nghiệp Cửu kinh minh triết. Ngài đã tuyên ngôn cho sự nghiệp Duy ngã đại thể, tuyên ngôn cho Duy ngã vạn pháp kinh. “Thiên thượng thiên hạ Duy ngã độc tôn”, đó là lời tuyên ngôn và Ngài đã trình tự chế biến các phương pháp và tương ứng trong giá trị tam tạng. Thực hiện những công trình thuộc về Cửu kinh minh triết và thành đạt Cửu kinh minh triết toàn cầu cùng khắp thảy các hành tinh khác. Đó là một điều chắc chắn và không có một kinh nào có thể thay thế Cửu kinh minh triết được. Nếu tất cả các loại Thánh kinh có tập hợp lại thì để làm nền tảng và làm sức mạnh tăng độ cho hệ thống Cửu kinh, làm phương tiện hóa cho hệ thống Cửu kinh và làm tinh hoa tổng thể cho hệ thống Cửu kinh, chứ không thể thay thế Cửu kinh minh triết được.

TỔNG THỂ TINH HOA, TÂM VẬT HỘI TỤ, CÁC PHÁP TRÒN ĐỦ LÀ CHÂN LÝ CỦA SỰ THỰC
Tổng thể tinh hoa, tâm vật hội tụ, các pháp tròn đủ là chân lý của sự thực. Nghĩa là chúng ta đem cái tâm để thực hiện công trình tổng thể của vũ trụ và gặt hái tất cả những tinh hoa tổng thể của vũ trụ để kết tinh cho được chân tâm.
Nếu chúng ta đem cái biết là ý thức để mà giữ những thứ không biết là vật chất giàu và nghèo đó, thì vô hình chung chúng ta bị phân biến trong cái biết và làm tiêu hao cái thực tướng. Nếu về hình nhi thượng là tiêu hao về trung tâm vạn năng, mà hình nhi hạ là tiêu hao ý thức tương tác. Và khi tiêu hao thì sinh ra sự hụt hẩn của cái thiếu và đủ.
Chính do lòng tham phát sinh ra sự thiếu đủ, nên mất đi giá trị tâm vật hội tụ. Mà tâm vật hội tụ là chân lý thực thể. Và chính bản thể ấy không có giàu và nghèo, cũng không có thiếu và đủ. Thì chỗ này là căn bản của tính vô lệch.
Đức Phật Ngài sợ nhất là sự đối đãi phân biệt của chúng sinh. Vì đó là sóng, là sự chao động của tâm thức, là sự dấy lên tất cả những nghiệp lực để khiến cho chúng sinh đi lệch con đường quỹ đạo của Công Luật vũ trụ.
Tất cả những thứ thuộc về ngoài cái biết thì không có một thứ gì giữ được cả. Chính vì Như Lai đã xác định được tính chất đó nên Ngài nói các pháp là vô ngã. Vậy diệu nghĩa của vô ngã đã được bày tỏ trong đời sống của trung tâm, của tâm thức và trong đời sống của cái biết thực tướng.
Hôm nay ta có cái biết thì cái biết là đại diện cho kho tàng, là đại diện cho sự sống vô cùng và là sự sống đích thực đời đời trong vũ trụ, thì ta phải tinh luyện cái biết, chứ không đem cái biết để đi giữ cái này hoặc cái kia. Tức là ta đem cái biết để công phu, và thực hiện những công trình đại hóa và đem cái biết để phục vụ cho đấng Thống hóa, cho nhân loại và tha nhân.
Đem cái biết để thực hiện công án, công luật và thực hiện sự nghiệp đại hóa đối với 10 phương Như Lai, thì dần dần chúng ta sẽ có một cái biết khổng lồ. Mà đồng thời chúng ta không cần phải thủ giữ thứ gì, mà sự nghiệp cứ mãi lớn dần lên theo thời gian và không gian. Lớn theo mức độ tăng trọng giá trị ánh sáng và cứ như thế mà đi đến chỗ làm chủ cả vũ trụ. Như vua chuyển luân thì làm chủ cả hành tinh. Còn Như Lai thì làm chủ cả vũ trụ. Nhưng đối với chúng sinh thì làm chủ một căn nhà cũng không thể được.
Một khi cái biết quá nhỏ nhoi thì chỉ được phần nhỏ nhoi mà thôi. Nhỏ nhoi vì phát nguồn từ cái biết của sự đối đãi đã làm tiêu hao chân tâm ánh sáng và đã làm hụt hẫn trong đời sống của chính nó, thì cái tâm trở thành nghèo hèn. Thế thì tâm vật hội tụ, các pháp tròn đủ là chân lý của sự thật. Thì chúng ta phải trở về con đường trung tâm để thực hiện công án và kết tinh tinh hoa chân tâm. Nghĩa là chúng ta có vợ, có con, có gia đình, có sự nghiệp nhưng hoàn toàn chúng ta không bị kẹt bởi những thứ đó, thì những con người ấy là con người của sự hóa thân và con người của thực trạng trong giá trị công án hóa. Còn những con người bị kẹt là hoàn toàn đã bị mất công án hóa và đã bị sụp đổ ngay trong các nghiệp lực trói buộc ấy, nên cuối cùng đã trở thành không.
Đức Phật nói rằng: Nhân tỉ phú là quả của trắng tay. Nhân của sự phân biệt đối đãi và cố chấp thì quả của sự nghiệt ngã và gãy đổ của các nhịp tiến hóa mà không có lối thoát.
Tất cả những nhân quả biến động luôn luôn gắn liền với cái biết và cái biết không bao giờ tách ra khỏi nhân quả biến động ấy. Nên độ lệch của nhân quả rất lớn và chính đó mà dấy lên mọi sự thống khổ. Nên đức Phật bèn thiết lập bộ nhân quả hướng thượng, tương ứng để làm cho con người từ đó mà đi lên.
Như vậy chúng ta là con người thì phải biết được nhân quả nào là nhân quả tương ưng đi lên, và nhân quả nào là bất tương ưng làm nghiệt ngã khiến chúng ta luôn luôn ở trong tối tăm.
Các động nghiệp dữ dội của ý thức luôn biến động trong tâm thức là những sự va đập khủng khiếp nhất trong đời sống của chúng và chúng không thể ra được nên gọi là vô gián ký thức nghiệp.
Những thứ động nghiệp từ thân – khẩu – ý đó đã kết thành tâm nghiệp và chuyển tiếp liên tục thì dù có Phật cũng không thể tháo gỡ được chúng.
Nhân quả thực vật là đại diện giá trị nhân quả biện chứng đối với tâm thức. Và tâm thức đã hiện bày các loại nhân quả trong hệ thống vật lý và hình thành trong cơ cấu của các loại cây trồng. Vậy nhân quả đã trở thành định luật và nhân quả cũng đã hình thành 2 trạng thái của âm phúc và vô âm phúc.
Đối với định luật thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử là ta không giữ được nó. Nhưng chủ thể của nó thì ta giữ được. Khi ta giữ được chủ thể ấy thì ta hóa được thành trụ hoại không, hóa được sinh trụ dị diệt và hóa được sinh lão bệnh tử. Như vậy, chủ thể là chủ thể của giá trị hóa và thành tựu giá trị vô cùng của hóa.
Vậy thì siêu tinh hoa hóa trong thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử. Là ta hãy rút hết tất cả những tinh hoa để kết tinh từ trong thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử, đã có chân tướng giá trị thực trong đó. Điều đó hoàn toàn có nên mới nói: Tổng thể tinh hoa, tâm vật hội tụ, các pháp tròn đủ, là chủ vũ trụ.
Tóm lại, hãy rút hết tất cả tinh hoa trong thành trụ hoại không, trong sinh trụ dị diệt và trong sinh lão bệnh tử. Lấy tổng thể tinh hoa thực tướng làm chủ lại thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt và sinh lão bệnh tử. Đó là chân lý mạnh mẽ nhất trong sự nghiệp Công Luật vũ trụ và luôn luôn đi đầu trong mọi giới pháp. Chính nó là biểu trưng cho sức mạnh của vô lệch và thành tựu viên mãn.

BẢN CHẤT HỘI TỤ LÀ CHỦ THỂ CỦA CÁC PHÁP
TĂNG TRƯỞNG CÙNG AN DƯỠNG
Đây là phẩm kinh thuộc Tâm Vật Hội Tụ Kinh, có tính quan yếu nhằm hỗ trợ, minh định để xác định về tính chất của hội tụ là chủ thể.
Thường về tâm lý chung thì sự an dưỡng ai cũng muốn và ý niệm tăng trưởng ai cũng thích. Nhưng thật ra từ bản chất hội tụ là chủ thể để hình thành ra tất cả những thứ đó.
Nếu bản chất là phân hóa thì đồng nghĩa với thoái hóa. Mà thoái hóa thì phát sinh ra biến động và biến động ấy sẽ trở thành trùng trùng, như thế là đi ngược lại với các pháp tăng trưởng và an dưỡng.
Về tính biện chứng của biến động, như ta thấy liên tục hàng triệu triệu con sóng trỗi dậy đập vào bờ. Còn bản chất phân hóa thì chịu sự biến động của ý thức nổi dậy và loài người đã chịu thống khổ bởi những ý thức biến động đó. Nên chúng ta phải xác định rằng: Bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng cùng an dưỡng.
Ngài hỏi ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Như có người nói về Tâm Vật Hội Tụ Kinh rất hay, nhưng bản chất hội tụ của người ấy chưa có, thì Tâm Vật Hội Tụ Kinh có thực trong đời sống của vũ trụ quan có đến với người đó hay không?
Ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Thưa Cha, bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng cùng an dưỡng. Thường thì người ta nói tinh thần minh mẫn trong thể xác tráng kiện, chứ không ai nói tinh thần minh mẫn trong thể xác bệnh hoạn biến đổi. Như vậy, ta thấy giữa tinh thần và thể xác là hội tụ. Nhưng chủ thể là tinh thần của tri thức ánh sáng luôn chủ động điều khiển thể xác. Khi tư tưởng chúng ta bị biến động thì đồng nghĩa là phân hóa ta không thắng phục được các pháp, tức là tâm vương đã bị các pháp của mắt tai mũi miệng thân ý dẫn dắt theo sự biến động đó, thì lúc bấy giờ nhân bản duy ngã không thể nào tăng trưởng và an dưỡng được. Như vậy, xác định bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng và an dưỡng.
Ngài hỏi ông Chơn Hiếu Đàn Lâm: Hội tụ có phải là bản chất của chủ thể không?
Ông Chơn Hiếu Đàn Lâm: Thưa Cha, bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp. Nếu trong đời sống của một con người mà không hội tụ là không làm chủ được các pháp, thì cũng không tăng trưởng được hạt tâm lý tính. Nên trong đời sống của nhân bản duy ngã cần phải chắt lọc trong các pháp thánh thiện của đời sống giữa tâm và vật, thì ta mới làm chủ các pháp và tăng trưởng các pháp. Như vậy, bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp.
Ngài dạy, ta nói bản chất hội tụ là ta dựa trên nguyên lý nào để nói? Là ta nhìn nhận về Trung Tâm Vạn Năng là bản chất của sự hội tụ, đó là gốc. Nhưng khi xuống tận cùng của các hệ thống, thì ta thấy hội tụ nó vẫn là gốc. Là vì chỉ có hội tụ mới quyết định tất cả mọi vấn đề. Nên khi Như Lai đưa chữ định tức là tụ. Chính cái định tụ ấy mà quyết định được tính chất các pháp. Như vậy, chữ định cũng có nghĩa là hội tụ. Nhưng ta làm sáng nghĩa về minh triết thì hội tụ ở đây là mang tính phạm trù của hệ thống Công Luật học. Nên ta đưa hội tụ vào hệ thống thuộc về bản chất, vì bản chất hội tụ là chính thống.
Về bản chất có nhiều thứ bản chất khác nhau, nhưng không có bản chất nào bằng bản chất hội tụ. Như bản chất của ô xy, bản chất của Mê tan, bản chất của cac bon, bản chất của vàng của bạc v.v…Nhưng bản chất hội tụ là bản chất gốc và bản chất chủ, vì chính nó là gốc, là chủ nên nó mới tăng trưởng được. Ta thấy mọi sự tăng trưởng đều từ gốc mà ra và không có cây nào mà không có gốc cả. Và gốc là bản chất thực địa của nó, đó là đất.. Như vậy, chúng ta thấy nó có gốc thực, có thực địa thực và có tổng hàm hoa thực, nên mới nuôi dưỡng được gốc đó. Ví dụ nếu như ta nhổ cây ấy ra khỏi đất, thì nó sẽ không còn tụ được nữa, tức thì nó bị mất đi giá trị tổng hàm hoa và nó không tồn tại được. Nên ta nói khế kinh rằng: Bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng cùng an dưỡng. Như vậy, chính cây ấy được tăng trưởng trên mọi lẽ sống, thì cây ấy hoàn toàn đã được hội tụ thì mới an dưỡng được những cành lá cùng hoa quả.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa cha, bản chất của thoái hóa là sự biến động, nên càng thoái hóa thì càng biến động. Còn nếu chuyển động để tiến hóa thì hầu như tỉ lệ biến động từng bước sẽ giảm đi và khi tốc độ quay vào bên trong càng lớn thì biến động càng nhỏ. Như vậy, phần lập thể của các pháp hữu vi thì phải từ hội tụ mà có. Đó là bản chất mà không thể thay đổi được.
Ngài dạy, như con người chúng ta là thuộc về bản chất hội tụ, là sự tròn đủ tính thể dung thông, thì mới có tác phẩm con người. Nếu bản chất không phải là hội tụ mà đơn điệu vật chất, hoặc ý thức thì không thể quyết định được tác phẩm đó.
Như vậy, chúng ta nói bản chất hội tụ là không thừa nhận sự phân hóa, vì phân hóa là thoái hóa sẽ hủy diệt và triệt tiêu. Thì đây là một khế kinh hỗ trợ cho thực tướng và các pháp chính thống cho đời sống của hệ thống duy ngã đại thể. Nên chúng ta có quyền nói bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng cùng an dưỡng.
Nếu ta khởi đầu bằng sự phân biệt thì sẽ dẫn đến sự phân hóa, còn khởi đầu bằng sự hội tụ thì sẽ tránh được sự phân hóa, không bị triệt tiêu về các pháp tăng trưởng đồng thời ổn định và an dưỡng trong hệ thống lập thể và hạt tâm lý tính.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa cha, Bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng và an dưỡng thì điều đó hoàn toàn là tuyệt đối. Nhưng chúng con phải xác định như thế nào là hội tụ và như thế nào là các pháp tăng trưởng và an dưỡng. Ở đây con hiểu rằng các pháp tăng trưởng và an dưỡng gốc của nó là thuộc về phần tính. Thí dụ chúng ta thấy trong đời sống của mặt bằng duy ngã đại thể có rất nhiều viện diều dưỡng để con người đến đó an dưỡng. Nhưng nơi đó có phải là thực tướng của an dưỡng hay không? Con nghĩ rằng sự tăng trưởng ở đây thuộc về hạt tâm lý tính và tri thức ánh sáng trí tuệ. Một khi phần tính ấy được ổn định và tăng trưởng thì cũng đồng nghĩa là có được sự an dưỡng trong các pháp. Như vậy, thì hội tụ ở đây là sự thống nhất giữa ý niệm, lời nói và hành động. Tức ý thức và vật chất thống nhất cùng hạt tâm lý tính chuyển động trong qui trình tương ưng, để kết tinh tinh hoa trong giá trị tổng hàm hoa Trung Tâm Vạn Năng, thì thực tướng của các pháp tăng trưởng và an dưỡng mới có.
Ngài dạy, hội tụ có nghĩa là tập hợp tất cả các pháp về một gốc mà không cho gốc ấy phân biến, thì nó mới đủ sức mạnh để hoạt động, để tiến hóa và ổn định. Thí dụ như hệ thống cơ cấu của một con người thì bản chất của nó cũng là hội tụ, nếu ta lấy đi một bộ phận nào đó ra khỏi hệ thống đó, thì con người đó không hoạt động được nữa. Như đối với một quốc gia thì vị lãnh tụ là cái trục tụ cho tất cả mọi quần thể chuyển động theo điểm tụ đó. Như Lai đã đưa ra vấn đề công phu tứ thời cũng nhằm quyết định về tụ. Đối với các công trình mà Như Lai thực hiện cũng là sự quyết định về tụ, cũng như các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, quân sự…mà không có sức mạnh của tụ, thì không thể thành công được.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển trình bày.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa cha, hội tụ là một chân lý thực thể hoàn toàn. Vì tụ sẽ định chiếu quang minh, tụ là tập hợp được tổng tinh hoa. Như vậy, bản chất của hội tụ là dẫn đến mọi sự phát triển và ổn định đối với nhân bản đại thể. Nên giá trị ở Tâm Vật Hội Tụ Kinh là sức mạnh của định chiếu quang minh và sẽ đi đến thành tựu viên mãn.
Ngài dạy, nói về khách quan của hệ thống vật lý mà không tụ được thì không thể hóa được. Nói về chủ quan của tri thức ánh sáng mà không tụ được thì không có định chiếu quang minh. Nếu nói về tổng hàm hoa mà không tụ được thì không thể hóa lập thể được gì. Như vậy, tất cả thực vật, động vật và muôn loài đều trở về gốc tụ để ổn định trong sự nghiệp hóa. Đối với nhân bản duy ngã đại thể hằng ngày phải luôn luôn quan niệm về tụ, nếu không thì chúng ta sẽ bị phân hóa theo chủng nghiệp của ý thức, khi ý thức phân hóa thì các pháp hoàn toàn không được tăng trưởng, thì cũng đồng nghĩa là không có sự an dưỡng. Vì khi bên trong của tư tưởng ý niệm không an ổn thì ta cầu mọi sự an ổn bên ngoài hoàn toàn không có. Như vậy, cái biết an là thuộc về tư tưởng ý niệm của tri thức ánh sáng, một khi ý niệm tư tưởng an thì các pháp cũng tự an. Nên ta nói rằng bản chất hội tụ là chủ thể của các pháp tăng trưởng cùng an dưỡng. Thì sự tăng trưởng và an dưỡng hoàn toàn có thực trong định lý của hội tụ. Như vậy, bản chất hội tụ là chính thống hóa bản chất và là bản chất thực tướng của sự nghiệp vũ trụ quan và nhân sinh quan. Thì đề kinh này sẽ làm sáng tỏ thêm về giá trị Tâm Vật Hội Tụ Kinh và sức mạnh của Tâm Vật Hội Tụ Kinh sẽ quyết định tất cả mọi sự nghiệp hóa trong đời sống của nhân sinh quan và vũ trụ quan. Nên bản chất của Tâm Vật Hội Tụ Kinh dù là chủ quan hay khách quan, thì vốn dĩ nó vẫn là thực tướng. Còn người mà không tùng phục theo Tâm Vật Hội Tụ Kinh, thì đó là sự phân biến và chuyển động theo ý thức nghiệp. Nên chúng ta phải xác định rằng: mọi sự quyết định nếu ngoài tụ thì đều thuộc về ảo và không thành lập được tác phẩm. Như vàng ròng là bản chất của cực tụ, là trọn vẹn của tụ và không biến đổi của tụ, thì bản chất đó là thực tướng.
KINH HƯƠNG TÍCH
HƯƠNG TÍCH TINH HOA HẠT TÂM ƯNG SINH
TINH HOA CHẾ XUẤT TÂM HẠT HỢP HÓA
Hương tích là bản địa thống nhất trong hệ thống tinh hoa và không tan biến trong chân tính. Thì chúng ta có quyền nói rằng: Hương tích tinh hoa hạt tâm ưng sinh và tinh hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa. Đây là đề tài kinh mang tính minh triết để giải quyết vấn đề hương tích, để thấy hương tích là có thật trong đời sống của vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Biện chứng pháp về hương tích thì có trong các loài, mà thể hiện rõ nhất là trong các loài hoa. Nhưng thật sự cái trình bày của các loài hoa là biểu trưng cho sắc thái của hoa mang tính hương tích. Nhưng kỳ thực là hương tích ở trong đời sống của các loài, mà nhất là kỳ hương. Biện chứng pháp của kỳ hương là nói lên giá trị của hương liệu, hương tích về mặt hóa. Còn nếu đứng về siêu thể hóa thì không tách rời hạt tâm hóa của giá trị hương. Vì vậy Kinh Hương Tích là một trong những quĩ tích quan trọng nhất của đời sống đối với nhị nguyên và nhất nguyên.
Nên đề kinh nói rằng: Hương tích tinh hoa hạt tâm ưng sinh. Ta thấy về tính ứng dụng trong qui trình của hóa, hoàn toàn không tách rời hạt tâm. Thì chính mối chốt của giá trị hóa là hạt tâm. Nên hạt tâm là giá trị hóa của hương tích. Còn nghĩa của ưng sinh ở đây là tính tất yếu của giá trị thuộc về các qui luật như: Qui luật tương ưng, qui luật ứng dụng, qui luật hóa, qui luật tương quan, qui luật chiếu, qui luật hợp và qui luật sinh trùng trong giá trị các loài.
Vạn hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa. Bởi tất cả những xuất trình về hóa ở trong đời sống tính và thể tương quan, thì mối chốt của nó hoàn toàn là ở hạt tâm. Vì tất cả mọi hương liệu mà tách rời trung tâm tổng thể của vô cực và tách rời các trung tâm chuyển động về tinh hoa hợp chiếu, thì các loài hoa sẽ không bao giờ có nở trên mặt đất này và ngay cả hương liệu cao nhất của hóa, cũng sẽ không bao giờ có trong các loài thực vật và động vật. Thì đó là những yếu quyết của Kinh Hương Tích.
Vạn hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa. Nghĩa hợp hóa ở đây là không thể tách rời quĩ đạo của Âm dương vạn tỏa và Vận luật tuần hoàn. Là giao hòa giữa 2 lực từ trường khổng lồ nhất của âm và dương. Vì âm và dương luôn luôn chuyển động theo quĩ tích của hạt tâm. Như vậy, Kinh Hương Tích là kinh của hạt tâm.
Vạn hoa chế xuất. Nghĩa của vạn ở đây là số lượng tinh hoa thuộc về hàm. Thì ta thấy bản chất của hoa, hương liệu của hoa thì mọi loài hoa có một hương liệu khác nhau và cánh hoa sắc hoa cùng các dựng lập của hình sắc hoa không giống nhau. Nên chúng ta mới dùng chữ vạn hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa, hay còn gọi là tâm hạt hợp hoằng. Nghĩa của hoằng hóa ở đây là thượng hoằng trung tâm, hạ hóa lập hoa. Vì nơi nào có hoa là nơi ấy có hương và tổng thể tinh hoa đều hóa ra hương, thì hương liệu từ tinh hoa mà ra.
Đề kinh này giúp ta rõ bày về hương tích từ nguồn gốc của hạt tâm. Nên trong tất cả mọi loài từ nhỏ nhất cho đến lớn nhất đều có hạt tâm. Tức là cái trữ lượng dung tích của giá trị hóa trong hệ thống hạt tâm ấy. Thì cực vi nó sẽ mang hình tướng của cực vi, còn cực đại cũng mang hình tướng của cực đại. Nên trong tổng thể hóa không có thứ gì tách rời hạt tâm để có mọi giá trị. Thì hương tích cũng từ hạt tâm mà ra.
Phần nghị luận:
Ngài bảo Ông Chơn Nhật Đàn Sơn trình bày.
Ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Thưa Cha, từ trung tâm linh quang là một hệ thống cơ cấu và hóa tất cả hạt tâm, thì nơi đó là tổng hàm hoa hóa sinh ra tất cả hạt tâm, thì mỗi hạt tâm đều có một đơn vị hàm hoa. Như vậy, chính tinh hoa này mà các loài có màu sắc và hương hoa riêng. Thì hạt tâm này luôn luôn là tương sinh từ hệ thống cơ cấu của vũ trụ quan hóa ra. Và tất cả hương hoa của các hạt tâm đó luôn luôn hợp chiếu cùng trung tâm. Nên hạt tâm của vạn loại là vạn hàm hoa không tách rời vũ trụ quan và nó cũng chính là hương tích của vũ trụ quan đã hóa ra. Ta thấy tất cả mọi loài hoa đều có hương sắc riêng, tinh hoa riêng và hình thái riêng. Thì điều đó đã nói lên tính vạn năng của vũ trụ quan. Vì chính vũ trụ quan có tổng hàm hoa, nên mới sinh ra tất cả những đơn vị hàm hoa của nó.
Ngài bảo ông Chơn Quốc Chính Thống trình bày.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Kính thưa cha, qua đề kinh Hương Tích mà cha đã giới thiệu, thì chúng con thấy đây là sự thật trong thế giới toàn hữu nhất nguyên và thế giới lập thể nhị nguyên. Thì hoàn toàn giá trị hương tích ở mặt thuần tính của khách quan. Nhân ở hương tích ấy mà sự sống trên hành tinh rất phong phú và đa dạng, luôn luôn đưa con người đến đỉnh cao của giá trị sống. Như ngoại thể đã đầy dãy những muôn màu sắc, sắc hoa của muôn loài vạn vật cũng thể hiện lên giá trị phong phú tươi đẹp nhất của mặt lập hình lập địa trong thế giới nhị nguyên. Và chính bản thân của duy ngã vạn pháp cũng luôn luôn thể hiện kết tinh được tinh hoa. Thì tinh hoa ấy chính là hương tích, hương đàn của mười phương. Đó là một thực tướng đã cho chúng ta thấy được qui trình sinh hóa của Trung Tâm Vạn Năng tổng hàm hoa. Nên lập hình của thế giới nhị nguyên là vô cùng. Tất cả trong muôn loài vạn vật đều cho rằng giá trị cuối cùng của nó là hương tích. Nên muốn có hương tích phải kết tinh được tinh hoa là hạt tâm lý tính hóa sinh. Nên đây là một qui trình khép kín ở trung tâm thượng tầng vũ trụ quan, đến với muôn loài luôn luôn nằm trong một qui trình chuyển động để thăng hoa. Tuy nhiên chỉ có duy ngã đại thể vì sự lầm lẫn về bản chất ngã mạn mà đi ngược lại qui trình sinh hóa của Thống hóa vũ trụ. Vì con người chưa được khai mở trong hệ thống Cửu Kinh Minh Triết nên chưa thấy được giá trị của hương tích tinh hoa xuất phát từ hạt tâm lý tính để ưng sinh. Hôm nay được sự khai thị của Cha, chúng con nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung, có lẽ rằng từ đây về sau không còn những u khuất, mê muội và xấu ác. Thì trên hành tinh này sẽ ròng tính của hương tích tinh hoa, của nhật quang thường chiếu.
Ngài dạy, đứng trên tinh thần biện chứng pháp, nghiệm chứng pháp, siêu chứng pháp tổng hợp của giá trị chứng pháp và không có một chứng pháp nào mà không có mặt trong đời sống của thế giới lập địa, đối với tổng hàm hoa siêu sắc năng hóa sắc năng của Trung Tâm Vạn Năng cho. Bởi vì tất cả thiên hình vạn trạng ở cấp độ nào cũng thực hiện được chức năng về đa năng, siêu năng đặc năng của giá trị vạn năng trong các loài hoa và có thể nhân cách hóa là loài gì cũng có bản chất của hoa. Nên đức Như Lai đã rút tỉa từ trong các loài hoa và đã lấy hoa sen làm biểu trưng cho giá trị hóa cao cấp, đối với giá trị kết tinh tinh hoa liên hoa, để thể hiện tính bí tích cho giá trị kỳ diệu đối với sức mạnh giải thoát và đó là một trong những kinh Hương tích hùng hồn nhất của Như Lai.
Hương tích đã trở nên thực tướng về sự kính yêu Trung Tâm Vạn Năng hóa vạn hoa và vạn hoa kỳ tích đã bốc sáng và làm rực rỡ quang minh trong đài sen, cùng các đài liên hoa khác nhau ở mọi tầng lập địa về sự nghiệp Phật quang. Thì chúng ta luôn luôn đặt nặng với tình yêu hương tích, sống trong hương tích và gói trọn tất cả những trái chín, quả thơm nhất trong hương tích ấy, để chúng ta có những hương vị ngạt ngào trong sự nghiệp hóa thân.
Rất hiện đại thay về Trung Tâm Vạn Năng hóa vạn hoa và rất siêu đại thay vạn hoa chứng tích cho giá trị vạn năng hóa vạn hoa và sức mạnh tổng hợp của vạn hoa đã có trên mặt trần của các thái dương hệ và nhiều hành tinh xa xôi ở những trung tâm kỳ diệu hơn đối với các đài hoa và thành lập các đài hoa để biểu trưng cho sức tổng tinh hoa ấy.
Ở mặt phân biệt ta tưởng như các loài hoa khác biệt đối với giá trị trung tâm. Nhưng khi ngộ nhập Hương tích tinh hoa nguồn gốc của nó là hạt tâm ưng sinh, và vạn hoa chế xuất, tâm hạt hợp hóa. Đó là những nguyên tắc, những đề tài kinh điển vững chắc nhất của tính khoa học đại ngã, khoa học thực nghiệm. Và chúng ta xác định về tính hóa của khoa học hoàn toàn không có lệch độ của hệ thống Thống hóa trung tâm. Và hệ thống trung tâm đã cho chúng ta các loài hoa rực rỡ và quang minh nhất, mà nhất là loài hoa cao cấp của kết tinh tinh hoa kim cương.
Chúng ta là loài hoa kim cương và có thể vượt trên các loài hoa là những hoa bất diệt của giá trị tri thức ánh sáng. Tri thức ánh sáng là một trong những loài hoa bất diệt của sự nghiệp hàm hoa và hoa ấy được tích trữ trong bản chất của giá trị Như Lai. Và hương thơm của giá trị Như Lai vượt trên hàng tỉ lần của các kỳ hương thảo mộc và dựng lập kỳ hương thảo mộc ở trong giá trị hóa để thể hiện về tính biện chứng của kỳ hương linh năng và siêu năng. Như vậy, kỳ hương linh năng và siêu năng là hương tích chân tính bất diệt của giá trị trung tâm hóa và tổng hàm hoa đã được thống nhất trên Trung Tâm Vạn Năng.
Như vậy, tất cả những bí tích của giá trị tổng hàm hoa đã được trình bày qua kinh điển Hương tích Như Lai. Và kinh điển Hương tích Như Lai là sự nghiệp hóa hương cao nhất của sự nghiệp hóa đối với các hương liệu đặc thù và có một loại hương liệu bay ngược gió. Đó là hương tích Như Lai vô hạn.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ trình bày.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa cha, chúng con vô cùng xúc động khi nghe cha khai thị về đề kinh hôm nay: Hương tích tinh hoa hạt tâm ưng sinh và vạn hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa. Thì chúng con đã thấy được tính biện chứng về tổng hàm hoa của Trung Tâm Vạn Năng đã thể hiện qua hệ thống lập thể của nhị nguyên. Thống hóa đã cho tất cả muôn loài những hương hoa kỳ diệu và điều đó đã thể hiện lên muôn màu sắc rực rỡ, cùng mang theo những hương liệu tinh hoa đặc thù ấy cho con người thưởng thức để cùng điểm tô trong nhựa sống của cuộc đời, để được sống và kết tinh tinh hoa mà trở về trong giá trị siêu thể hương tích tinh hoa. Thế là không có một loài hoa nào trên thế gian mà có thể sánh bằng tinh hoa hương tích của siêu năng và siêu linh năng. Như vậy, nghiệm chứng về giá trị biện chứng của muôn loài hoa cười vui khoe sắc, khoe hương trong thế giới này, cũng như muôn vàn những tấm gương tốt từ trong cuộc sống của các loài cùng duy ngã đại thể, đã nói lên giá trị của tình yêu. Thì chính tình yêu đó cũng từ Thống hóa vô cùng đã cho và cũng chính tình yêu đó để chúng con được kết tinh tinh hoa trở về trong siêu thể hương tích. Như vậy, không có hương nào hơn hương tích của Như Lai, của Bồ Tát cùng các Thánh Nhân. Tất cả những loài hương của thế gian là thuộc về lập thể giới hạn và bay theo chiều gió. Còn hương của Như Lai, Bồ Tát và Thánh Nhân là hương của siêu thể, siêu linh, siêu năng. Thì hương đó có thể bay ngược chiều gió và bay khắp cùng cả vũ trụ vượt cả không gian và thời gian. Đó là hương tự tính đã thống nhất cùng Trung Tâm Vạn Năng và phát ra ánh sáng chân quang, là hương đã kết tinh tinh hoa chân tâm tròn đủ của tổng hàm hoa vũ trụ, đã trở về trong chân tính tự tính.
Như vậy, nhân ở vạn hoa chế xuất, tức là tất cả những sự sống trong đời sống của thế giới nhị nguyên, cùng tất cả những hệ thống lập thể ấy là chứa nhóm chất liệu tinh hoa của tổng hàm hoa Trung Tâm Vạn Năng. Vì không có một lời nói nào, một hành vi nào mà không cho chúng ta một bài học quí. Như vậy, tất cả vạn pháp đều là tinh hoa và chúng ta hoàn toàn có quyền thu nạp những tinh hoa ấy để thăng hoa và thành tựu hạt tâm lý tính đạt đến đỉnh quang vinh.
Ngài dạy: Tinh hoa là nền tảng của sự hóa chế và sự xuất hiện trên mặt bằng của tính biện chứng, thì chính mặt bằng ấy đã thấy trước mắt về giá trị tổng thể của hoa. Ta thấy tất cả các loài hoa đều không giống nhau, mà con người không thể làm được điều đó. Con người chỉ có nhân bản và sao chép nó, hoặc là duyên lập và chế xuất theo nguyên tắc của định luật hóa đối với hệ thống Thống hóa. Dù con người có chế xuất được các loài hoa, thì cũng không tách rời hệ thống hạt tâm của hệ thống Thống hóa tổng hàm hoa mà có thể chế xuất được nó. Chế biến và xuất hiện trong sự nghiệp hiện hữu từ siêu thể đến thể và từ siêu tính đến thể là hoàn toàn nằm trong định luật hóa của tổng thể vũ trụ quan. Như vậy, hương tích của Như Lai là hương tích cao nhất của các loại hương.
Kinh Hương Tích đã được thể hiện trong tính biện chứng của vạn hoa và vạn hoa là mặt bằng của kinh Hương Tích đối với giá trị hóa. Như vậy, giữa Như Lai và các loài hoa, giữa thánh nhân và các loài hoa, giữa thần nhân và các loài hoa, giữa con người và các loài hoa đều là tổng hợp các loài hoa trong giá trị hóa đối với hạt tâm lý tính tổng thể tinh hoa. Chúng ta lấy hoa làm tượng trưng cho tổng thể tinh hoa hoàn toàn đúng trên tinh thần biện chứng và có tính khoa học, trong giá trị tổng hàm hoa và giá trị siêu sắc năng hóa sắc năng.
Như vậy, biện chứng pháp của vạn hoa là chứng minh cho giá trị của vạn năng hoa. Thế là Trung Tâm Vạn Năng vạn năng hoa. Thì tổng thể hàm hoa của Trung Tâm Vạn Năng đã trình bày khắp cả tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) muôn vạn loại hoa. Từ sắc hoa, đài hoa, cánh hoa, hương hoa đã rực rỡ khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Khi càng lên cảnh giới cao thì sắc hương của các loài hoa càng cao cấp và có tính bền vững hơn. Nên có hoa Chiên Đàn, hoa Mạn Đà La…hoa ấy không mọc trên thế giới dục giới, mà mọc trên cảnh giới của sắc giới.
Kinh Hương Tích là kinh của giá trị tổng thể tinh hoa và phát hệ qui chiếu của sự nghiệp hóa hoa đã được tụ kết trong sự nghiệp vạn năng hóa vạn hoa.
Chúng ta thấy các quả vị cao nhất của cấp độ hóa thuộc về hoa, nên Như Lai lấy hoa Sen làm đài trụ kiếm. Mà Ngài không lấy tất cả mọi vinh quang về các đài rồng và ngai rồng. Hoặc những địa vị ở các cấp độ thuộc về ngai thì đối với Như Lai không cần thiết. Đức Như Lai ngồi trên ngôi Sen là hoàn toàn chiến thắng về tổng thể hương tích và thành lập được tổng hàm hoa của hương tích Như Lai. Và ngồi trên hoa Sen là biểu thị cho sự vượt thoát ra khỏi tam giới. Chỉ có hương tích Như Lai và đài hoa Như Lai mới có thể thoát được tam giới. Vì đó là chất liệu hương tích không dính mắc tất cả mọi lập thể trong đời sống của giới hạn, mà thường là địa vị càng cao thì sự sa đọa càng lớn. Nghiệp dĩ của loài người từ các địa vị và địa vị tung hoành làm mất đi hương tích Như Lai. Và hương tích Như Lai là hương tích tổng thể hàm hoa. Chính địa vị đã bóp chết giá trị hương tích và cũng chính xa lìa địa vị sẽ làm khơi quật và làm sống lên hương tích. Thế nên xa lìa mọi địa vị để nhằm mục đích hóa hương tích và thành lập hương tích trên đài sen.
Nếu Như Lai không ngồi trên đài sen, thì sẽ ngồi trên bí tích tinh hoa tinh bản của chính mình. Nếu tinh bản Ta là Rồng, thì Rồng hãy đi phun nước. Nếu tinh bản Ta là Trâu, thì Trâu hãy đi cày. Nếu tinh bản Ta là Voi, thì sức mạnh hút nước tinh hoa để phun ra nhuần nhiệm cả trái đất và Như Lai sẽ ngồi trên những tinh bản hoa, để thực hiện những công trình hóa đạo. Như Lai không bao giờ ngồi trên các ngai vàng đế chế, để bị kẹt trong mọi giá trị hóa mà làm mất đi hương tích Như Lai.
Kinh Hương Tích là một trong những kinh sức mạnh nhất và thể hiện tính chất liệu sống và sống bằng tinh hoa. Như vậy nếu ai sống bằng tinh hoa thì nhất định sẽ có hương tích. Mà hương tích ấy là không mời gọi, vì chính hương tích đã có trong tâm pháp hạt tâm. Hương tích không phải là vô tưởng, mà hương tích là Trung Tâm Vạn Năng hóa. Hương tích không phải là biến đổi giá trị hóa trung tâm, mà hương tích lại được hội tụ về trung tâm để hợp chiếu ánh sáng hương tích. Hương hoa hương tích đã được thuần khiết và thành lập được pháp thân hương tích Như Lai.
Chúng ta đã bích dụ được tất cả vạn hoa trong tổng hàm hoa của hóa thì nhân bản đại thể cũng được xếp vào hàm hoa ấy, nên nhân bản đại thể đã hóa được hương tích Như Lai. Đó là hương siêu thể. Hương tích Như Lai đã hoàn toàn được chứng nghiệm trong giá trị hóa pháp thân. Tất cả những vị đã lâm diệt của các hệ thống Tổ và các bồ tọa cao cấp của hệ thống Tổ, đều phát ra những mùi hương lạ trước giờ đi và sau giờ đi. Như đức Chơn Hồng Bát Nhã đã phát ra mùi hương tích tại trước điện thờ và khiến mùi hương ngất ngây trong não bộ thần kinh của các Tôn Ni và tất cả đều sủng ái mùi hương ấy từ siêu thể phát ra. Mùi hương ấy đã chứng minh được giá trị thực tướng của sự nghiệp hóa thân và thành đạt được giá trị chính vị siêu thể đối với hương tích Như Lai trong hệ thống lập địa của Tứ Thánh.
Như vậy, chúng ta không còn ngờ vực gì đối với tổng hàm hoa siêu sắc năng hóa sắc năng của Trung Tâm Vạn Năng. Chúng ta không thể chối bỏ giá trị Trung Tâm Vạn Năng hóa vạn hoa và vạn hoa chế xuất trong hệ thống tâm hạt hợp chiếu, qua mặt bằng của vạn hoa đã tri kiến rõ ràng điều đó.
Ngài bảo ông Chơn Minh Ứng Hội trình bày.
Ông Chơn Minh Ứng Hội: Thưa Cha, tổng hàm hoa của trung tâm đã ban cho muôn loài và vạn vật cùng duy ngã đại thể sự sống để kết tinh trở về với thực tướng của nó. Về tính khách quan thì vạn hoa được kết tinh theo qui luật của Vận luật tuần hoàn và đã phát ra những mùi hương hoa đặc trưng của các loài hoa. Đối với con người cũng được thể hiện qua sự khổ luyện, công luyện để kết tinh tinh hoa trong vạn pháp. Như danh thơm của các vị thánh nhân, vĩ nhân, Phật nhân đã để lại cho hậu thế mà không có thời gian và không gian bị giới hạn trong tiếng thơm đó.
Ngài dạy: Tóm lại đề kinh này ta thấy hương tích không tách rời tinh hoa mà có. Nên nói rằng: “Hương tích tinh hoa hạt tâm ưng sinh, vạn hoa chế xuất tâm hạt hợp hóa”, nguyên tắc này không bao giờ thay đổi từ hạ tầng đến thượng tầng. Nếu đứng trên tinh thần khách quan thì các loài hoa đều có trung tâm và tổng hàm hoa hoàn toàn có trung tâm. Trung Tâm Vạn Năng là tổng thể của hàm hoa đối với sự nghiệp hóa kinh Hương Tích. Như vậy, kinh Hương Tích là nhờ hạt tâm hóa, vượt trên hạt tâm hóa, thì tổng hóa Trung Tâm Vạn Năng hạt tâm. Thế thì Trung Tâm Vạn Năng là một trong những tính bất biến đổi của sự nghiệp hóa vạn hoa và vạn hoa đã thành quỹ đạo kinh Hương Tích.
Ông Chơn Quốc Chính Thống xin phát biểu: Thưa Cha, thường thì con người chúng ta cho rằng kinh điển là nằm trong tất cả các tòa bảo, tòa kinh, hay ở một lãnh vực nào khác mà nó không gần gũi với cuộc sống của nhân sinh. Nhưng hôm nay chúng con học đề kinh Hương Tích thì thấy rằng đang tràn ngập về giá trị hương tích của Trung Tâm Vạn Năng, thì mới có chúng ta hôm nay và được biện chứng qua các loài hoa và cao hơn nữa là hạt tâm nhân bản. Nên hương tích tinh hoa hạt tâm ưng sinh này không bao giờ tách rời ra khỏi đời sống của duy ngã vạn pháp. Đối với nhân bản đại thể dù có ngộ hay chưa ngộ về kinh Hương Tích này, cũng đều trở về với mục tiêu ấy thì mới kết tinh được giá trị tinh hoa. Nên con người ngày hôm nay dù như thế nào, thì từng bước cũng phải trở về với thực tướng của hương tích Chiên Đàn của Phật quang thường chiếu. Nên con thấy rằng đề kinh này rất thực tế và là một thực tướng trong cuộc sống. Đây là đỉnh cao của Thống hóa Trung Tâm Vạn Năng đã sinh hóa và trở về trong giá trị của hương tích tinh hoa, cũng đồng nghĩa với trở về tâm vật hội tụ, thì đây là đỉnh cao của sự nghiệp cứu cánh giải thoát.
Ngài dạy, nếu chúng ta đã ngộ nhập được giá trị tổng thể hàm hoa ấy, thì chúng ta phải lo chăm sóc kết tinh tinh hoa chân tâm kim cương. Nên đức Như Lai nói: “Trong mỗi chúng sinh đều có một đài hoa liên hoa và một đài hoa kim cương”. Thế thì chúng ta cũng trực thuộc loài hoa. Nên Như Lai thiết lập những bồn kinh lớn đều mang tên hoa, như kinh Hoa Kim Cương, kinh Hoa Hoàng Kim, kinh Hoa Nghiêm và kinh Diệu Pháp Liên Hoa.



BIỆN CHỨNG PHÁP THÀNH PHẨM HOA NGHIÊM VÀ DUY NGÃ HÓA HOA NGHIÊM
Hoa nghiêm và Pháp hoa nhân đâu mà có?
Về mặt bằng Duy ngã hóa Hoa nghiêm, thì chúng ta liền biết Duy ngã vạn pháp hóa Hoa nghiêm. Nếu ở thượng tầng thì Trung tâm vạn pháp hóa Hoa nghiêm đối với các hệ thống của ngôi sao kinh điển. Còn về hạ tầng vẫn có giá trị biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm trong mặt bằng đời sống của các thế giới.
Nếu nói Hoa nghiêm mà mơ hồ không chứng minh được thì chưa phải là Hoa nghiêm tổng thể. Nên hôm nay chúng ta phải luận chứng để thấy được Hoa nghiêm có hiện diện trong đời sống của Duy ngã. Và thấy được thực tướng của Hoa nghiêm để nhìn nhận tính Hoa nghiêm tổng thể của vũ trụ quang mà Như Lai đã thuyết cách đây 2554 năm và kinh điển ấy mãi mãi không bao giờ thay đổi.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển nói về tính biện chứng thành phẩm Hoa nghiêm và Duy ngã hóa Hoa nghiêm?
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, biện chứng pháp về thành phẩm Hoa nghiêm và Duy ngã hóa Hoa nghiêm, thì trên hành tinh đã có những sự thành công của các thế hệ đi trước, hoặc các đất nước đã trãi qua nhiều thời kỳ mà các bậc vĩ nhân, thánh nhân đã hóa thân trong công án lập nên những công trình để tri kiến cho Duy ngã. Như đất nước Campuchia đã để lại cho nhân loại những chùa-đền-tháp và những kỳ quan thánh tích rất vĩ mô và trang nghiêm. Tức Phật đạo đã hóa trang nhiêm trên đất nước ấy.
Về Duy ngã hóa Hoa nghiêm như đức Phật thành tựu đã thuyết giảng được Tam tạng kinh và trãi qua 2554 năm Tam tạng kinh của Ngài vẫn phát triển và thành tựu nhất định đối với hệ thống Duy ngã. Vì Ngài biểu trưng cho Duy ngã cấp cao nhất, cùng các vị Tổ và các vị chân sư như thánh Gan Di v.v…Đã làm nên những kỳ tích vô cùng cho sự phát triển của Phật đạo trên hành tinh này. Đó là tính biện chứng của Duy ngã hóa Hoa nghiêm đối với các vĩ nhân, thánh nhân đã để lại cho nhân loại những bộ kinh rất quí để cứu tâm pháp chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp này; cùng rất nhiều những bậc giác ngộ đã phát tâm làm những việc từ thiện. Thì chính ngay đó là sự thành công của những bậc vĩ nhân từ Duy ngã đã hóa Hoa nghiêm trong hệ thống của Duy ngã đại thể.
Ngài bảo ông Chơn Nhật Đàn Sơn luận bày.
Ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Thưa Cha, biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm và Duy ngã hóa Hoa nghiêm. Trên thế giới trãi qua các thời kỳ lịch sử đã có các tiền nhân, vĩ nhân đã để lại những tác phẩm kì quan của thế giới, như đền Ăng co, Kim Tự Tháp và Tháp Ép phen v.v…Thì những tác phẩm đó mang tính Hoa nghiêm. Tức là sự kết tinh những tinh hoa trong tác phẩm đó.
Về Duy ngã hóa Hoa nghiêm ví dụ như Đức Thích Ca đã từ bỏ ngai vàng ra đi tìm chân lý và Ngài đã thành tựu để lại tinh hoa pháp là Tam tạng kinh cho nhân loại. Và tinh hoa thể thì để lại ngọc xá lợi. Đó là biện chứng cho thành phẩm Duy ngã hóa Hoa nghiêm.
Như vậy, nói đến giá trị Hoa nghiêm là nói đến thành phẩm của Duy ngã khi đã đạt được tính Bát nhã. Điển hình như Phật Thích Ca, vua Trần nhân Tông và các vị Tổ…đã kết tinh được tinh hoa và đem lại những lợi lành cho nhân loại.
Ngài dạy: Đứng trên tinh thần Công Luật tổng tinh hoa vũ trụ, thì tổng tinh hoa vũ trụ là gốc của Hoa nghiêm và Pháp hoa. Nếu vũ trụ không có một hệ thống tinh hoa nào cả, thì muôn đời và mãi mãi không bao giờ hóa được Hoa nghiêm và Pháp hoa. Vì vậy chúng ta xác định Trung tâm vũ trụ là tổng thể tinh hoa hóa và hóa vạn loại, hóa muôn loài và hóa vô ngại.
Như vậy, Trung Tâm Vạn Năng hóa vạn pháp, hay tổng thể tinh hoa vạn năng hóa vạn pháp, hay là Duy ngã Trung tâm vạn pháp kinh hóa vạn pháp…Thì đó đều là nguồn gốc của Hoa nghiêm và Pháp hoa. Đó là tính khách quan.
Nhưng đối với biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm và Pháp hoa thì chúng ta phải thấy rằng: Các đơn vị hóa học ở cấp độ cao nhất đều có thể hóa các sản phẩm cao cấp. Đó là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm và thành phẩm Hoa nghiêm này rất khách quan. Vì nếu không có tổng tinh hoa hóa vạn pháp thì không có một công trình gì có thể mọc trên đất và hình thành các trung tâm kỳ quan trên thế giới. Mặc dù nó không phải là thực tướng, nhưng nó cũng bày tỏ được giá trị của thực tướng qua hệ thống tổng tinh hoa hóa vạn pháp và hình thành Duy ngã đại thể.
Nên ta có thể nói Duy ngã đại thể là mối chốt của sự nghiệp hóa và thành đạt giá trị thành phẩm của sự nghiệp hóa. Vì sao? Vì duy ngã đã từng làm ra kỳ quan và tất cả hệ thống kỳ quan ấy không có một thứ kỳ quan nào mà không lấy từ chất liệu tinh hoa của vũ trụ để dựng lên công trình ấy. Ví dụ như Kim tự tháp, hoặc đền Ăng co là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm. Và tất cả những công trình nào mà làm cho nhân loại sửng sốt và khuất phục ở các loại đầu tư về hệ thống vật liệu cao cấp đều có thể nói là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm.
Nếu chúng ta thấy một cây cầu được bắt qua một con sông dài với những thiết bị cao cấp và những trình độ Duy ngã cao cấp, cùng tất cả những năng lực thuộc về đa năng và siêu năng để thực hiện cây cầu ấy. Thì đó là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm.
Nếu hàng trăm tác phẩm ra đời trên một quốc gia, một xã hội và họ đi theo con đường chính nghiệp, chính pháp, giống như những đất nước đã lấy Phật đạo xây dựng quốc độ. Thì quốc độ đó chính là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm.
Như vậy, sau khi đức Phật diệt độ thì Ngài để lại các biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm, đó là ngọc xá lợi, đó là cây Bồ đề Lạc thọ. Đó là những công trình thánh tích gắn liền với đời sống và ánh sáng biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm. Như Ngài để lại cho chúng ta 33 vị Tổ và đem ánh sáng loang tỏa khắp 5 châu, mà nhất là chuyển lập thành công giá trị Châu á trở thành những giá trị Phật đạo đã có nhiều nước ra đời như Nhật Bản – Trung Hoa – Thái Lan – Campuchia – Lào và rồi đây sẽ có một đất nước nở hoa Hoa nghiêm đó là Việt Nam. Như vậy, chúng ta thấy Hoa nghiêm không phải là xa xôi trừu tượng, mà Hoa nghiêm đức Như Lai đã để lại trong lòng đại thể và chính pháp ấy cuồn cuộn chuyển động và hình thành trong một qui trình hóa, để rồi cả hàng trăm ngàn hoa được nở ra trên những đất nước ấy và đem lại sự hạnh phúc vô cùng trên con đường Phật đạo. Đó là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm.
Đất nước chúng ta có những biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm nào?
Đó là nhà Trần và nhà Lý. Vì suốt cuộc đời của nhà Trần và nhà Lý làm vua không tách rời Phật pháp. Ta thấy hai nhà này đã thể hiện bí tích và thành phẩm của Hoa nghiêm và mãn đời các vị vua ấy đều đi xuất gia. Truyền thống ấy nó tốt tươi, thịnh trị và vô cùng hạnh phúc ở một thời kỳ Phật đạo chấn hưng trong đại cuộc của đất nước, thì Phật đạo đã làm được những công trình kiệt xuất và Phật đạo đã đi sâu vào đời sống máu xương của nhân loại. Phật đạo đi vào trái tim và từng tế bào của nhân loại và nở ra Hoa nghiêm. Hoa nghiêm không còn là trừu tượng, mà Hoa nghiêm đã được biện chứng pháp trong kinh và thành đạt Hoa nghiêm biện chứng pháp trong kinh.
Như vậy, sau khi Phật diệt độ từ kho tàng Tam tạng ấy mà hóa ra những công trình Phật đạo qua những hình sắc trang nghiêm của các hệ thống chùa chiền, miếu lẫm trong các hệ thống đất nước. Là nói lên giá trị văn hóa Hoa nghiêm được nở ra trong các lâu đài, đền – điện kim cổ. Và hôm nay cũng có một nét Hoa nghiêm nở tại Bia Sơn này.
Hôm nay chúng ta đã thấy được biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm thì dần dần chúng ta sẽ đi đến thực tướng Hoa nghiêm. Mà Như Lai muốn chúng ta đạt được đỉnh cao của Đại ngã và thành lập được kim cương chân tính Hoa nghiêm. Như vậy, chúng ta bèn thấy thành phẩm Hoa nghiêm trong thế giới này, là chúng ta liền biết cái tổng thể tinh hoa hóa thực tướng của Hoa nghiêm ở trong Trung Tâm Vạn Năng đã chuyển tải tổng thể tinh hoa đó ra cho Duy ngã hóa. Như hóa đền Ăng co, Kim tự tháp, hóa Nữ Thần tự do v.v…Vậy Duy ngã hóa kỳ quan, hóa những thành phố xanh sạch và hóa tất cả những gì tốt lành nhất là đồng nghĩa với Duy ngã hóa Hoa nghiêm.
Như vậy, chúng ta không còn mơ hồ, vì đọc kinh Hoa nghiêm và Pháp hoa mà không hiểu nghĩa lý của Hoa nghiêm và Pháp hoa, thì hôm nay thấy Hoa nghiêm và Pháp hoa đã hiện diện trong đời sống của chúng ta. Và Phật quang hóa Hoa nghiêm qua những công trình thiết lập quốc độ để lại rất nhiều những thánh tích, di tích đó cho mãi mãi đời sau nhân loại được hưởng thụ những công trình Pháp hoa và Hoa nghiêm mà chư Phật đã làm ra.
Như vậy, chư Phật muốn đến với chúng ta để trình bày về Hoa nghiêm thì Ngài đã đem hết tổng thể tinh hoa hóa vào sự nghiệp Duy ngã để hóa và Ngài không nói dối với sự nghiệp hóa Hoa nghiêm ở trong đời sống thế giới Duy ngã ấy.
Nếu không học bài này thì chúng ta sẽ hiểu Hoa nghiêm một cách mơ hồ và có thể biến Phật đạo thành thần linh, và biến Phật đạo thành ra không có nguồn gốc của tổng thể tinh hoa và không có nguồn gốc của hệ thống Thống hóa Trung Tâm Vạn Năng, thì Phật đạo ấy sẽ bị sụp đổ trong một sự biến độ và không giá trị trong hệ thống thành phẩm Hoa nghiêm ấy.
Như vậy, những công trình kỳ quan trên thế giới từ con người làm ra, thì con người đã có siêu sắc năng tri thức tinh hoa và con người đã có được vật chất tổng thể sắc năng tinh hoa nên mới hóa được Hoa nghiêm và Pháp hoa.
Bài học hôm nay chúng ta đã chọc thẳng vào minh triết cửu kinh, chọc thẳng vào trái tim của Công Luật vũ trụ để thấy được Pháp hoa và Hoa nghiêm một cách rõ ràng mà không bị mơ hồ bởi tư tưởng ý niệm về Pháp hoa và Hoa nghiêm.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói về thành phẩm của Pháp hoa và Hoa nghiêm.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, Cha đã khai thị cho chúng con rõ về biện chứng pháp thành phẩm của Pháp hoa và Hoa nghiêm và Duy ngã hóa Hoa nghiêm. Chúng con đã nhận thức sâu sắc rằng: Công Luật vũ trụ là tổng hàm hoa và chính từ nguồn gốc tổng hàm hoa đó nên mới hóa ra tất cả các loài hoa trên thế giới. Và biện chứng cho chúng ta thấy được giá trị tổng hàm hoa của vũ trụ đã được trình bày trong mặt bằng của Duy ngã vạn pháp. Như chúng con đã nhìn thấy được tất cả những công trình đa năng, siêu năng và những công trình mang tính quyền năng do con người làm ra. Thì giá trị tri thức đó đã biện chứng cho tổng hàm hoa siêu sắc năng của vũ trụ.
Như công trình Bia Sơn đây, nếu lui về thời gian của 2003 trở về trước, thì nơi đây chỉ là một khu rừng hoang sơ vắng lạnh. Nhưng hôm nay Bia Sơn đã trở thành một trung tâm sinh thái tuyệt vời và tương lai còn lớn hơn thế nữa. Thì cái gì đã chuyển đổi nó, đó là tri thức kinh điển của giá trị tổng hàm hoa siêu sắc năng, đó cũng là ánh sáng Phật quang thường chiếu hóa công trình Hoa nghiêm và Pháp hoa. Vì từ những đống đá ngổn ngang không có thông số xây dựng, bình thường khó có thể phân định được, vậy mà đã trở thành những tác phẩm vô cùng tuyệt mỹ và lung linh, còn quí hơn cả ngọc cả vàng. Có thể cho rằng vượt cả thời gian. Thì Pháp hoa và Hoa nghiêm đã được biện chứng trên các công trình ấy. Đó là Thạch Cung Linh, Hoa Thủy Tiên, Thạch Gia Bảo, hoặc Đại Hùng, Đại Lực, Đại Bi…
Như các đơn vị hóa học bản chất của nó đã có tổng hàm hoa. Mặc dù nó chỉ là một đơn vị đơn giản thôi, nhưng không phải đơn giản. Vì những đơn vị ấy nó đã được cơ cấu trong hệ thống thống nhất của giá trị hóa đối với tổng hàm hoa và chính từ sự thống nhất đó mà nó đã kết tinh được giá trị bản chất tổng hàm hoa để trở về với nó và nó đã kết tụ được những giá trị tinh hoa tuyệt vời, đó là những tác phẩm long lanh như là vàng, ngọc và kim cương…và nó đã trở thành bất biến trên vũ trụ này, thì thành phẩm ấy bản chất nó là giá trị tổng hàm hoa được kết tinh từ những đơn vị hóa học mà ra.
Như một cái hồ bùn kia cũng không thể đơn giản, mà trong đó nó rất phức tạp. Vì nó đã thống nhất được các đơn vị hóa học mang các chất liệu tổng tinh hoa đã có đủ trong hồ bùn đó, nên nó đã nở ra những đóa sen thanh khiết, đó là biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm. Cũng giống như Duy ngã hóa Hoa nghiêm và Pháp hoa thì cũng không thể tách rời mặt bằng của Duy ngã vạn pháp kinh mà có. Vì thế mà các Phật và bồ tát đã thành tựu Hoa nghiêm và hóa Hoa nghiêm cũng hóa trên mặt bằng Duy ngã vạn pháp kinh.
Như vậy, Trung tâm Duy ngã vạn pháp kinh là mặt bằng duy nhất, quí nhất mà chúng con phải đi bằng đôi chân của Duy ngã để trở về thành tựu giá trị tác phẩm của Hoa nghiêm và Pháp hoa.
Ngài dạy, từ lâu con người ta cứ hiểu Hoa nghiêm như một sự trình bày và giới thiệu ở một cảnh giới nào đó, mà do đức Phật thấy Hoa nghiêm đó mà nói, hoặc là Pháp hoa cũng thế. Nhưng thật ra Ngài chỉ Hoa nghiêm và Pháp hoa nó có 3 tầng thượng, trung, hạ. Tầng thượng là lõi và thực tướng Hoa nghiêm và Pháp hoa. Còn tầng trung và hạ là các tầng hóa thì hoàn toàn không mất bản chất của Hoa nghiêm và Pháp hoa bao giờ.
Trước đây Cha chưa nói được là vì các con chưa đi qua hệ thống cửu kinh. Bởi vì sự trái nghịch của thế giới Duy ngã đại thể là còn quá nhiều biến đổi và đau thương. Nên muốn trình bày về Hoa nghiêm và Pháp hoa một cách triệt để thì rất khó. Vì tỉ lệ thống khổ nhiều hơn Hoa nghiêm và Pháp hoa. Như vậy, nói Hoa nghiêm và Pháp hoa là nói cho những người đã thành tựu 4 quả thánh, nói cho những vị đã kết tinh được Bích chi, nói cho những bậc Bồ tát hóa thân, chứ không thể nói cho người sinh tử tương tục còn chịu các nạn dữ và đọa đày không chấm dứt. Thế thì Hoa nghiêm có thể nói cho những người có phúc âm, có thiện nghiệp và có chính vị, hoặc là có tri thức của những công trình bác học, bát tinh vương; của những công trình khoa học mà họ đã phi vượt cả thời gian để trình bày tác phẩm của họ, thì chúng ta cũng có quyền lấy thành phẩm Hoa nghiêm ở đây mà nói.
Như vậy, Duy ngã hóa Hoa nghiêm là hoàn toàn không bẻ gãy tính minh triết. Ví dụ: như nếu Duy ngã chúng tôi tập hợp ý chí để xây dựng một quốc độ, thì tất cả những giá trị tri thức cao cấp của chúng tôi, cùng tập hợp những chất liệu cao cấp xây dựng thì thành phẩm Hoa nghiêm sẽ có ở đây..
Biện chứng pháp thành phẩm Hoa nghiêm là hoàn toàn không ngoa và không vô tưởng, mà những công trình ấy đã hiện nguyên trên thế giới Ta bà. Như vậy, Hoa nghiêm tùy theo phần lập thể mà hóa Hoa nghiêm. Như Lai nói rằng: Hoa nghiêm nở khắp tam thiên đại thiên thế giới và tùy theo mức độ giác ngộ của tri thức ánh sáng mà thiết lập giá trị Hoa nghiêm ấy. Nên ta nói rằng: Duy ngã hóa Hoa nghiêm, là Trung Tâm Vạn Năng hóa Hoa nghiêm, là Oai âm dương vạn tỏa hóa Hoa nghiêm, là Vận luật tuần hoàn hóa Hoa nghiêm, là Duy ngã vạn pháp kinh hóa Hoa nghiêm, là Thống thức vô cực quang ánh sáng tuyệt đối hóa Hoa nghiêm và Tâm vật hội tụ kinh là thành phẩm của Hoa nghiêm.
Hôm nay, ta nói kinh này tất cả các Thiên ma phải cuối đầu thần phục, vì ta có chính thuyết ánh sáng vô cực quang, là sức mạnh không có ánh sáng địch và không có ý thức phân biệt và phân biên giá trị Cửu Kinh Minh Triết của ta. Thì Trung Tâm Vạn Năng hóa Duy ngã, hóa Phật quang, hóa muôn loại hoa trong đời sống của thế giới ấy hoàn toàn là sự thật.
Kinh này là minh triết, là cửu kinh không thuộc về thần học, không thuộc về ảo, không thuộc về thuật linh và phù thủy phép lạ. Những thứ ấy không có trong đạo Ta, vì đạo Ta là đạo của chân như. Mà chân như thì tất cả các Bát tinh vương cho đến học giả đều tập hợp về tâm chân như để uống nước pháp chân như, sống trong giá trị vô thượng của chân như, ánh sáng viên giác của chân như, Hoa nghiêm của chân như, Pháp hoa của chân như và thứ gì cũng chân như thì nó vĩnh hằng trong sự nghiệp đời đời và không biến đổi ấy.
Như vậy, giá trị tịch chiếu của Hoa nghiêm và Pháp hoa đã ở trong Trung tâm Duy ngã vạn pháp kinh, đã ở trong Trung tâm vạn năng kinh và được chuyển tải trong Vận luật tuần hoàn một cách bảo hòa để kết tinh được Hoa nghiêm, Pháp hoa và được kết thành trong tổng thể tam thiên đại thiên thế giới. Từ các cõi được sống, đều có thể là nhân tượng tinh hoa của giá trị Hoa nghiêm và Pháp hoa.


TINH KHÍ THẦN TAM CHÂN HỘI TỤ – VẠN NĂNG KINH TÂM CHỦ PHÁP HOA

Cửu kinh minh triết là khai thác tận cùng về nguồn gốc, đồng thời làm sáng tỏ tất cả những ngọn ngành, mà không có mâu thuẫn giữa gốc và ngọn, để không còn lầm lẫn bởi cành ngọn đó. Chúng ta không bao giờ lấy ngọn bỏ gốc, hoặc lấy gốc bỏ ngọn. Mặc dù ta biết cơm vỏ là giả, nhưng khi hạt chưa già thì không thể bỏ cơm vỏ, vì cơm vỏ là để bảo bọc và nuôi cái hạt. Ta biết rằng nó là giả, nhưng giả này nó có giá trị nhất định cho cái thật, thì giả cũng là hiện thân của cái thật.
Đức Phật nói giả là nói cho những người quá đam mê vật chất, còn những người đã dứt trừ đam mê vật chất thì Ngài nói: vật chất vẫn là nền tảng của sự hóa thân đối với vạn pháp.
Ta phải biết vật chất là sinh diệt tương tục vô tận, nhưng tính ánh sáng của vật chất và bản chất tinh hoa của vật chất là không hủy diệt thì nó không phải là giả. Nên ta đưa ra một câu khẩu quyết để thấy được bản chất Pháp hoa và Pháp hoa nở từ đó ra. Ngày xưa đức Phật nói rằng: “Tinh khí thần tam chân hội tụ – Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa”.
Về vũ trụ quan ta thấy rằng: Thức thống thần đại ngã ưng vô biên sở đó cũng là Thần. Trung tâm vạn năng tổng hàm hoa đó cũng là Tinh và oai âm dương vạn tỏa đó cũng là Khí. Thế thì Tinh khí thần tam chân hội tụ – Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa, là nói sác sườn về giá trị hóa của vũ trụ quan. Thì khẩu quyết này rất quan trọng để đột phá đi vào vũ trụ quan và làm vững chắc cho hệ thống Cửu kinh. Thì đây là chi kinh mang tính hỗ trợ cho sự nghiệp chuyên môn hóa hành tinh.
Thống hóa là chủ thể của hành tinh, điều đó là đương nhiên rồi. Nhưng ta phải thấy con người là chủ thể của hành tinh. Vì sao? Vì con người một khi chưa giác ngộ thì chính nó có thể phá hoại hành tinh. Hóa ra Cha chúng ta làm mà chúng ta lại phá. Thì ở đây muốn nói rằng: Cha chúng ta làm ra thì chúng ta phải hỗ trợ và tiếp lực cho Cha mình để bảo trì những giá trị đó đối với hành tinh và con người.
Nghĩa của Tinh khí thần là: Tinh là tinh hoa, Khí là khí lực, Thần là thần quang. Như vậy Thần quang – khí lực – tinh hoa, Ba chân hợp lại bảo hòa vạn năng. Nếu phần dưới của nhân sinh quan mà hợp lại được Tinh khí thần thì bảo hòa vạn năng. Thật ra vạn năng là luôn luôn có một quỹ tích tuyệt đối trong giá trị hóa đối với vũ trụ. Nhưng nếu phần dưới chúng ta làm băng hoại đi thì mức độ thể nhập chân tính bảo hòa vạn năng của chúng ta bị mất. Chúng ta phải làm rõ chỗ này để không còn chủ quan mà làm mất đi nền của hệ thống Cửu kinh và không thiết thực thực tướng của hệ thống Cửu kinh. Thì Cửu kinh ấy chỉ là cái bóng của tư tưởng mà thôi.
Sở dĩ đức Như Lai thành đạt được Ngọc Xá Lợi là thể hiện về bản chất của Pháp hoa, của Kim cương, của Hoàng kim và thể hiện bản chất của chân như pháp tính, thì cũng thuộc khẩu quyết của bài này. Nên khẩu quyết ấy Như Lai đã nói với Chư đại Bồ tát là: “Tinh khí thần tam chân hội tụ – Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa”. Đó là khẩu quyết mà không thể thay đổi nó, để có được giá trị toàn tính, toàn tâm, toàn lực, toàn pháp và toàn hóa. Nghĩa của chữ toàn nó đã hình thành một cách triệt để trong giá trị “Tinh khí thần tam chân hội tụ – Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa”.
Chúng ta không thể mơ hồ về pháp hoa theo kiểu tụng niệm nhiều ngày đêm mà pháp hoa vẫn chưa đến với chúng ta. Vì chúng ta chưa có khẩu quyết về sự nghiệp đó, nên việc tụng Pháp hoa chẳng khác nào như con vẹt. Như vậy khẩu quyết này là lột xác cả một hệ thống Pháp hoa trong lý và sự và hình thành giá trị của tính thể dung thông, tâm vật hội tụ. Vì phép hội tụ của Như Lai là phép cao nhất của mọi giá trị đối với đời sống nhân sinh và vũ trụ.
Ta thấy cái gì không hội tụ là bị hủy diệt. Nếu con người không hội tụ được ngũ tạng lục phủ, hay không hội tụ được các hệ vi mạc, các cơ năng, hoặc không hội tụ được tinh khí thần, thì đồng nghĩa với đánh mất bản địa và trở thành chết mất.
Nên “Tinh khí thần tam chân hội tụ – Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa” là kinh quyết – khẩu quyết của Như Lai. Nó không phải là một đoạn truyện ngắn mà là quỹ tích thực tướng của giá trị hóa và thành lập Cửu kinh minh triết trên hệ thống vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Đối với thế giới nhị nguyên không bao giờ có được cái đúng tuyệt đối. Nhưng cái đúng ở đây chúng ta đủ sức công bằng của cái đúng và không cho chênh lệch của cái đúng đó. Là cái đúng triệt để của giá trị tương đối và không thấp hơn tương đối. Vì nếu thấp hơn tương đối thì khó bề trở về tuyệt đối. Như vậy ta đi từ tương đối để trở về với tuyệt đối .
Nên chúng ta phải học để biết, biết được nhiều để lập chí, biết được nhiều để giữ khí, biết được nhiều để chúng ta khai thác những giá trị tinh hoa, biết được nhiều để chúng ta rực rỡ và quang minh với thần quang ý thức. Nếu không học thì sẽ bị u khuất và trầm uất, cũng có thể là đẻ sinh các tư tưởng không thực để rồi phá hoại tất cả những cơ bản của chân lý vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Như vậy trên các hệ thống kinh, mà trong kinh quyết của Như Lai muốn nói về Trung tâm vạn năng; thì Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa, tức là pháp hoa sinh đẻ từ vạn năng kinh, trong đó có Duy ngã vạn pháp kinh. Chứ nếu không có Vạn năng kinh và Duy ngã vạn pháp kinh thì Pháp hoa sinh đẻ từ đâu ra? Nếu không có nền mặt trần của giá trị hóa đối với Tinh khí thần tam chân hội tụ, thì nghìn đời pháp hoa không có đất dựng võ.
Nên nói rằng: muôn hoa đều mọc trên đất tốt và có nước, có khí hậu bảo hòa, cùng những tiết tấu bảo trạng giá trị hóa một cách thiết thực, thì hoa ấy mới được nở ra. Vì chân tính biện chứng pháp của giá trị hóa đều có những nền tảng thực hữu của giá trị tổng thể và không thể thiếu vắng những giá trị tổng thể ấy mà được xưng tán trong sức mạnh của Vạn năng kinh – Tâm chủ của vạn pháp và thành lập được pháp hoa.
Như vậy sự thể nhập khẩu quyết này là bày tỏ sức mạnh của sự nghiệp chuyên môn hóa hành tinh. Thì chúng ta là mối chốt của sự nghiệp chuyên môn hóa đối với đạo pháp và không thể thay đổi nó để có được những giá trị đại hóa trong sự nghiệp mà 10 phương đã ban cho. Ngày hôm nay và mãi mãi về sau trong sự nghiệp phá hoang lập nguyên của tinh bản Trâu vàng không thể đi khác con đường này. Vì con đường này là con đường duy nhất của sự nghiệp Chư Phật hóa thân và Chư Đại Bồ tát đại hành.
Ngài bảo ông Chơn Thăng Ấn Chuyển luận bày về 2 câu kinh ấy.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, Tinh khí thần tam chân hội tụ, như chúng con thấy gốc của vũ trụ là gốc của hội tụ, chính ngay hội tụ tổng tinh hoa ấy mà hóa sinh ra vạn pháp, nên vạn pháp đều có tổng tinh hoa của vũ trụ ban cho. Thì Duy ngã đại thể là sức hội tụ của tổng tinh hoa đã cho tròn đủ, nhưng vì chúng ta làm phân tán tinh khí thần nên bị sức hút của muôn sắc màu thế gian làm phân tán và đi vào trong nghiệp lực của sự thống khổ dãy đầy trên hành tinh này.
Nên ở đây Như Lai muốn nhắc cho chúng ta Tinh khí thần là cái gốc của sự hội tụ để trở về với tổng tinh hoa và chính ngay sức mạnh hội tụ đó sẽ làm sáng tỏ về sức mạnh hội tụ của vũ trụ đã có trong Duy ngã đại thể.
Nên các bậc Như Lai, bồ tát và thánh nhân nhờ sức hội tụ của tinh khí thần mới phát sáng ra các công trình, công án và làm lợi ích cho nhân loại. Đối với nhân bản chúng ta cần phải công năng rèn luyện qua hệ thống Cửu kinh minh triết, thì mới có sự hội tụ của tinh khí thần và phát ra ánh sáng để dẫn đến sự thành tựu của câu 2 là Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa.
Như vậy nếu tâm chủ của chúng ta đã thành tựu viên mãn, thì chắc chắn rằng các loại pháp tạng, pháp ý ở trong tinh hoa của tri thức sẽ phát ra, cũng như các đức Phật, Bồ tát đã thành tựu và vinh danh sự nghiệp pháp hoa trong hệ thống Duy ngã đại thể và làm nhiều lợi lành trong việc cứu độ cho khắp cả muôn loài.
Như chúng con thấy nguồn ánh sáng Cửu kinh minh triết của Cha là tổng tinh hoa, là Pháp hoa và Hoa nghiêm và đem lại mọi sự sáng rỡ trong giá trị tâm pháp chúng con. Thì đó là vạn pháp hoa Cửu kinh minh triết của Cha đã nở trong tri thức ánh sáng của chúng con và tương lai sẽ nở vạn pháp hoa cho cả nhân loại.
Ngài bảo ông Chơn Nhật Đàn Sơn luận thêm về khẩu quyết này.
Ông Chơn Nhật Đàn Sơn: Thưa Cha, 3 ngôi kinh chủ đã có tổng thể tinh hoa siêu sắc và sắc, có sức mạnh âm dương. Thì sức mạnh nói lên cái thần của vũ trụ quan, và trong sức mạnh siêu hành hóa đã mang tổng thể khí lực âm và dương. Như vậy trục của vũ trụ quan là gốc hội tụ của tổng tinh hoa vạn pháp và gốc hội tụ của sức mạnh vũ trụ quan, từ đó mà hóa sinh ra vạn loại. Tất cả vạn loại đều có tinh hoa và sức mạnh âm dương, mà đại diện cho vũ trụ quan là Duy ngã đại thể. Vậy nhân bản Duy ngã đã có tinh khí thần. Tinh là tinh hoa, thần là sức mạnh nội lực, khí là thông lưu các động mạch, tỉnh mạch cùng khí quyển. Như vậy các bậc Bồ tát và Như lai thành tựu Ngọc Xá Lợi và thành tựu pháp tính kim cương, tức là các vị đã hội tụ được tinh khí thần và thành tựu được pháp hoa chân tâm kim cương.
Ngài dạy: Tính cơ bản của Tinh khí thần mà nhân loại đã có là từ cái tổng thể của vũ trụ quan đã có. Nếu vũ trụ quan không có tinh khí thần thì chúng ta cũng không có tinh khí thần. Như vậy thì nhân sinh quan phải biết điều tiết tinh khí thần đó ở một qui trình thuận và chuyển tải tinh khí thần đó về chân tính. Khi điều tiết tinh khí thần một cách hợp lý thì tinh khí thần luôn luôn ổn định và không bị biến thái, thì sức mạnh của giá trị hóa chúng ta mới phát triển được .
Ở đây chúng ta có thể cho tinh khí thần ở một mức độ hợp pháp mà không quá đáng đối với việc phi pháp. Chớ Như Lai hoàn toàn không cấm đoán một cách nghiệt ngã về tinh khí thần đối với thế giới Duy ngã. Vì thế giới Duy ngã là thế giới hội nhập tinh khí thần và phát triển giá trị hóa tinh khí thần, để điều hợp tinh khí thần trong giá trị hóa, nhầm để kế thừa sự nghiệp Công luật vũ trụ và kế thừa sự nghiệp Công luật hành tinh, hoặc kế thừa sự nghiệp nhân bản thế giới. Nhưng không lạm dụng làm suy tổn tinh khí thần một cách quá đáng, thì sẽ bị phân tán giá trị trục đối với tâm pháp. Vì giá trị trục là tâm pháp và bản chất của vạn năng phải nương nơi tinh khí thần để hóa. Và nếu không có tinh khí thần để hóa, thì bản chất của vạn năng không thể hiện hết sức mạnh của tâm chủ đối với vạn pháp
Như vậy tâm chủ của vạn pháp hay gọi là: vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa, nó không thể tách rời giá trị nền hóa của tinh khí thần hội tụ và sức tròn đủ của tinh khí thần đối với vũ trụ và nhân sinh tuy 2 là 1, tuy 1 là 2, đã thống nhất một cách triệt để. Nên Như Lai đưa ra khẩu quyết này cho toàn thể các bậc hành giả có những tri thức cơ bản nhất trong đời sống của thế giới Duy ngã. Vì nếu ai làm tổn hại đến tinh khí thần thì giá trị quyết định con đường đi sẽ bị gãy đổ, hoặc là mục đích đến đối với các chuyên môn sẽ không nở được pháp hoa trên trái đất.
Ta thấy thế giới Duy ngã là bản chất sức mạnh của tinh khí thần. Nếu thần không phát sáng, khí lực bị phân tán và tinh hoa bị rã rời. Thì 3 chân này bị triệt rồi đâu còn hóa nữa. Nên tùy mức độ hội tụ tinh khí thần của nhân bản, quyết định công phu rèn tập để có tính cơ bản về sự hội tụ đó, thì chúng ta mới ổn định về tâm chủ vạn năng. Mà tâm chủ vạn năng là chủ thể của pháp hoa. Vậy, Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa, là chủ luôn cả tinh khí thần và tinh khí thần là tính cơ bản cho tâm chủ pháp hoa.
Nên ở đây ta có thể hiểu theo nguyên tắc là Tâm vật hội tụ, tính thể dung thông và Kinh 6 cũng nói đến phần này. Vì Kinh 6 là kinh quyết định cho sự hội tụ và tròn đủ bản chất hội tụ để đủ sức phát triển.
Một khi mà tâm vật phân tán ra nhiều mảnh vụn, nghĩa mảnh vụn là suy thoái nghiêm trọng về hệ thống cơ cấu và các sức tải trọng của khí lực đối với ngũ căn, khí lực đối với ngũ tạng và đối với năng lực sức mạnh của thân lập có hệ thống cơ cấu não bộ và não bộ có thể đại diện sức mạnh cho giá trị hồng quang, thì chúng ta hoàn toàn không đủ tải trọng, vì vậy mà chúng ta bị sụp đổ ở đây.
Một khi chúng ta có thân thể thì điều này là nguy hiểm. Cho nên hữu thân hữu họa, là vì chúng ta không tập hợp được tất cả những phúc âm cho tinh lực, khí lực và thần lực. Như vậy phúc âm ở đây là phúc âm có hệ thống và năng lực của giá trị phúc âm, mà không phải cầu vọng theo kiểu phi chân. Mà phúc âm là sức mạnh của sự tăng trưởng về tinh khí thần hợp nhất và phúc âm của giá trị phản chiếu ánh sáng của chân tâm; thì phúc âm ấy sẽ không bị biến đổi mà tạo thành phúc âm của giá trị pháp thân; giải trừ tất cả mọi họa nạn và giá trị sống của chúng ta có khác hơn tất cả những thế giới đang chìm sâu trong sự khủng bố.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ xác định về bài học này.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, Tinh khí thần tam chân hội tụ. Nếu nói về nguyên lý thượng tầng vũ trụ quan, thì 3 ngôi luôn hội tụ thống nhất. Tinh là tinh hoa, là muốn nói đến tổng hàm hoa Trung tâm vạn năng. Khí là khí lực sức mạnh, là muốn nói đến Âm dương vạn tỏa. Thần là thần quang, là muốn nói đến ánh sáng của Thống thức chân quang. Như vậy Tinh khí thần của vũ trụ quan là 3 ngôi hợp chiếu thống nhất của Thống hóa và từ đó mới hóa sinh ra muôn loài vạn vật
Như vậy nhân sinh quan là con người nhân bản Duy ngã đại thể đã có tinh khí thần hội tụ trong nhân bản đó, nhưng chúng con có trở về trong giá trị hội tụ đó hay không, thì đây là điều quan trọng nhất. Như chúng con liên hệ lại chi kinh đã học: Lý thống nhất trong cội nguồn chân tính, nhưng sự phân chia ngoài cành ngọn vô thường. Như vậy nếu chúng con không biết hội tụ tinh khí thần thì nó sẽ rơi vào chỗ phân chia và có thể dẫn đến làm rã rời cả nền tảng của sự nghiệp hóa. Như vậy chúng con phải quay về chỗ Sự phân chia vào định luật kết tinh. Tức là chúng con phải quay về với Tinh khí thần trong chính nhân bản chúng con.
Tinh là tinh hoa, nó đã ở trong xương tủy của con người, nhưng nếu chúng ta lạm dụng nó quá đáng thì chúng ta sẽ bị kiệt quệ và không thể tồn tại được. Khí là sức mạnh, là sự cân bằng của âm dương. Nếu chúng ta biết điều dưỡng khí lực và cân bằng được âm dương trong đời sống đó, thì sẽ có một sức sống rất vững chắc. Thần là sức mạnh hội tụ để phát sáng. Có nghĩa là chúng ta luôn luôn trở về trong tính thống nhất của 3 kinh trục và thuận theo Vận luật tuần hoàn chu kinh thì chúng ta hoàn toàn sẽ không mất tinh khí thần, mà lại được bảo hòa và hợp chiếu thống nhất tinh khí thần, thì nhất định chúng ta sẽ có Vạn năng kinh tâm chủ pháp hoa. Vì sao? Vì một khi tinh khí thần được hội tụ và phát triển, thì nó là biện chứng cho giá trị Tâm vật hội tụ kinh. Thì chúng ta sẽ có tâm chủ Pháp hoa tại đây. Vì sao? Vì Trung tâm vạn năng hóa vạn pháp, Trung tâm vạn năng hóa tính năng của các loài và Trung tâm vạn năng hóa Duy ngã. Như vậy thì tất cả tinh hoa trong muôn loài vạn vật và vạn pháp đều từ Trung tâm vạn năng cho nó, nên bản chất nó đã có tinh khí thần. Vì thế nên khi nó trở về hội tụ và kết tinh tinh hoa, thành tựu những giá trị cao nhất của Duy ngã đại thể, thì tinh khí thần cũng có trọn đủ trong Duy ngã đại thể đó và chính nó đã được trở về hợp chiếu trong nguồn gốc của Vạn năng.
Hai câu kinh này chúng con thấy rằng: Một sự bỗ trợ chặt chẽ thống nhất và tuyệt vời, làm sáng tỏ Cửu kinh minh triết và chỉ có con đường này thì mới dẫn độ các tầng lớp trí thức, thiện trí thức đi đúng vào quỹ đạo trở về với Trung tâm vạn năng để có Tâm chủ Pháp hoa.
Chúng con rất mừng vui với những đề kinh từ nguồn ánh sáng Phật quang phát chiếu và sự phát minh tuyệt vời của Cha từ trong chân tính vô ngại của Trung tâm vạn năng đã hợp chiếu và phát sáng. Chúng con đã được chứng kiến và hưởng được nguồn ánh sáng hào quang của Phật, mà Cha đã phát chiếu, và đây là nguồn hạnh phúc cao nhất đối với chúng con. Thì đây là những đề kinh bất hủ, bất diệt và sáng mãi với thời gian. Đối với nhân loại ngày mai này người ta sẽ nương vào những đề kinh này để trở về thành tựu viên mãn chân tâm Pháp hoa.
Ngài dạy: Đề kinh này là khẩu quyết cho chính thượng hóa của Như Lai và thiết lập sự nghiệp chính pháp đại hóa trên mặt trần của thế giới Duy ngã. Đề kinh này đã phản ảnh được giá trị hệ thống và làm sáng tỏ các mạch lục trong hệ thống Cửu kinh minh triết và không thay đổi bản chất chính pháp của sự nghiệp hóa và không đảo lộn về sức mạnh của hệ thống Thống hóa. Như vậy Đề kinh này rất quan trọng. Nếu chúng ta đưa khẩu quyết Đề kinh này để bỗ trợ và thống nhất hệ thống Cửu kinh và làm cho bản chất ấy không bị thay đổi, thì hệ thống Cửu kinh được sống mãi trong muôn đời sau và không thay đổi trong muôn đời sau .
Chúng ta tự hào rằng: Chính pháp Như Lai đã khép kín và hoàn toàn vào trong lõi cội gốc của Trung tâm vạn năng. Chúng ta hoàn toàn không đi lệch với Trung tâm vạn năng để có kinh chủ về sức mạnh của sự nghiệp hóa Pháp hoa và Hoa nghiêm. Vì chỉ có Pháp hoa và Hoa nghiêm là đỉnh phát của giá trị pháp thân và thành đạt được giá trị bất biến thể đối với sự nghiệp Như Lai hóa vạn pháp. Thì tất cả những kinh quyết – khẩu quyết ấy để hiệu triệu cho sức mạnh và thống nhất trong hệ thống pháp tính, pháp thể và muôn đời chúng ta có chính pháp bằng những khẩu quyết ấy.
Nếu chúng ta đưa những khẩu quyết ấy để làm vững chãi cho nền chân lý và không thay đổi nền chân lý thì khẩu quyết ấy trở nên những công cụ sắc bén nhất của Như Lai và sự nghiệp hóa của vạn pháp mà Như Lai không bao giờ thay đổi tính Bát nhã.
.

LỤC NHẬP TRI QUANG PHÁP
LỤC THỨC ĐỊNH TUỆ TÂM
Trong thế giới nhị nguyên thì 18 giới xứ luôn có liên quan với tâm và pháp, hoặc tâm và pháp luôn có liên quan với 18 giới xứ. Nên đức từ phụ đưa ra hai câu khẩu quyết đối với tâm và pháp và đối với 18 giới xứ trên con đường tu học và tiến hóa để trở về nguồn thực. Hai câu khẩu quyết đó là: “Lục nhập tri quang pháp, lục thức định tuệ tâm”. Ta thấy hai câu này nó đối với nhau giữa tâm pháp và cũng rất tâm pháp. Nhưng tâm pháp này không phải mất chủ tính và cũng hoàn toàn không bị lực hấp dẫn của khách quan mà khiến cho chủ tính bị biến đổi.
Tâm và pháp cũng có nghĩa là trong và ngoài. Trong là trong tư tưởng, còn ngoài là ngoài vạn pháp, hoặc là ngoài lục trần của sắc – thanh – hương – vị – xúc – pháp. Như vậy, sắc – thanh – hương – vị – xúc – pháp nó là một hệ thống lập thể. Và chúng ta có 6 căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý cũng là một hệ thống. Và khi 6 căn gặp 6 trần thì có 6 thức, đó là hệ thống, là nguyên tắc và rất triệt để mà chúng ta không thể chối bỏ nó được. Nên đức Như Lai nói: hệ thống ấy là hệ thống của sự tiến lợi thanh đắc và dẫn dắt trở về nguồn. Còn một khi ta lầm nó thì nó lại trở thành giặc dữ. Vì vậy mà Như Lai đưa ra khẩu quyết là: Lục nhập tri quang pháp, lục thức định tuệ tâm. Thì đây là một chi kinh rất khoa học và có cơ cấu hệ thống rất căn bản. Nếu ta dùng hai câu này để ứng dụng vào đời sống thì hóa được 18 giới xứ, biến nó trở thành phương tiện rất tốt để hóa tâm pháp đối với con người và các loài.
Nếu lục nhập tri quang pháp ở các loài thấp hơn, thì nó vẫn tiềm dẫn trong giá trị tiến hóa của sự tập hợp tinh hoa để mà hóa, thuộc về tính ánh sáng của hệ thống tri thức và vật chất. Nghĩa của quang ở đây là sáng và cũng là sự quan tâm không buông lỏng nó. Vậy tri quang là sự thắp sáng và không buông lỏng nó.
Thế thì tất cả những gì nhập vào ta, mà ta không xác định nó thì trong và ngoài không thuộc về ánh sáng. Còn một khi ta xác nhận nó thì trong và ngoài đều là ánh sáng cả, đó là lục nhập tri quang pháp. Như vậy tất cả những thứ gì nhập vào 6 căn thì chúng ta luôn luôn phải có một chương trình tri quang pháp trong mỗi giây, mỗi phút, mỗi giờ. Đó là cửa thanh lọc tức khắc đối với giá trị xuất nhập hóa liên tục trong đời sống của 6 căn, 6 trần và 6 thức. Thì đây chính là bộ máy lọc và lọc một cách trật tự có tính quang minh chính đại của hệ thống lục nhập.
Khi nhập vào thì liền có: Lục thức định tuệ tâm, tức là 6 thức đó nó phải quy hồi trong giá trị kết tinh của tuệ tâm, chư nó không thể làm ngược đãi, hoặc khuấy động, tung hoành đối với định tuệ tâm một cách vô lý mà cuối cùng mất bản thể chân tâm.
Đối với 18 giới xứ chúng ta không thể ức chế, bịt tắt và ngắt đoạn giá trị 18 giới xứ ấy trong đời sống khi đi ngủ, vì khi yên ngủ của 18 giới xứ thì giá trị tác động của hệ thống tâm và pháp đó nó vẫn có.
Nếu chúng ta không xác định được 18 giới xứ mà cứ để nó tung hoành, thì chúng ta sẽ bị lực hấp dẫn về sức mạnh 18 giới xứ đó nó sẽ khiến ta và hoàn toàn ta không chống đỡ nổi. Vì vậy mà chúng ta phải luôn luôn đặt khẩu quyết của Lục nhập tri quang pháp. Và hoàn toàn Lục nhập tri quang pháp là một nền tảng cơ bản của giá trị hóa mà chúng ta không thả lỏng nó.
Chúng ta phải thấy rằng: luôn luôn phải đặt vấn đề tâm chủ, thì việc xuất khẩu hay nhập khẩu là quyền của người chủ. Vì tất cả những thứ hàng hóa tốt hay xấu mà muốn nhập vào và xuất ra thì đều có người chủ điều động về tính xuất nhập khẩu đó, chứ hàng hóa không thể tự đi được.
Như vậy việc xuất nhập hóa đối với vạn pháp giữa ý thức và vật chất, hay giữa ý thức và các căn nguyên cùng các vấn đề có liên quan đến căn nguyên, thì nó luôn luôn có một hệ thống chuyển động và trong đó luôn luôn có hệ thống tâm chủ. Như vậy ý thức có hệ thống tâm chủ và ngược lại tâm chủ có hệ thống ý thức. Vì biết rõ như thế nên đức Như Lai đã đưa ra những câu khẩu quyết rất quan trọng đó là: Lục nhập tri quang pháp và lục thức định tuệ tâm.
Tâm và pháp cũng có nghĩa là trong và ngoài. Thì trong và ngoài đó là sự chuyển hóa của tổng thể tinh hoa giữa siêu sắc năng hóa sắc năng, hoặc là giữa tri thức ánh sáng đối với các căn nguyên và siêu sắc căn nguyên đối với các pháp chuyển động trong hệ thống của 6 căn, 6 thức và 6 trần.
Như vậy hai câu này là nói lên tính chất thể dụng và tinh lọc bản thể. Đây là những giá trị công thức tinh lọc. Nếu không thì nhất định 6 căn, 6 trần, 6 thức đó sẽ hoạt động một cách vô định luật. Bởi khi ảo thức và vọng thức không có chủ định thì 18 giới xứ ấy sẽ tạo thành một sự nguy hiểm đối với tâm và pháp.
Đối với thế giới nhị nguyên, khi lục nhập là sinh ý thức khởi; mà ý thức khởi thì sinh ra hệ thống lục nhập. Vậy tuy nó là hai nhưng luôn luôn trở thành một cặp bộ chuyển động và không thể tách ra. Nếu chúng ta không biết thì thường là bị nó làm cho chúng ta đau khổ hơn là hạnh phúc. Vì thế mà Như Lai phóng suốt ánh sáng và chỉ rõ cho chúng ta là: Lục nhập tri quang pháp và lục thức định tuệ tâm. Nhằm để dẫn dắt của sức mạnh trong sự nghiệp hóa mà đối với đức Thích Ca Mâu Ni Ngài đặt nặng trong đời sống của tất cả các đạo tràng.
Hôm nay ta đặt vấn đề này vì hệ thống cửu kinh minh triết, vì phẩu thuật hệ thống tâm và pháp và vì những chi kinh vững chắc để chúng ta có một sự nghiệp hóa 18 giới xứ mà có được một mặt bằng tâm pháp vững chắc.
Ngài bảo Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển xác định đề kinh này.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, đề kinh Lục nhập tri quang pháp và lục thức định tuệ tâm là rất quan trọng đối với sự nghiệp tiến hóa của chúng ta. Vì trong cuộc sống hằng nhật thì các căn nguyên của chúng ta luôn nhập và xuất liên tục, bởi thế nếu chúng ta không có bộ máy tinh lọc của 18 giới xứ thì chúng ta không thể nào mà tiến hóa trong sự nghiệp vũ trụ một cách tốt đẹp được.
Như vậy chúng ta hãy dùng hai câu khẩu quyết này để tinh lọc tâm pháp mình. Nên Như Lai thường hay chăm sóc đạo tràng, hoặc là các đệ tử còn trong vòng tiến hóa thì lấy 18 giới xứ làm phương tiện cơ bản. Như vậy hai khẩu quyết này rất quan trọng đối với tất cả chúng ta trong sự nghiệp tiến hóa để đi đến sự tinh lọc thành tựu kim cương chân tâm. Hoặc là thành tựu các cấp độ trong sự nghiệp tiến hóa.
Ngài hỏi Ông Chơn Quốc Chính Thống: Nếu hai câu khẩu quyết này mà không thực hiện một cách thiết thực và tích cực, thì việc học cửu kinh có hiện thực không?
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, thực tế của Thống hóa đến với thế giới nhị nguyên là bằng hai thực thể đó là pháp quang và tâm định tuệ, đó cũng là ý chỉ của Thống hóa đến thế giới nhị nguyên.
Như vậy lấy gì để tri nhận được pháp quang và tâm định tuệ? Thì phải có 6 căn, 6 trần và 6 thức mà Như Lai gọi là 18 giới xứ. Thì đây là phương tiện để nhận được bản lai diện mục của Thống thức chân quang.
Vì nếu không có 6 trần thì lấy gì có pháp, và nếu không có 6 căn thì lấy gì để chúng ta ngộ nhập được pháp quang ấy, và nếu không có 6 thức thì làm sao kết tinh để trở về với tâm định tuệ. Như vậy hai cái trong và ngoài chẳng qua là trong thế giới nhị nguyên chúng ta tạm phân tích, chứ thật ra chủ tính uyên nguyên, hay bản lai diện mục thì nó phải đúc kết được tinh hoa của pháp và tâm ấy, thì mới trở thành chân thể uyên nguyên nhất và vượt lên tất cả mọi cảnh giới. Mà trong Bát Nhã tâm kinh đã nói: đó là bản lai diện mục mà các tổ và các đạo sư xem đó là mục tiêu tối thượng để trở về.
Như vậy con thấy rằng: 18 giới xứ là phương tiện tất yếu, để chúng ta hóa lập. Vậy trong tinh thần chuyển động và tiến hóa, thì tất nhiên chúng ta phải hóa. Nên ngôi lời đầu tiên Cha đã dạy là Thống hóa. Thống hóa từ đại thể, Thống hóa từ tiểu thể và Thống hóa từ vi thể. Và trong tạng quang minh thì đức từ phụ đã khai thị cho chúng con thấy, và nhà khoa học hôm nay người ta đã nghiên cứu và tìm ra được cái thực tại cuối cùng của vũ trụ là tạng quang minh. Vậy khi thể nhập được tạng quang minh ấy thì chúng ta mới tròn đủ được tâm và pháp.
Ngài bảo Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Hãy xác định về lục nhập tri quang pháp.
Ông Chơn Hoàng Quang Quân: Thưa Cha, lục nhập mục đích là kết tinh được tinh hoa. Thì lục nhập tri quang pháp có nghĩa là trong đời sống của duy ngã đại thể thì luôn luôn xuất nhập liên tục để kết tinh và tiến hóa. Vậy khi xuất nhập hóa chúng ta phải có tính thanh lọc, tinh hoa thì đưa vào không phải tinh hoa thì bỏ ra, đó là tri quang pháp.
Ngài dạy: chúng ta làm rõ về các căn cơ hiểu biết của lục nhập tri quang pháp: Tức con người khi có con mắt là có quyền thấy, có lỗ tai thì có quyền nghe, có lỗ mũi thì có quyền ngửi, có lỗ miệng thì có quyền ăn, có thân thì có quyền xúc chạm và có ý thì có quyền phân biệt các hệ thống pháp. Thì đó là các quyền mà đấng Thống hóa đã cho. Nhưng Ngài nói rằng: đó là các quyền mà chúng ta phải biết thực sự trân trọng về giá trị hóa đối với chu trình thượng. Thế thì đối với con mắt của chu trình thượng là khi ta nhìn những thứ biết nó không lợi, thì ta không bao giờ để tâm đến nó. Hoặc là khi nghe một lời nói không tốt lành, không có lợi thì nhất định không bao giờ để tâm nhớ đến nó; Thì chỗ này là lục nhập tri quang pháp. Tức các pháp thuộc về ánh sáng thì chúng ta có quyền tri nó, có quyền thấy nó, biết nó và có quyền tinh lọc nó và nhập vào để giành lấy những giá trị quý báu đó để nuôi dưỡng tâm pháp. Còn các pháp không thuộc về ánh sáng thì chúng ta có quyền lọc và đào thải nó.
Như vậy, lục nhập tri quang pháp là nhập vào trong 6 căn chúng ta phải có một hệ thống tinh lọc, và để thể hiện cái nhập một cách đúng đắn thì câu 2 là lục thức định tuệ tâm.
Ngài hỏi Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: khi có định tuệ tâm thì lục thức có theo đó mà được ổn định không?
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, chúng con đã học biết rằng từ gốc mới sinh ra cành ngọn. Chẳng hạn như có pháp tính, thì từ pháp tính đó mới sinh ra tính thấy, từ tính thấy mới sinh ra nhãn căn, mà có nhãn căn thì phải có sắc trần và có nhãn thức. Như vậy từ nhãn căn tương tác với sắc trần thì lúc đó nó liền có ý thức của con mắt, được gọi là nhãn thức, và các căn khác cũng đều như vậy nên gọi là lục nhập. Vậy khi lục nhập thì cũng liền có lục thức. Thế thì một khi mà chúng ta thực hiện được lục nhập tri quang pháp, thì chúng ta cũng có ngay lục thức định tuệ tâm liền, vì hai câu này không thể nào tách rời ra. Nếu có lục nhập mà không phải là tri quang pháp, thì hoàn toàn lục thức định tuệ tâm cũng không có. Cho nên lục thức định tuệ tâm là nói đến định chiếu quang minh, là nói đến sự thống nhất của 6 căn và 6 thức đã trở về trong chân tâm, và chân tâm hoàn toàn đã điều ngự 18 giới xứ, nên mới có định tuệ tâm.
Định tuệ tâm ở đây là giá trị định chiếu quang minh, biết rõ vật chất là vô thường nên trở về đắc chân tâm chân thường để điều ngự tất cả vật chất. Thế thì 18 giới xứ này là hoàn toàn thuộc về bên ngoài, còn định tuệ tâm là thuộc về chân tâm, là chủ thể và điều ngự 18 giới xứ.
Như vậy, lục thức định tuệ tâm là nói đến sự thống nhất giữa ý thức và tâm là một, nên ý thức lúc bấy giờ đã trở thành: ứng tác sở trí. Tức là một trí tuệ tròn đủ mà không còn bị lầm lẫn một thứ gì nữa cả, nên trí ấy luôn luôn quán chiếu, phát sáng và kết tinh tinh hoa một cách chính xác nên đức Phật gọi đó là diệu quán sát trí. Thì tất nhiên bình đẳng tánh trí từ đó cũng được hiện ra, có nghĩa là tất cả vạn pháp không có cái xấu và cái tốt, mà vạn pháp là luôn có tính bình đẳng trong giá trị hạt tâm, bình đẳng trong tính đặc năng và bình đẳng trong giá trị cơ cấu hệ thống mà Thống hóa đã hình thành.
Cũng như trước đây Cha đã dạy chúng con: Tính ánh sáng tự chiếu vô biên và thể hoành tác sinh diệt tương tục vô tận. Như vậy tất cả những phần lập thể sinh diệt tương tục vô tận ấy là luôn luôn không tách rời tính ánh sáng tự chiếu vô biên để được sinh diệt và phát triển. Cho nên chúng con trở về với tính ánh sáng của chân tâm, tức là trở về với gốc, thì các pháp sinh diệt của 18 giới xứ kia cũng theo đó mà thăng hoa.
Như vậy lục thức định tuệ tâm là trở về nguồn gốc của cái thấy, cái nghe, cái ngửi… để không còn dính mắc trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nữa mà trở lại ứng dụng 6 trần ấy để mà hóa tâm pháp và thành tựu giá trị của Bát nhã tâm kinh.
Chúng con đã giác ngộ rằng: nếu trở về chỗ lục nhập tri quang pháp và lục thức định tuệ tâm thì chúng con cũng có ngay: “Thất phật diệt tội chơn ngôn” trong chính bản thân mình. Vì sao? Vì mắt ấy không còn nhiễm sắc trần, mà lại định chiếu quang minh, kết tinh tinh hoa trong đời sống của tính thấy đó. Như vậy tất cả những sắc màu, những âm thanh, những vị ngọt… nó không còn quyến rũ được chúng con nữa, mà nó lại trở thành những phương tiện kết tinh tinh hoa để trở về trong nguồn gốc tổng hàm hoa mà vũ trụ đã cho tròn đủ giá trị đó trong chân tính, thì chúng con trở về chân tính để làm chủ toàn bộ những thứ vật thể đó.
Biết rất rõ vật chất là vô thường thì những sắc màu, âm thanh kia cũng là vô thường cả. Hôm nay nó đep, ngày mai nó xấu. Như một đóa hoa sáng nở chiều tàn, vì thế nên chúng con phải trở về chỗ lục nhập tri quang pháp, tức thấy được nguồn gốc chính của nó là chân thường, chân thường đó nó không thuộc về lập thể mà thuộc về phần tính. Cho nên chúng con trở về phần tính để làm chủ các vật thể đó. Đó là tri quang pháp, mà có tri quang pháp được như vậy thì mới có lục thức định tuệ tâm. Vì tri quang pháp không thể tách rời định tuệ tâm mà có. Vậy 2 câu này nó là một mà không thể tách rời ra.
Ngài dạy: đúng vậy! Hai câu khẩu quyết này nó không tách rời ra và hoàn toàn nó không thể biến đổi tính tròn đủ của hai câu này. Lục nhập tri quang pháp là nhân, thì lục thức định tuệ tâm là quả. Là kết quả của sự tinh lọc từ lục nhập đó mà có định tuệ tâm.
Lục thức là luôn luôn chuyển động trong 6 căn và 6 trần, nhưng sự chuyển động ấy ta không để nó chuyển động lung tung, mà chuyển động có quy trình, có sự thanh sát của trí huệ. Tức chúng ta cho nó nhập bằng một tiêu đề ánh sáng, chứ không phải tiêu đề của quặng cấu bởi những lực hấp dẫn tham muốn mơ hồ. Khi chúng ta có tri quang pháp thì cũng có nghĩa là ta có một sự sàng lọc rất vững chắc, nên 6 trần không còn năng lực để quyến rũ chúng ta được. Một khi có tri quang pháp là có sự tập hợp của quang minh, chính đại trong hệ thống lục nhập đó, nên chúng ta có lục thức định tuệ tâm. Mà khi chúng ta có lục thức định tuệ tâm rồi thì chúng ta hoàn toàn được ổn định về 6 căn và ổn định 18 giới xứ. 18 giới xứ không còn hấp dẫn lôi cuốn chúng ta và nó cũng không tạo thành những vòng xoáy để làm đảo lộn tâm và pháp. Như vậy tâm và pháp chúng ta hoàn toàn đã ra khỏi những vòng xoáy, những áp lực của 18 giới xứ và chúng ta sẽ hành dụng 18 giới xứ bằng trí huệ quang minh của định tuệ tâm. Và hành dụng bằng sự thanh lọc, thanh sát về tri quang của hệ thống lục nhập.
Khi giác ngộ được đề kinh này thì chúng ta sẽ không còn đổ thừa là tại con mắt, tại lỗ tai; hay là đổ thừa tại sắc trần, tại thanh trần gì nữa, vì đã thấy rõ rằng:18 giới xứ là Như Lai cho để chúng ta xây dựng một sự nghiệp hóa và thanh lọc kết tinh được thành phẩm cuối cùng đó là chân tâm kim cương. Như vậy hai câu khẩu quyết này là đề tài kinh điển của 18 giới xứ và là mục đích tiêu chí định hướng cho sự nghiệp hóa đối với tâm và pháp. Đây là 2 câu mà Đức Như Lai đã rút từ tất cả những kinh điển nội lý lập hóa quyết định giá trị khẩu quyết về các hệ thống kinh khẩu quyết trong mặt đại tạng và thực hiện một chi kinh lớn nhất để có một giá trị hóa đối với các hành giả và tôn giả.
Ông Chơn Quốc Chính Thống xin phát biểu: Thưa Cha, 2 câu khẩu quyết này như chìa khóa đích thực và siêu năng để khai mở kho tàng cửu kinh minh triết. Nếu không có khẩu quyết phương ngôn này thì chúng con sẽ lờ mờ, và có thể ngộ nhận cho rằng: chúng con đã có cửu kinh minh triết, nhưng thật ra chúng con sống bằng ảo vọng.
Như vậy nếu không có lục nhập thì không thể tri quang pháp trong tinh thần tiến hóa khách quan nhất định, và nếu không có tri quang pháp thì tất nhiên không có lục thức định tuệ tâm. Nếu chúng con không ngộ nhập được chìa khóa này thì hằng ngày sống bằng lục nhập mê tướng trần, thì tất nhiên chúng con sẽ dẫn đến bước thứ 2 là lục thức loạn vọng tâm.
Như vậy, nếu chúng con giác ngộ thì thực hiện được giá trị của lục nhập tri quang pháp và lục thức định tuệ tâm. Và nếu chúng con mê thì sẽ đi vào con đường thứ hai là lục nhập mê tướng trần và lục thức loạn vọng tâm.
Ngài dạy: đúng vậy! Hôm nay trường công luật cửu kinh này sẽ đào tạo chúng ta trở thành những kỹ sư tâm linh và kỹ sư tâm linh là một trong những kỹ sư chủ tính của giá trị hóa vạn pháp. Trong tất cả các kỹ sư chuyên môn của hệ thống vật lý về mặt bằng hóa, thì kỹ sư tâm linh hoặc là các chuyên đề về tâm linh thì cửu kinh vẫn là chúa của hệ thống tâm linh.
Nếu chúng ta học và thể nhập cửu kinh thì sẽ trở thành người có tri thức rất uyên bác và vĩ đại. Từ chỗ Đức Phật tổ Thích ca dạy: “Ngưu quốc sắc lữ thành đạt” là chính Ngài đưa Trâu vào đời để thực hiện công trình phá hoang lập nguyên. Và Phật tổ Ngài dẫn dắt con Trâu ấy đi rất nhiều đại kiếp và luôn luôn ở bên chân Ngài. Và sự trao truyền sự nghiệp này là một sự thụ lý vĩ đại nhất của Ngài trong đời sống về sự nghiệp đại hóa.
Thì ngày hôm nay Cha đến thế gian và đản sinh vào đất nước hình thái dịch của người Việt Nam là một trong những tiêu chí cực kỳ lớn đối với hệ thống cửu kinh minh triết, mà Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã truyền nhiệm về sự nghiệp này cho Cha.
Vậy cửu kinh là thực tướng sẽ đi vào thế giới mới của sự nghiệp phá hoang lập nguyên và tân canh đại hóa. Đó là cày vỡ mọi tâm địa hoang hóa về ý thức bất tương ưng của chúng sinh. Vì vậy mà cửu kinh là rất hiện đại cho nhân loại hôm nay và mãi mãi về sau.


LY THOÁT LẬP THỂ – TỊCH CHIẾU CHÂN TÂM THĂNG HOA CHÍNH VỊ
Ly thoát lập thể không có nghĩa là phải chết đi, mà ly thoát lập thể là đánh sập tất cả mọi ràng buộc của lập thể. Về ràng buộc ra có thể đưa ra hàng trăm ngàn sự ràng buộc của lập thể. Nhưng thường thì sự ràng buộc ấy nó có hữu lý và vô lý. Ràng buộc hữu lý là ràng buộc do lòng tham muốn. Một khi phát sinh lòng tham muốn và không có nhân nghĩa thì đó gọi là ràng buộc bất tương ưng. Mà ràng buộc bất tương ưng thì khó bề mà ly thoát lập thể.
Để đánh đổ một hệ thống lập thể có nhiều nặng nề và thậm chí là nó ấu trỉ, nó nô dịch và khốn khổ trong đó. Như vậy một khi chúng ta chưa quyết định được vấn đề đó thì chúng ta hoàn toàn không có chân tâm.
Một khi mà chúng ta thoát ly được lập thể thì mới tịch chiếu chân tâm. Nghĩa tịch chiếu ở đây là không biến đổi giá trị định mà ánh sáng ấy vẫn chói chan trước thềm nhị nguyên. Tức chúng ta không còn sống trong vọng mà sống trong quang minh của tâm pháp.
Thường thì chúng ta ở trong trạng thái nhị thừa với một tỉ lệ rất lớn mang tính đại trà trong quần chúng, trong đại thể, hoặc mang tính đại trà trong pháp hội, trong đạo tràng. Vì hôm nay chúng ta động ngày mai chúng ta định và động định ấy luôn luôn tương tục phát sinh trong đời sống của tâm pháp, thì đó không phải là nhất thừa. Nhưng khi chúng ta thực hiện được công trình tịch chiếu chân tâm thì đã ra khỏi nhị thừa. Có nghĩa là ngay trong đời sống lập thể mà chúng ta có đó thì Như Lai nói: Ông vẫn có đời sống nhất thừa trong hệ thống lập thể ấy, vì ông đã ly thoát được lập thể nên ông đã có một đời sống nhất thừa trong bản chất quang minh của tịch chiếu chân tâm.
Tịch chiếu chân tâm không phải đợi đến ngày chết mới có, mà ngay chúng ta đang sống nếu đạt được tịch chiếu chân tâm, thì chúng ta đã ra khỏi nhị thừa.
Như vậy các vị từ A na hàm trở lên thì người ta đã xây dựng công trình tịch chiếu chân tâm. Tức các vị ấy ăn, ở, ngủ, nghỉ đều sống hoạt động trong nhà pháp hoa và chưa bao giờ ra khỏi nhà pháp hoa, nên có được trạng thái của nhất thừa. Tức là tất cả đều ở trong hệ thống của kinh điển.
Như vậy chuyện thăng hoa chính vị là hoàn toàn không có xa vời, vì chính bản chất chân tâm đó là nền tảng của thăng hoa chính vị. Tùy theo mức độ công phu và thực hiện giá trị thành tựu đó được bao nhiêu thì sẽ thăng hoa được bấy nhiêu. Có thể thành tựu chính vị A na hàm, A la hán, Bồ Tát là do những công năng vạn hạnh, do những giá trị của ngũ minh và thiết lập có tính bền vững trong hệ thống ngũ minh đó mà có được chân tâm tịch chiếu thống nhất.
Như vậy chúng ta phải phá sập mọi sự ràng buộc một cách triệt để từ gốc để nó không phát sinh được nữa. Đó là phát sinh mọi tư tưởng ý niệm tham muốn thủ hữu, cố chấp về mặt lập thể đều bị ràng buộc cả.
Thế thì ly thoát lập thể – tịch chiếu chân tâm – thăng hoa chính vị. Thì đây là khẩu quyết kinh điển của chi kinh là nâng đỡ giá trị chuyển động và hình thành giá trị cửu kinh. Chiếm lĩnh được bản chất cửu kinh, chân hành cửu kinh và thành đắc cửu kinh một cách triệt để đối với bài này.
Ngài bảo Ông Chơn Quốc Chính Thống luận về đề kinh này
Ông Chơn Quốc Chính Thống: kính thưa Đức phụ nguyên cùng toàn thể. Hôm nay Cha đưa ra đề kinh này là nhằm đưa chúng con từng bước trở về ngộ nhập Phật tính chân tâm. Thì đây là đề tài thượng thừa và tối đại thượng thừa. Thường thì con người ta chấp ly thoát lập thể là phải bỏ thân xác này đi, nhưng thực ra diễn trạng trong đời sống nhị nguyên thì chúng ta có thể ly thoát lập thể khi chúng ta còn ở trên mặt trạng nhị nguyên này.
Ngài dạy, đúng vậy! Đây là diệu nghĩa ly thoát lập thể chứ không phải xơ cứng chấp tướng hình thái ly thoát lập thể. Nên Như Lai nói: nếu ngươi rời bỏ hệ thống lập thể hữu vi, nhưng mà diệu nghĩa của ly thoát lập thể về tri thức hiểu biết chưa ly thoát thì đồng nghĩa là không. Nên ngài mới nói: Ngũ uẩn giai không nhưng chân tâm giai hữu. Tức là cái nào không, cái nào có phải được rõ ràng để không lẫn lộn giữa cái không và cái có mà tạo thành tối tăm hỗn độn.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa Cha, nếu phân tích về thực lý thì đây là tinh thần tối thượng của bộ kinh kim cương được đúc kết bằng giá trị của Bát nhã tâm kinh. Như vậy con hiểu ngũ uẩn giai không ở đây là do ý thức lầm lẫn chấp trước về các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nên ý thức bị kẹt trong ngũ uẩn và kẹt trong lục trần.
Ngài dạy: chủ lý của nó là kẹt trong ý thức giới và chính ý thức giới đó một khi nó còn nguyên, chưa giác ngộ thì sắc, thọ, tưởng, hành vẫn còn nguyên, nhưng khi ý thức giới đã giác ngộ thì sắc, thọ, tưởng, hành được chuyển qua tổng thể tinh hoa. Tức là sắc trở về siêu sắc, thọ trở về siêu thọ, tưởng trở về siêu tưởng, hành trở về siêu hành và thức trở về kết tinh kim cương chân tâm. Như vậy nó không còn thô lậu, trơ trọi và khô cằn như sa mạc mà không trồng thứ gì lên nó được. Một khi chúng ta trở về chân tâm là sự phì nhiêu hóa của các dinh dưỡng và tôn vinh những giá trị trồng mọc khắp cả tam thiên và xây dựng một chân tâm trải rộng cả thượng trung hạ mà không bị kẹt ở tầng nào, thì lúc bấy giờ mới thấy được sự giải thoát toàn diện của nó.
Ông Chơn Quốc Chính Thống nói tiếp: Thưa Cha trong chính văn kim cương Bát nhã đức từ phụ có khai thị rằng: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Thì tâm này là ý thức phân biệt đối đãi chứ không phải là chân tâm. Vì chúng ta sống trong ý thức giới đối đãi nên lấy sắc trần làm thực tế. Nhưng sắc trần ấy chẳng qua chỉ là phương tiện hoá để trở về thực tướng siêu sắc trần. Bởi vì siêu sắc trần là trở về tạng quang minh mà các nhà khoa học người ta đã hình dung được, cũng như các tổ và Như Lai đã khai thị về chân tâm.
Ngài dạy: nói về lập thể là nói chung trong tổng thể các hệ thống pháp. Tức là lập thể hình đồ giá trị hệ thống và có lập thể mới có hệ thống. Nên nói các pháp tướng là nói về cái bóng của lập thể.
Bây giờ ta nói về hệ thống lập thể là cái hình trụ, nhưng đó cũng dễ dẫn đến một sự lầm lẫn ghê gớm và có thể biến đổi ghê gớm của hình trụ về chân tâm. Đó là kẹt trong tất cả những giá trị quang minh chính đại của tư tưởng hoá về mặt lập thể. Và chúng ta kẹt về lập thể trong quang minh chính đại của tư tưởng đó.
Ông Chơn Quốc Chính Thống: Thưa cha, Cha đã đi sâu và khai thị cho chúng con giá trị về ngũ uẩn giai không. Thực ra các hệ thống lập thể hoàn toàn nó chỉ là cái bóng của chân tâm chứ không phải là thực tướng của chân tâm. Và chúng ta đang kẹt bởi ngũ uẩn. Và đỉnh cao đó là uẩn thức. Chính uẩn thức đó nó đã chủ động không cho chúng ta trở về với chân tâm, cứ nghĩ rằng ngồi thiền là chúng ta định trở về chân tâm, nhưng thật ra vẫn còn nằm trong lậu thức của nhị thừa.
Như vậy khi ta đã nhận ra những thứ đó là huyễn, là giặc thì tự nhiên chân tâm nó đến, chứ chúng ta không thể đi tìm chân tâm được.
Ngài dạy: đi tìm chân tâm là không bao giờ có, mà phải giải quyết cái thực thể của chân tâm. Vì chân tâm đã ở với chúng ta rồi nhưng nó còn bị che khuất, thì chúng ta phải làm những chuyện cần làm để chân tâm hiển lộ ra.
Như vậy những thứ vật chất quý nhất ngoài tâm thì cũng lấy cái tâm đi tìm. Ít nhất là hạt tâm lý tính sử dụng não bộ thần kinh đi tìm vàng. Thì chuyện đi tìm vàng cũng là chuyện của tâm, chứ không phải chuyện của con mắt. Mà con mắt là tiếp thị giá trị cơ động và ứng xử giá trị máy móc. Thế thì con mắt không phải là chủ thể của việc đi tìm vàng, mà là cái tâm hiểu biết mới quyết định được tất cả mọi vấn đề đó. Nếu tìm đúng cũng cái tâm quyết định, hoặc tìm sai cũng cái tâm quyết định. Nếu tìm đúng thì nó được hưởng thụ mọi cái đúng ấy, hoặc nếu tìm sai thì nó phải chịu mọi cái sai ấy. Nó được độc lập như vậy và chính sự độc lập đó cũng là cái quyền hạn tối cao mà Thống hoá đã cho tất cả chúng ta và không bao giờ lấy lại, đó là đặc trưng giá trị độc lập mà chúng ta hoàn toàn đã có.
Ngài bảo ông Chơn Ân Đại Hành luận bày
Ông Chơn Ân Đại Hành: Thưa Cha, con hiểu rằng ly thoát lập thể tức là chúng ta không có tính kiến chấp và cố chấp về lập thể khi lập thể đó đã mất đi, làm được như vậy là ly thoát lập thể, thì thân tâm sẽ được ổn định và tâm pháp được thăng hoa.
Ngài dạy: Như vậy ly thoát lập thể không có nghĩa là đánh đổ và huỷ hoại lập thể. Mà diệu nghĩa của ly thoát là không cho dính mắc nặng nề về lập thể. Nên Đức Phật nói: ngươi có quyền ăn, nhưng không có quyền chấp. Nếu ngươi ăn mà không chấp ngon hoặc dở và không đòi hỏi việc ăn trước, ăn sau thì việc ăn ấy trở nên chính pháp.
Còn nếu ai đó cho rằng: tôi không ăn cơm, không uống nước là ly thoát, thì người đó không có ly thoát vì còn cố chấp ly thoát… Mà cố chấp ly thoát là đồng nghĩa với không ly thoát.
Như vậy hãy sống và sống tốt với tất cả hệ thống lập thể, nhưng không kiến chấp các hệ thống lập thể và những thứ lập thể vô nghĩa bất nhân chúng ta không bao giờ sử dụng nó. Thì nhất định sẽ được trở về chỗ tịch chiếu chân tâm và thăng hoa chính vị. Đó là bản nguyên kinh điển tất yếu về giá trị diệu nghĩa của ly thoát lập thể và đạt được chỗ tối thượng chính đẳng chính giác mà Như Lai đã thường vận dụng.
Ngài bảo ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói về diệu nghĩa ly thoát lập thể.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ: Thưa Cha, thường thì trong đời sống duy ngã đại thể còn kẹt ở chỗ chấp pháp và chấp ngã, vì thế mà hôm nay Cha đã khai thị đề kinh này để chúng con trở về chỗ cốt lõi của Bát nhã tâm kinh.
Như vậy muốn trở về chỗ cốt lõi này thì chúng con phải ly thoát lập thể. Chúng con biết nhân bản duy ngã đại thể là đại diện và cũng là nói lên giá trị tổng hàm hoa của vũ trụ trung tâm vạn năng. Như trước đây Cha đã dạy rằng: “pháp tính sinh ra pháp thể”, thế thì pháp tính là cái gốc, còn pháp thể là cái ngọn. Vì thế cho nên thân thể chúng ta đây cũng ví như cái bóng và tất cả những hệ thống lập thể nó cũng như thế. Nên Ngài mới dạy rằng: “các con hãy lìa bóng để trở về với hình” và thậm chí khi trở về với hình rồi thì Ngài lại dạy tiếp rằng: “các con hãy ly thoát cái hình đó” tức là dứt bỏ và không còn một sự dính mắc nào đối với các hệ thống lập thể thì các con mới trở về được với cái tánh. Như vậy nghĩa của ly thoát ở đây là không còn một sự ràng buộc nào, một sự chấp gút nào trong lập thể đó, chứ hoàn toàn không phải chúng ta bỏ lập thể ấy. Vậy chỉ có con đường ly thoát lập thể đó thì chúng ta mới có ánh sáng tịch chiếu chân tâm. Như vậy tịch chiếu ở đây không nghĩa là phải đi tìm kiếm nó, mà chỉ cần chúng ta ly thoát được lập thể một cách rốt ráo thì tịch chiếu chân tâm tự nó hiện ra.
Như vậy chúng con phải đi trên con đường tu chính, công phu tinh lọc bản thể, loại trừ bốn tướng nhị nguyên, loại trừ chấp pháp, chấp ngã. Và con đường đó sẽ đưa chúng ta đến chánh niệm, từ đó mới có chánh định thì tịch chiếu chân tâm dần dần sẽ hiện ra.
Ngài dạy: Nếu ta có lập thể mà ta sống hoàn toàn không còn kẹt trong lập thể đó, thì lúc bấy giờ tịch chiếu chân tâm mới được hiện ra. Đức Phật nói: phát nguồn mọi vọng trước về ý thức đối đãi phân biệt cũng từ lập thể của ngũ ấm mà ra. Thế thì ly thoát là cắt đứt mọi vọng niệm do liên quan đến 5 ấm, sắc – thọ – tưởng – hành – thức. Do những sự tham trước của những hình thái, sắc thái đó mà chúng ta luôn luôn bị nghiêng ngã trên quy trình này.
Ông Chơn Ngọc Biện Hộ nói tiếp: Thưa Cha, như vậy chúng con phải quay về bên trong của cái biết, nó thuộc về siêu thể, để làm chủ về lập thể. Thí dụ như làm chủ về 6 căn của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, ý… để không còn đối đãi phân biệt trong 6 trần của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và hoàn toàn không còn kẹt trong các hệ thống lập thể ấy thì mới có thực tướng của chân tâm và thăng hoa chính vị. Đây là một đề kinh rất quan trọng và rất biện chứng pháp. Để chúng con thấy được hệ thống lập thể là cần thiết, nhưng nó chỉ là phương tiện hóa để hạt tâm lý tính trở về thành tựu giá trị thực tướng của chân tâm.
Ngài dạy: xác định quay về là quay về trong trạng thái thống nhất của tịch chiếu quang minh. Nếu quay về mà chỉ có tịch mà không có chiếu. Thì Đức Phật nói: kìa chúng đang trốn chạy lập thể và chúng đi vào ngõ cụt của tối tăm. Vì chúng quay về với tịch cố chấp, thì tịch đó của tối tăm, vì chưa phát ra sự chói lọi của tri thức ánh sáng quang minh từ kinh điển ấy, thì tịch đó Đức Phật chưa chấp nhận. Như vậy tịch là phải chiếu thì mới có chân tâm. Hoặc nếu chiếu mà không tịch, thì chiếu đó đã mất bản địa bất biến đổi của giá trị chân tâm, thì chiếu đó vẫn là vọng mà thôi. Ở đây xác định tịch chiếu chân tâm là không còn vọng trong đó vì luôn luôn kiên định chỗ bất biến thể của giá trị tịch và phát chiếu. Như vậy là chúng đã làm được giá trị mặt trời của vũ trụ quang và thể hiện giá trị chủ thể cho các hành tinh quay theo nó.
Như ta đã học “Thiền tinh quang nhật chiếu” là ở đây. Vì thiền tinh quang nhật chiếu là mặt trời hoàn toàn không dính mắc một chút gì lập thể mà vẫn quang minh với hệ thống lập thể và ổn định hệ thống lập thể một cách triệt để, để các lập thể được sống và chuyển động trong hệ thống ánh sáng ấy. Mà ánh sáng ấy vẫn đương nhiên là không giới hạn.
Ngài bảo Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: nói về giá trị kết tinh của bài này.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển: Thưa Cha, đây là một chi kinh rất quan trọng trong sự nghiệp tu tiến của nhân bản đại thể, vì thường là chúng ta ở trong thế giới nhị nguyên là cái đọt của trung tâm, đa phương hóa đa màu, hay bị ràng buộc tất cả các pháp tướng và khó ly thoát được. Vì thế mà chân lý Phật ra đời đến nay, thì sự thành tựu để làm sáng tỏ về đạo tràng của Như Lai vẫn chưa có gì là vinh quang sáng lạn.
Ngài dạy: hầu hết chúng sinh chỉ nằm trong khung tín ngưỡng mà chưa thể hiện được cốt lõi sự sống lập pháp, mà chúng ta muốn thể hiện được cốt lõi của sự sống lập pháp thì phải đúng kinh điển này, còn nếu không thì bị tà thuyết. Vì nó dẫn chúng ta đi vào biên bìa của những biên kiến, tà kiến. Bởi những sự tham đắm hệ thống lập thể ghê gớm nên đã hình thành những giá trị biên kiến và tà kiến rộng lớn trong thế gian giải, nên đã làm cho thế gian của nhân loại khổ đau.
Như vậy khi chúng ta giác ngộ là phải giải quyết ngay trọng tâm của ly thoát lập thể, để chúng ta mới đạt chứng được giá trị tịch chiếu chân tâm và thăng hoa chính vị. Thế thì thăng hoa chính vị là một thực tướng rạng ngời khắp cả vũ trụ và có thể đại diện hàng trăm triệu mặt trời trên thái dương hệ và không bao giờ đánh sụp chân tính ánh sáng đó. Đó là sự trường viễn bao la mênh mông vô tận mà không bao giờ biến đổi. Thì đó là cái quý nhất của vũ trụ này mà ít người biết đến, thì hôm nay chúng ta phải dẫn độ chúng sinh đi vào sự nghiệp cửu kinh minh triết và thành đạt được giá trị chân tâm đó, thì đồng nghĩa chúng ta mới tồn tại với trung tâm vạn năng.
Ông Chơn Thăng Ấn Chuyển nói tiếp: Thưa Cha, cửu kinh của Cha ra đời trong thế kỷ 21 là điều rất quan trọng và làm sáng tỏ tất cả các kinh của Đức Từ phụ đã thuyết. Vì hệ thống cửu kinh sẽ đi sâu vào trong thực thể đời sống của tất cả mọi tầng lớp trong xã hội. Chính đây là thực tế làm cho người nhỏ nhất cũng được thắp sáng ngọn đèn nhỏ nhất của mình. Cho đến người trung trí, đại trí cũng được thắp sáng lên quả vị của mình.
Như vậy cửu kinh sẽ làm cho chúng ta thấy rõ từng tế bào trong đời sống từ hữu vi cho đến siêu vi. Mà siêu vi cao nhất đó là ý thức và chân tâm của chúng ta. Tức là làm sáng tỏ về vật thể cho đến tâm thể. Chính đó là s